mở đầu của Nanshoku Okagami, Saikaku đã sử dụng tiêu đề theo nghĩa đen của nó khi ông tuyên bố 'Tôi đã cố gắng phản chiếu trong tam gương vi đại này tất cả những điều khác nhau của những biểu hiện trong tình yêu nam giới”. Tác phâm được viết nhằm mục đích phản ánh các vấn đề xã hội về cách mà đàn ông trong xã hội Tokugawa yêu nhau. Câu chuyện phô biến nhất về tình dục và/hoặc tình yêu giữa nam và nam là điều mà ngày nay chúng ta coi là trải nghiệm "lưỡng tinh" hay "sành trai" hay shojin-zuki. Thuật ngữ này không chỉ được áp dung cho những người đàn ông có hành vi "lưỡng tính", mà còn chỉ những người đàn ông thường xuyên quan hệ tình dục và/hoặc có quan hệ tình cảm với con trai.
Tuy nhiên, những người đàn ông mong muốn chỉ có quan hệ tình dục/hình thức với con trai và “những người ghét phụ nữ" hoặc "đồng tính luyến ái" hoặc onna-girai, đều không bị kỳ thị ?9. Chigo Monogatari: Love Stories or Buddhist Sermons?. The Greenwood encyclopedia of LGBT issues worldwide (Vol. ABC-CLIO 2° Watanabe, Tsuneo; Iwata, Junichi; Robertson, Jennifer.
Love of Samurai: A thousand years of Japanese homosexuality Journal of the History of Sexuality, OCTOBER 1991, Vol. 2 Issue 2 39 Schallow, Paul (1990). Introduction to The Great Mirror of Male Love. Stanford University Press.
1, 4, 11-12, 29 14 Trong cuốn “Male Colours” ? của Leupp, ông viết "Trong môi trường rực rỡ, tinh tế và bao dung này, chúng ta không ngạc nhiên khi có băng chứng về một tiểu văn hóa tự ý thức. Mặc dù “Great Mirror” thỉnh thoảng miêu tả hành vi lưỡng tính, nhưng điều đáng chú ý là Saikaku thường xuyên miêu tả hơn về những người sùng bái tình yêu nam giới như một tầng lớp tự coi minh là độc quyền theo sở thích của họ, nhấn mạnh sự độc quyền này bang cách tự gọi mình là "những kẻ ghét phụ nữ" (onna-girai) và hình thành một cộng đồng độc nhất - một 'giáo phái tình yêu nam'. Điều này cho thấy hiện tượng này khá rõ ràng ở Nhật Bản thế kỷ XVII". Bên cạnh đó, Paul Gordon Schalow cũng dé cập đến những khái niệm này trong phan 9 32 giới thiệu bản dịch tiếng Anh đầy đủ của “The Great Mirror of Male Love” *”, cụ thé, Ong viết rằng: "Thật thú vi, Saikaku cấu trúc nanshoku okagami không xoay quanh đặc tính "lưỡng tính" của shojin-zuki, mà xoay quanh đặc điểm "đồng tính luyến ái", " đặc tính của onna-girai”’.
Cting trong cau chuyén nay, chung ta thay một nhân vật tự coi minh và một người ban là "những kẻ ghét phụ nữ" một cách hài hước. "Thật là một cặp đôi ghét phụ nữ!" Anh ấy kêu lên, sau khi cả hai đều đồng ý rang tình yêu của "tuổi trẻ dep dé" là "điều đáng quan tâm duy nhất trên thế giới này". Vào thời kỳ này, có những wakashu được coi là "đồng tính luyến ái", "song tính" và "di tính", cũng như nhiều người không dé dang phân loại vào các loại hình này. Việc dé cập đến wakashu chỉ quan tâm đến đàn ông là tương đối phổ biến, điển hình như trong ví đụ về nam diễn viên nổi tiếng được mô tả trong câu chuyện Winecup Overflow, người đã được gửi nhiều thư tình từ phụ nữ, nhưng "hoàn toàn phớt lờ họ, không phải vì lạnh lùng, mà là bởi vì anh ấy đã bị cuốn vào cách yêu của đàn ông”.
