Lê thị duyên tổng quan hệ thống về hiệu lực an toàn và chi phí hiệu quả của phác đồ kết hợp thuốc rosuvastatin và ezetimibe trong điều trị tăng cholesterol máu

Tổng quan về hiệu lực an toàn và chi phí hiệu quả của phác đồ kết hợp rosuvastatin và ezetimibe trong điều trị tăng cholesterol máu.

Chuyên ngành

Dược sĩ

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2024

77
7
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ

DANH MỤC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

ĐẶT VẤN ĐỀ

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Tổng quan về rối loạn lipid máu và tăng cholesterol máu

1.2. Dịch tễ tăng cholesterol máu

1.3. Gánh nặng bệnh tật

1.4. Điều trị tăng cholesterol máu

1.5. Các nhóm thuốc điều trị tăng cholesterol máu

1.6. Thuốc phối hợp rosuvastatin và ezetimibe

1.7. Đánh giá công nghệ y tế

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.3. Thiết lập câu hỏi nghiên cứu

2.4. Phương pháp tìm kiếm tài liệu

2.5. Lựa chọn nghiên cứu

2.6. Trích xuất dữ liệu nghiên cứu

2.7. Đánh giá chất lượng của các bài báo

2.8. Phương pháp xử lý số liệu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Kết quả tìm kiếm nghiên cứu

3.2. Tổng quan hệ thống về hiệu lực, tính an toàn của rosuvastatin/ezetimibe trong điều trị tăng cholesterol máu

3.3. Đánh giá chất lượng các nghiên cứu

3.4. Đặc điểm các nghiên cứu hiệu lực, tính an toàn trong tổng quan hệ thống

3.5. Đặc điểm bệnh nhân trong các nghiên cứu

3.6. Hiệu lực của rosuvastatin/ezetimibe trong điều trị tăng cholesterol máu

3.7. Tính an toàn của rosuvastatin/ezetimibe điều trị tăng cholesterol máu

3.8. Tổng quan hệ thống về chi phí - hiệu quả của rosuvastatin/ezetimibe trong điều trị tăng cholesterol máu

3.9. Đánh giá chất lượng nghiên cứu

3.10. Đặc điểm của nghiên cứu

3.11. Kết quả nghiên cứu

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Tổng quan hệ thống về hiệu lực, tính an toàn của rosuvastatin/ezetimibe trong điều trị tăng cholesterol máu

4.2. Tổng quan hệ thống về chi phí - hiệu quả của rosuvastatin/ezetimibe trong điều trị tăng cholesterol máu

4.3. Ưu điểm và hạn chế của đề tài

5. CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Hiệu Quả và An Toàn của Rosuvastatin và Ezetimibe

Tăng cholesterol máu là một vấn đề sức khỏe toàn cầu nghiêm trọng, ảnh hưởng đến hàng triệu người. Việc điều trị hiệu quả và an toàn là rất cần thiết để giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch. Phác đồ kết hợp giữa RosuvastatinEzetimibe đã được nghiên cứu và chứng minh có hiệu quả trong việc giảm nồng độ LDL-C, từ đó cải thiện sức khỏe tim mạch.

1.1. Định Nghĩa và Tầm Quan Trọng Của Tăng Cholesterol Máu

Tăng cholesterol máu là tình trạng nồng độ cholesterol trong máu cao, có thể dẫn đến xơ vữa động mạch và các biến chứng tim mạch. Việc hiểu rõ về tình trạng này giúp nâng cao nhận thức và thúc đẩy việc điều trị kịp thời.

1.2. Tình Hình Tăng Cholesterol Máu Tại Việt Nam

Theo báo cáo, tỷ lệ người mắc tăng cholesterol máu tại Việt Nam đang gia tăng, đặc biệt ở nhóm tuổi trung niên. Điều này đặt ra thách thức lớn cho hệ thống y tế trong việc quản lý và điều trị hiệu quả.

