phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn có 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc phản ánh hình ảnh người nổi tiếng trên báo Tuổi trẻ và Tiền phong 11 Chƣơng 2: Thực trạng giữa thông điệp hình ảnh người nổi tiếng và việc hình thành hệ giá trị cho giới trẻ trên báo Tuổi trẻ và Tiền phong Chƣơng 3: Một số giải pháp nhằm tăng cường ảnh hưởng vấn đề hình thành hệ giá trị cho giới trẻ 12 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHẢN ÁNH HÌNH ẢNH NGƢỜI NỔI TIẾNG TRÊN BÁO TUỔI TRẺ VÀ TIỀN PHONG 1. Một số khái niệm liên quan 1. Giá trị và Hệ giá trị + Giá trị: Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về “giá trị.” Theo góc nhìn của PGS, TS Thái Duy Tuyên trong cuốn “Giáo dục học hiện đại- những nội dung cơ bản” (NXB Đại học Quốc gia Hà Nội –năm 2001) thì “Giá trị là cái đáng quý, cái cần thiết, có ích, có ích lợi, có ý nghĩa, thoả mãn những nhu cầu vật chất, tinh thần của con người, của giai cấp, nhóm, xã hội nói chung” [47, tr 124]. Giá trị là một phạm trù lịch sử, thay đổi theo thời gian; là một phạm trù xã hội, phụ thuộc vào tính chất của dân tộc, tôn giáo, cộng đồng.
Một hiện tượng, một sự vật ở thời điểm này, dân tộc này thì có giá trị nhưng ở một thời điểm khác, dân tộc khác, điều kiện khác thì lại không còn giá trị nữa. Vì vậy, chỉ với một mục đích xác định thì mới xác định được giá trị và hệ thống giá trị tương ứng. + Hệ giá trị Theo Từ điển Merrian-Webster, Bách khoa toàn thư Encarta năm 2014, “hệ giá trị là hệ thống các tiêu chuẩn hay chuẩn mực đạo đức được thừa nhận của một cá nhân hoặc một cộng đồng. Các giá trị tương đồng với các chuẩn mực trong về khía cạnh đạo đức và nguyên tắc - giới hạn nhưng các giá trị có một ý nghĩa rộng hơn chuẩn mực ở việc vượt ra khỏi các tình huống cụ thể.
Giá trị được coi như việc hình thành các chuẩn mực trong những bối cảnh khác nhau” [51, tr12] Hiểu một cách ngắn gọn, theo từ điển Bách khoa toàn thư Britannica 2014 HGT là hệ thống các chuẩn mực đạo đức đúng – sai, phải - trái được quy ước và thừa nhận bởi một cá nhân hoặc một cộng đồng xã hội [ 8, tr17]. HGT là hệ thống được chấp nhận về ứng xử và hệ thống các chuẩn mực, mục tiêu cũng như giá trị quy ước và ràng buộc một cộng đồng xã hội bất kỳ và hệ thống này đóng vai trò là nền tảng cho hệ quy chiếu đối với cá nhân trong diễn trình ra quyết định và mưu cầu một cuộc sống ý nghĩa. 13 Theo UNESCO, một HGT cá nhân là các giá trị đạo đức tuyệt đối hoặc tương đối, là nền tảng cho hành vi đạo đức. Cũng theo UNESCO, HGT là hệ thống các giá trị và chuẩn mực nhất quán và kiên định (của cá nhân hay xã hội).
HGT nguyên tắc là nền móng cho các giá trị và chuẩn mực khác về phẩm chất nhân văn- đạo đức cao cả (chẳng hạn như Nhân, Trung, Hiếu, Nghĩa, Tín v. HGT dịch chuyển theo không gian và thời gian, nhưng có một mẫu số chung toàn cầu thể hiện ở những giới hạn-nguyên tắc pháp luật, đạo đức-nhân văn cao cả. Trong luận văn này, chúng tôi xin tiếp cận “hệ giá trị” như là những chuẩn mực đạo đức được xã hội thừa nhận, những giá trị truyền thống và hiện đại phát triển theo thời điểm hiện tại. Đó là những phẩm chất gắn với giới trẻ như: lòng yêu nghề, ý thức phấn đấu, ý chí, nghị lực vượt khó, lòng yêu nước, nhân hậu, sống thủy chung, tình nghĩa, biết sẻ chia với cộng đồng, tinh thần lạc quan, ý thức, trách nhiệm với xã hội, sự cống hiến, tinh thần lao động, học tập.
Người nổi tiếng (celeb) và hình ảnh người nổi tiếng Daniel Boorstin trong cuốn The Image: A Guide to Pseudo-Events in America. New York: Athenneum, 1982, trang 49) định nghĩa: “Người nổi tiếng là người nổi tiếng vì sự nổi tiếng của họ”. Theo từ điển Bách khoa toàn thư Britannica năm 2014: “NNT là tên tuổi, thương hiệu cá nhân (nhân hiệu) được nhiều người biết đến, có sức thu hút đối với truyền thông đại chúng (thường được gọi là “ngôi sao”'). Đó có thể là một cá nhân, hoặc một nhóm người (cặp đôi nổi tiếng, gia đình nổi tiếng v.v…), hoặc một sinh vật hoặc một nhân vật hư cấu.
Địa vị và danh phận nổi tiếng thường gắn liền với sự giàu có (thường được gọi là tên tuổi và gia tài) và tiếng tăm có thể tạo ra nhiều cơ hội kiếm tiền” [8, tr 234]. Từ các định nghĩa trên, theo chúng tôi, người NNT là tên tuổi, thương hiệu cá nhân được nhiều người biết đến, có sức thu hút đối với truyền thông đại chúng và là sản phẩm của truyền thông đại chúng (thường được gọi là “ngôi sao”, “ người của công chúng”). NNT hoạt động trên nhiều lĩnh vực xã hội khác nhau và có sức ảnh hưởng, lan tỏa mạnh mẽ đến cộng đồng. 14 Hình ảnh cá nhân (hay thương hiệu cá nhân) là khái niệm do học giả người Mỹ Tom Peters lần đầu tiên đề cập vào năm 1997.