- Kabuki và mại dâm nam Kagema (2l) là từ dé chỉ những trai bao vào thời Edo. Độ tuổi của các Kagema dao động từ 13,14 đến 20. Khách hàng chủ yếu là nam, nhưng đôi khi cũng có nữ. Từ Kagema xuất phát từ việc những diễn viên nam tập sự ở các nhà hát Kabuki thường được gọi là Kagenoma (f2@Hij).
Thu nhập của họ thường không đủ nên lam Kagema như một nguồn thu nhập phụ. Khách hàng có thể tìm cho mình một Kagema thông qua các quán trà Kagema. Male Colors: The Construction of Homosexuality in Tokugawa Japan. University of California Press 32 Schalow, P.
The Great Mirror of Male Love. Harvard University 15 Về lịch sử, thời kì đầu, trên sân khấu Kabuki có cả diễn viên nữ. Tuy vậy, vì những diễn viên nữ thường có quan hệ ngoài luồng với khách, nên chính quyền Mạc phủ đã cắm diễn viên nữ trên sân khấu Kabuki. Những vai diễn nữ lại thu hút được rất đông khách nên các sân khấu Kabuki đã nghĩ đến việc dùng những thanh niên trẻ đẹp - gọi là Wakashuu Kabuki - đóng giả các vai nữ đấy.
Thế nhưng một lần nữa, những thanh niên này cũng tham gia vào việc bán sắc. Và thu hút khách hàng không chỉ là nam mà còn cả các khách hàng nữ. Điều này dẫn tới việc chính quyền tiếp tục cắm luôn việc dùng các Wakashuu Kabuki. Người dân Edo đã kiến nghị lên chính quyền cho phép các Wakashuu Kabuki được tiếp tục làm việc.
Chính quyền đồng ý với điều kiện những người đấy không được thực hiện nghi lễ cạo đầu búi tóc như những người khác. Trong một thời gian rất dài, các Kagema trở thành thú vui xa xỉ của giời quý tộc Edo. Rất nhiều các diễn viên Kabuki, không chỉ những người mới vào nghé, tham gia vào lực lượng Kagema đông đảo này. Dù vậy cảng ngày, các Kagema càng trở nên lỗi thời với thị hiếu của dân Edo.
“Gái mại dâm” nam và diễn viên kiêm “gái mại dâm” phục vụ khách hàng nam ban đầu bị giới hạn ở độ tuổi wakashũ, vì đàn ông trưởng thành không được coi là bạn tình mong muốn hoặc được xã hội chấp nhận đối với những người đàn ông khác. Trong thế kỷ 17, những người đàn ông này (hoặc chủ nhân của họ) đã tìm cách duy trì sự ham muốn của họ bằng cách trì hoãn hoặc che giấu tuổi sắp đến của họ và do đó kéo dai tình trạng "không phải người lớn" của họ sang độ tuổi hai mươi hoặc thậm chí ba mươi; điều này cuối cùng đã dẫn đến một mối quan hệ shudou thay thế, được xác định theo địa vị, cho phép khách hàng thuê những "chàng trai" trên thực tế, lớn tuổi hơn họ. Quá trình phát triển nay đã được thúc day bởi lệnh cắm vào giữa thé ky 17 đối với việc miêu tả mái tóc đài của wakashu, dấu hiệu tuổi tác nổi bật nhất của họ, trong các vở kịch kabuki; nhằm mục đích loại bỏ Sự hấp dẫn giới tính của các diễn viên trẻ và do đó giảm bớt sự cạnh tranh bạo lực để giành lay sự ưu ái của họ, hạn chế này cuối cùng có tác dụng ngoài ý muốn là tách ham muốn tình dục của nam giới khỏi tuổi thực, miễn là có thé duy trì vẻ ngoài "trẻ trung" phù hợp °°. - Tình yêu đồng giới trong văn học, nghệ thuật Tình yêu đồng giới là chủ đề của vô số tác phẩm văn học, hầu hết vẫn chưa được dịch.
Tuy nhiên, cũng đã có nhiều bản dịch tiếng Anh về chủ đề này tại Nhật Bản. Có thể kế đến như bản dịch tiếng Anh có sẵn của Ihara Saikaku, người đã tạo ra một nhân vật chính song 33 Pflugfelder, M. Cartographies of Desire: Male-Male. Sexuality in Japanese Discourse, 1600- 1950": 256 16 tính trong “Cuộc đời của một người đàn ông da tình” (1682).