II. Vấn Đề và Thách Thức Trong Điều Trị Tăng Cholesterol Máu

Mặc dù có nhiều phương pháp điều trị, nhưng việc kiểm soát cholesterol máu vẫn gặp nhiều khó khăn. Các thách thức bao gồm sự không tuân thủ điều trị, tác dụng phụ của thuốc và sự cần thiết phải điều chỉnh liều lượng. Việc tìm kiếm phác đồ điều trị an toàn và hiệu quả là rất quan trọng.

2.1. Tác Dụng Phụ Của Các Thuốc Hạ Cholesterol

Nhiều bệnh nhân gặp phải tác dụng phụ khi sử dụng thuốc hạ cholesterol, đặc biệt là nhóm statin. Điều này có thể dẫn đến việc ngừng điều trị và làm tăng nguy cơ biến chứng tim mạch.

2.2. Sự Không Tuân Thủ Trong Điều Trị

Sự không tuân thủ điều trị là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến thất bại trong việc kiểm soát cholesterol máu. Các yếu tố như chi phí, tác dụng phụ và thiếu thông tin có thể ảnh hưởng đến quyết định của bệnh nhân.

III. Phương Pháp Kết Hợp Rosuvastatin và Ezetimibe Trong Điều Trị

Phác đồ kết hợp RosuvastatinEzetimibe đã được chứng minh là một giải pháp hiệu quả trong việc giảm nồng độ LDL-C. Nghiên cứu cho thấy sự kết hợp này không chỉ cải thiện hiệu quả điều trị mà còn giảm thiểu tác dụng phụ so với việc sử dụng đơn trị.

3.1. Cơ Chế Tác Động Của Rosuvastatin và Ezetimibe

Rosuvastatin hoạt động bằng cách ức chế men HMG-CoA reductase, trong khi Ezetimibe ức chế hấp thu cholesterol từ ruột. Sự kết hợp này giúp giảm nồng độ cholesterol toàn phần và LDL-C hiệu quả hơn.

3.2. Lợi Ích Của Phác Đồ Kết Hợp

Nghiên cứu cho thấy phác đồ kết hợp này có thể giảm LDL-C lên đến 59,1%, giúp đạt được mục tiêu điều trị nhanh chóng và hiệu quả hơn so với việc sử dụng đơn trị.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn và Kết Quả Nghiên Cứu Về Rosuvastatin và Ezetimibe

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng phác đồ kết hợp RosuvastatinEzetimibe không chỉ hiệu quả mà còn an toàn cho bệnh nhân. Kết quả từ các thử nghiệm lâm sàng cho thấy tỷ lệ biến cố tim mạch giảm đáng kể khi sử dụng phác đồ này.

4.1. Kết Quả Nghiên Cứu Lâm Sàng

Các nghiên cứu lâm sàng đã chứng minh rằng phác đồ kết hợp này giúp giảm đáng kể nồng độ LDL-C và cải thiện các chỉ số lipid khác, từ đó giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch.

4.2. Chi Phí Hiệu Quả Của Phác Đồ Kết Hợp

Phân tích chi phí - hiệu quả cho thấy phác đồ kết hợp RosuvastatinEzetimibe mang lại lợi ích kinh tế cao hơn so với các phương pháp điều trị khác, giúp giảm gánh nặng cho hệ thống y tế.

V. Kết Luận và Tương Lai Của Phác Đồ Kết Hợp Rosuvastatin và Ezetimibe

Phác đồ kết hợp RosuvastatinEzetimibe đã chứng minh hiệu quả và an toàn trong điều trị tăng cholesterol máu. Tương lai của phác đồ này hứa hẹn sẽ mang lại nhiều lợi ích cho bệnh nhân và hệ thống y tế.

5.1. Triển Vọng Nghiên Cứu Trong Tương Lai

Các nghiên cứu tiếp theo cần được thực hiện để đánh giá sâu hơn về hiệu quả và an toàn của phác đồ kết hợp này, từ đó cung cấp thêm bằng chứng cho việc áp dụng rộng rãi trong điều trị.

