CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI 1.1 Những vấn đề lý luận về hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội 1.1 Khái quát chung về hình phạt 1.1 Khái niệm hình phạt ¨ Định nghĩa hình phạt Hình phạt là một hình thức chủ yếu của TNHS, là một trong những chế định cơ bản của luật hình sự, để định nghĩa chính xác khái niệm của hình phạt cần đặt vào mối quan hệ giữa Nhà nước - Tội phạm – Hình phạt. Khi có tội phạm xuất hiện Nhà nước sẽ quy định những biện pháp cưỡng chế để trừng trị, răn đe và phòng ngừa người phạm tội. Những biện pháp này chính là hình phạt. Theo định nghĩa của Từ điển Tiếng Việt, hình phạt là “hình thức trừng trị người phạm tội phải chịu”.1 Còn theo định nghĩa của Từ điển Luật học, hình phạt được hiểu là “biện pháp cưỡng chế do nhà nước quy định trong luật hình sự, đã được toà án áp dụng cho người đã thực hiện tội phạm”.2 Theo quy định tại Điều 30 của Bộ luật Hình sự hiện hành, hình phạt được định nghĩa là “biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước được quy định trong Bộ luật này, do Tòa án quyết định áp dụng đối với người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người, pháp nhân thương mại đó”.
¨ Đặc điểm của hình phạt Dựa theo khái niệm được quy định ở Bộ luật Hình sự hiện hành, hình phạt có bốn đặc điểm sau: Một là, hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước. Hình phạt là công cụ của Nhà nước sử dụng để phòng chống tội phạm, bảo vệ lợi ích hợp pháp của công dân và lợi ích của Nhà nước. Hình phạt mang tính cưỡng chế nghiêm khắc nhất xuất phát từ mối quan hệ giữa tính nguy hiểm cho xã hội của vi phạm pháp luật và tính nghiêm khắc của biện pháp cưỡng chế cần áp dụng đối với hành vi phạm tội. Tội phạm là hành vi của người phạm tội mang đến một mức độ nguy hiểm nhất định cho xã hội vì thế Nhà nước cần phải có những biện pháp nghiêm khắc tương ứng để phòng ngừa, ngăn 1 Hoàng Phê (1988), Từ điển Tiếng Việt, NXB.
Từ điển Bách Khoa, Hà Nội. 2 Bộ Tư Pháp – Việc Khoa học Pháp lý (2016), Từ điển Luật học, NXB. Từ điển Bách Khoa. 7 chặn thậm chí là loại bỏ người phạm tội khỏi xã hội.
Chính tính nghiêm khắc cao mới tạo nên sự răn đe của hình phạt so với các loại biện pháp khác. Một cá nhân phạm tội Toà án thể bị áp dụng các hình phạt khác nhau từ nhẹ đến nặng như cảnh cáo, phạt tiền, hay bị áp dụng một số hình phạt hạn chế quyền tự do như cải tạo không giam giữ, trục xuất, tù có thời hạn, tù chung thân, và nghiêm khắc nhất đó là hình phạt tước bỏ quyền được sống của công dân - tử hình. Khi một pháp nhân thương mại phạm tội có thể bị phạt tiền, bị đình chỉ hoạt động có thời hạn hay thậm chí là đình chỉ hoạt động vĩnh viễn. Ngoài các hình phạt chính, tội phạm có thể chịu thêm các hình phạt bổ sung theo quy định của pháp luật.
Chính tính chất có thể hạn chế hoặc tước bỏ các quyền nhân thân, quyền tự do, quyền được sống của tội phạm đã hình thành nên đặc điểm về tính cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước. Hai là, hình phạt là biện pháp cưỡng chế được quy định trong Bộ luật hình sự. Đặc điểm này xuất phát từ tính trừng trị của hình phạt, vì mang tính trừng trị nghiêm khắc nhất trong hệ thống hình phạt nên việc áp dụng hình phạt sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích của người bị kết án. Chính vì vậy Nhà nước cần quy định các hình phạt trong BLHS để đảm bảo việc áp dụng hình phạt với cá nhân và pháp nhân thương mại phạm tội đúng với những chỉ định chặt chẽ của pháp luật, tránh sự lạm quyền gây thiệt hại đến lợi ích chính đáng của người phạm tội.
Bên cạnh đó việc quy định cụ thể, rõ ràng là một sự bảo đảm cho hình phạt phải có mức độ nghiêm khắc vừa đủ để thực hiện chức năng là công cụ quyền lực Nhà nước trong đấu tranh phòng chống tội phạm. Ngoài ra việc quy định trong BLHS thể hiện dấu hiệu hình thức của hình phạt, cho phép phân biệt hình phạt với những biện pháp khác của Nhà nước. Hình phạt được quy định ở cả Phần chung và Phần các tội phạm. Đối với Phần chung, BLHS quy định những vấn đề mang tính nguyên tắc khái quát, nguyên tắc chung liên quan đến hình phạt như khái niệm hình phạt, mục đích hình phạt, hệ thống hình phạt, cụ thể: các hình phạt áp dụng đối với người phạm tội (Điều 32 BLHS 2015), hình phạt đối với pháp nhân thương mại (Điều 33 BLHS 2015), quy định cụ thể về hình phạt Cảnh cáo (Điều 34 BLHS năm 2015), Phạt tiền (Điều 35 BLHS năm 2015), Cải tạo không giam giữ (Điều 36 BLHS năm 2015), Trục xuất (Điều 37 BLHS năm 2015), Tù có thời hạn (Điều 38 BLHS năm 2015), Tù chung thân (Điều 39 BLHS năm 2015), Tử hình (Điều 40 BLHS năm 2015), Cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định (Điều 41 BLHS năm 2015), Cấm cư trú (Điều 42 BLHS năm 2015), Quản chế (Điều 43 BLHS năm 2015), Tước một số quyền công dân (Điều 44 BLHS năm 2015), Tịch thu tài sản (Điều 45 BLHS năm 2015), căn cứ quyết định hình phạt (Điều 50, Điều 83 BLHS 2015).