Hoặc, Jippensha Ikku, người đã tạo ra mối quan hệ nam - nam ban đầu trong "Lời nói đầu" sau xuất bản của Shank's Mare (1802). Hoặc, có thể kế đến Ueda Akinari, người đã xây dựng nên một tu sĩ Phật giáo đồng tính luyến ái trong “Tales of Moonlight and Rain” (1776). Tương tự như vậy, nhiều nghệ sĩ vĩ đại của thời ky nay, chang hạn như Hokusai va Hiroshige, cũng đã tự hào về việc ghi lại những tình yêu như vậy trong các bản in của họ, được gọi là ukiyo-e "những bức tranh về thế giới trôi nổi", và ở đó chúng có giọng điệu gợi tình, làm nồi rõ nghệ thuật yêu đồng giới. Có thé nói đến van dé rang, Nanshoku không được coi là không tương thích với tinh dục khác giới; những cuốn sách in khiêu đâm dành riêng cho nanshoku thường trình bày những hình ảnh khiêu dâm của cả phụ nữ trẻ (vợ lẽ, mekake, hoặc gái điểm, jourou) cũng như những chàng trai vị thành niên hấp dẫn (wakashu) và thanh niên ăn mặc hở hang (onnagata).
Thật vậy, một số tác phẩm gợi ý rằng tình huống "đáng ghen tị" nhất là có nhiều jourou và nhiều wakashu. Tương tự như vậy, phụ nữ được coi là bi thu hút đặc biệt bởi cả wakashũ và x x ` pen onnagata, và người ta cho rằng nhiều thanh niên trong số này sẽ đáp lại sự quan tâm đó *. Do đó, nhiều học viên nanshoku và những chang trai trẻ mà họ mong muốn đều được coi là song tinh theo thuật ngữ hiện đại. Đàn ông và thanh niên nam (có ví dụ về cả hai) hoàn toàn là đồng tính luyến ái có thé được gọi là "những người ghét phụ nữ" (onna-girai).
Tuy nhiên, thuật ngữ này mang hàm ý chỉ sự chán ghét hung hăng đối với phụ nữ trong mọi bối cảnh xã hội, thay vì chỉ đơn giản là sự ưa thích đối với bạn tình nam. Không phải tất cả những người đồng tính luyến ái đều được gọi bằng thuật ngữ này >. Thời kỳ cận đại - Tổng quan chung Khi Nhật Bản bước sang thời đại Minh Trị, các tập tục đồng giới vẫn tiếp tục, nhưng nó mang những hình thức mới. Ngày càng có nhiều sự thù địch đối với các thực hành đồng giới.
Bất chấp sự thù địch, nanshoku vẫn tiếp tục hiện diện, đặc biệt là phiên bản nanshoku của samurai, và nó trở thành biéu hiện chủ yếu của đồng tính luyến ái trong thời Minh Tri. Các tập quán Nanshoku đã trở nên gắn liền với vùng Satsuma của Nhật Bản, lý đo là khu vực này đã thấm nhuan truyền thống samurai nanshoku của thời Tokugawa. Ngoài ra, khi các nhà tài phiệt Satsuma ủng hộ việc khôi phục quyền lực cho hoàng dé, ho da duoc dua vao các vị trí quyền lực, cho phép các hoạt động nanshoku được chú ý nhiều hơn trong khoảng *4 Mostow, Joshua S. (2003), The gender of wakashu and the grammar of desire, in Joshua S.
Mostow; Norman Bryson; Maribeth Graybill, Gender and power in the Japanese visual field. University of Hawaii Press, pp. Male Colors: The Construction of Homosexuality in Tokugawa Japan. University of California Press 17 thời gian này.
Satsuma cũng chiếm phần lớn lực lượng hải quân Nhật Bản mới được thành lập, do đó liên kết hải quân với các hoạt động nanshoku. Mặc dù trong thời gian này, Nhật Bản đã thông qua một thời gian ngắn luật chống kê gian trong nỗ lực hiện đại hóa bộ luật của mình, các luật này đã bị bãi bỏ khi nhà pháp lý người Pháp Gustave Boissonade khuyên nên áp dụng một bộ luật tương tự như của Pháp.