Hình ảnh [cá nhân] là những ấn tượng và sự thật ngầm hiểu (insight) gieo vào não trạng (tiềm thức và ý thức) của công chúng, của cộng đồng mà anh ta nhằm xây dựng một hình ảnh về cá nhân mình như một thương hiệu, một tài sản. Hình ảnh cá nhân thể hiện thông qua hình thể, trang phục, tác phong, ngoại hình, sự hiện diện trên truyền thông truyền thống và truyền thông số và các lĩnh vực hướng đến một nhận diện và ấn tượng (hình ảnh) độc nhất, đáng nhớ và khác biệt với phần còn lại trong cộng đồng. Xây dựng hình ảnh cá nhân là diễn trình và quản trị hình ảnh chính mình, nói cách khác đó là quá trình xây dựng hệ giá trị của bản thân và chứng minh những giá trị đó là đúng đắn. Như vậy, trong luận văn này, NNT được đề cập là những tên tuổi, thương hiệu cá nhân được nhiều người biết đến, có sức hút đối với truyền thông đại chúng.
có sức lan tỏa, ảnh hưởng tích cực trong xã hội, được cộng đồng ngưỡng mộ và thừa nhận. Giới trẻ Định nghĩa về phương diện sinh học: người trẻ là người nằm trong lứa độ trẻ, từ thiếu niên đến tuổi bầu cử. Giới trẻ là một cộng đồng gồm những người trẻ. Định nghĩa về phương diện xã hội - văn hoá: người trẻ là người nhận thức không còn ấu trĩ con trẻ nữa nhưng cũng chưa đủ chín muồi của một người trưởng thành, chín muồi về mọi phương diện.
Người trẻ là người đang trong phát triển, hoàn thiện để có một nhận thức viên mãn và tương thích với đại đa số trong cộng đồng. Theo từ điển Di sản Hoa Kỳ và Bách khoa toàn thư Britannica 2014: “Người trẻ là người nằm trong độ tuổi chuyển giao phát triển sinh lý và tâm lý, thể chất và tinh thần, tiến trình diễn ra giữa thời kỳ thiếu niên và người trưởng thành (người lớn). Quá trình chuyển giao này liên quan đến thay đổi về phương diện sinh học (ví dụ như dậy thì), xã hội và tâm lý, trong đó những thay đổi về sinh lý và tâm lý thường dễ nhận thấy hơn [8, tr 124]. 15 Trong những năm gần đây, khái niệm “người trẻ” đã dịch chuyển, thay đổi ở nhiều quốc gia và trên toàn thế giới do những biến chuyển trong nhiều lĩnh vực và trên nhiều phương diện.
Theo từ điển Oxford, thời điểm kết thúc độ tuổi “trẻ” và bắt đầu trở thành “người lớn” được quy ước ở mỗi nước một khác thậm chí khác nhau ở ngay trong một quốc gia, căn cứ vào các quyền công dân và quyền con người. Cách xác định một người còn “trẻ” hay “trưởng thành” hay không mà nhiều người ưa thích là thông qua việc xác định đủ tuổi cho một quyền gì đó cụ thể chẳng hạn như có chứng minh nhân dân, có bằng lái xe, có quyền quan hệ tình dục, nhập ngũ, bầu cử, hay lập gia đình. Theo điều I, Luật Thanh niên quy định: Thanh niên là công dân Việt Nam đủ mười sáu tuổi đến ba mươi tuổi [42, tr3]. Trong luận văn này, giới trẻ mà chúng tôi muốn đề cập là các bạn trẻ công dân Việt Nam có độ tuổi từ 16 đến 30.
Quan điểm của Đảng và chính sách của Nhà nƣớc về việc giáo dục, xây dựng và phát triển hệ giá trị cho con ngƣời Việt Nam nói chung và giới trẻ nói riêng Trong Văn kiện Hội nghị lần thứ 9 Ban chấp hành TW khóa XI ngày 8/5/2014, đồng chí Nguyễn Phú Trọng- Tổng Bí thư đã nhấn mạnh về việc tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết TW 5 khóa VIII về văn hóa: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu và động lực phát triển đất nước; văn hóa có vai trò rất quan trọng trong việc hình thành nhân cách con người và bản sắc, cốt cách một dân tộc” [55, trang 6] Với quan điểm: văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất nước. Văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội. Phát triển văn hóa vì sự hoàn thiện nhân cách con người và xây dựng con người để phát triển văn hóa. Trong xây dựng văn hóa, trọng tâm là chăm lo xây dựng con người có nhân cách, lối sống tốt đẹp với các đặc tính cơ bản: yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, trung thực, đoàn kết, cần cù, sáng tạo, Đảng ta có sự quan tâm 16 đặc biệt đến sự phát triển văn hóa, trong đó nhấn mạnh đến vai trò của báo chí, truyền thông tác động đến đời sống con người nói chung và thế hệ trẻ nói riêng.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ Chín Ban chấp hành TW khóa XI ngày 9/6/2014 về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước nêu rõ: “Hướng các hoạt động văn hóa, giáo dục, khoa học vào việc xây dựng con người có thế giới quan khoa học, hướng tới chân- thiện- mỹ. Gắn xây dựng, rèn luyện đạo đức với thực hiện quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Nâng cao trí lực, bồi dưỡng tri thức cho con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, của kinh tế tri thức và xã hội học tập.