Đối với Phần các tội phạm, BLHS đi sâu vào quy định về loại và mức hình phạt đối với các tội phạm cụ thể dưới hình thức chế tài. Để áp dụng hình phạt thì tội phạm phải thoả mãn đủ bốn yếu tố cấu thành tội phạm: khách thể, chủ thể, mặt khách 8 quan, mặt chủ quan khung hình phạt, từ đó đưa ra mức hình phạt của từng loại tội phạm cụ thể. Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội được luật Hình sự bảo vệ bị tội phạm xâm phạm hoặc đe doạ xâm phạm gây ra các hậu quả nguy hiểm cho xã hội. Chủ thể của tội phạm là cá nhân có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại có những điều kiện nhất định đã thực hiện hành vi xâm phạm đến khách thể của tội phạm.
Mặt khách quan là những biểu hiện bên ngoài của tội phạm bao gồm những biểu hiện của tội phạm diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài thế giới khách quan. Mặt khách quan phải thoả đủ ba điều kiện: hành vi khách quan, hậu quả, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi nguy hiểm và hậu quả. Mặt chủ quan của tội phạm là những biểu hiện về mặt tâm lý bên trong của người phạm tội hoặc pháp nhân thương mại khi thực hiện hành vi phạm tội, bao gồm: lỗi, động cơ, mục đích phạm tội. Với định nghĩa được nêu ở Điều 30 BLHS 2015, hình phạt chỉ được áp dụng đối với những tội phạm được quy định trong BLHS và chỉ được áp dụng những loại hình phạt mà BLHS quy định đối với từng tội phạm cụ thể.
Ba là, hình phạt do Toà án áp dụng. Theo quy định tại khoản 1 Điều 102 Hiến pháp năm 2013 quy định “Toà án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp”, khoản 3 Điều 102 Hiến pháp năm 2013 “Toà án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”. Khoản 2 Điều 2 Luật Tổ chức Toà án nhân dân năm 2014 quy định nhiệm vụ của Toà án:“Toà án nhân danh nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam xét xử các vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, hành chính và giải quyết các việc khác theo quy định của pháp luật”. Như vậy, theo quy định của Hiến pháp và các văn bản pháp luật khác có thể thấy Toà án là cơ quan duy nhất có quyền nhân danh nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam xét xử và áp dụng các hình phạt đối với tội phạm.
Bốn là, hình phạt chỉ áp dụng với người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội. Hình phạt được xây dựng với ý nghĩa là một công cụ quyền lực của Nhà nước dùng để đấu tranh chống tội phạm và nhiệm vụ chính của hình phạt là bảo vệ những quan hệ xã hội quan trọng, để thực hiện được nhiệm vụ đó hình phạt phải hướng trực tiếp đến người phạm tội, pháp nhân thương mại phạm tội để họ có thể được cải tạo, giáo dục trở thành người lương thiện, có ý thức tuân thủ pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa. Với đặc điểm này, hình phạt chỉ có thể áp dụng đối với người hoặc pháp nhân thương mại bị Toà án tuyên là có tội và bản án đã có hiệu lực pháp luật, những hình phạt áp dụng chỉ áp dụng đối với tội phạm, không mang tính “di truyền” sang gia đình, người thân trong trường hợp tội phạm bỏ trốn hoặc không thực hiện được nghĩa vụ, trừ một số 9 trường hợp đặc thù. Hình phạt không được áp dụng đối với người thân của tội phạm cũng như pháp luật Việt Nam không cho phép cá nhân chấp hành hình phạt thay cho người hoặc pháp nhân thương mại khác, kể cả đó là sự tự nguyện.
Nguyên tắc của pháp luật hình sự Việt Nam hiện nay là “đúng người đúng tội” nên không cho phép việc chấp hành thay hay việc một cá nhân phạm tội sẽ ảnh hưởng đến các cá nhân khác. ¨ Mục đích của hình phạt Điều 31 BLHS năm 2015 quy định mục đích hình phạt là “Hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người, pháp nhân thương mại phạm tội mà còn giáo dục họ ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa họ phạm tội mới; giáo dục người, pháp nhân thương mại khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.” Mục đích là kết quả mong muốn nhận được khi đề ra biện pháp, hình phạt có vai trò là một trong những biện pháp cưỡng chế của Nhà nước. Nên có thể hiểu rằng mục đích của hình phạt chính là đạt được một kết quả nhất định trong việc đấu tranh phòng, chống tội phạm.