5.2. Đề Xuất Chính Sách Y Tế

Cần có các chính sách hỗ trợ để khuyến khích việc sử dụng phác đồ kết hợp RosuvastatinEzetimibe, nhằm cải thiện sức khỏe cộng đồng và giảm gánh nặng bệnh tật.

10/07/2025
Lê thị duyên tổng quan hệ thống về hiệu lực an toàn và chi phí hiệu quả của phác đồ kết hợp thuốc rosuvastatin và ezetimibe trong điều trị tăng cholesterol máu

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 2 1. Tổng quan về rối loạn lipid máu và tăng cholesterol máu 1. Định nghĩa Rối loạn lipid máu (RLLPM) là tình trạng rối loạn và/hoặc tăng nồng độ các thành phần lipid trong máu, tăng cholesterol toàn phần (CT), tăng triglycerid (TG), tăng lipoprotein tỷ trọng thấp (LDL-C) hay giảm lipoprotein tỷ trọng cao (HDL-C) hậu quả làm tăng nguy cơ bệnh tim mạch, đột quỵ [4]. Tăng cholesterol máu là một dạng RLLPM phổ biến, được định nghĩa LDL-C cao trong huyết tương, từ đó phát triển xơ vữa động mạch và có liên quan trực tiếp đến nguy cơ mắc bệnh tim mạch do xơ vữa động mạch.

Tăng cholesterol máu phân thành 2 nhóm: thứ phát hoặc nguyên phát. Tăng cholesterol máu thứ phát xảy ra do một nguyên nhân xác định như có thai, hội chứng thận hư, suy giáp, tâm thần, ứ mật hoặc một số loại thuốc khác. Bệnh nhân tăng cholesterol máu nguyên phát khi không có bất kì tình trạng thứ phát hoặc yếu tố thúc đẩy nào và đáp ứng một trong các trường hợp sau [41]: - Tăng cholesterol máu di truyền, có nghiên cứu di truyền chẩn đoán và/hoặc tiền sử gia đình rõ ràng. - Tăng cholesterol máu nguyên phát vô căn: LDL-C ≥ 190 mg/dL (4,9 mmol/L) hoặc non-HDL-C ≥220 mg/dL và không có tiêu chí về tăng cholesterol máu di truyền hoặc tăng cholesterol máu nguyên phát.

- Tăng cholesterol máu đa yếu tố: Tăng cholesterol máu với LDL-C ≥ 130 mg/dL (3.4 mmol/L) hoặc non-HDL-C ≥ 160 mg/dL (4.1 mmol/L) và không có tiêu chí về tăng cholesterol máu nguyên phát và thứ phát. Yếu tố nguy cơ của tăng cholesterol máu là thừa cân, béo phì, ít vận động, hội chứng chuyển hoá, tiền đái tháo đường, đái tháo đường, chế độ ăn giàu chất béo bão hoà, bệnh thận mạn với GFR < 30 ml/phút, uống rượu > 30ml/ngày hoặc sử dụng một số loại thuốc (estrogen, corticosteroid, retinoids, interferon) [41]. Dịch tễ tăng cholesterol máu 1. Trên thế giới Trên toàn cầu, tỷ lệ dân số mắc bệnh tăng cholesterol máu tương đối cao.

Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã báo cáo tỷ lệ mắc bệnh toàn cầu là 39% trong năm 2008 và có xu hướng tăng lên theo hàng năm do già hóa, kinh tế phát triển và đô thị hóa [66]. Từ 2017 - 2020, trong độ tuổi người trưởng thành ở Mỹ, 32,8% nam giới và 36,2% nữ giới có mức cholesterol toàn phần ≥ 200 mg/dL, 25,6% nam giới và 25,4% nữ giới có LDL- C ≥ 130 mg/dL, và 24,9% nam giới và 9,3% nữ giới có HDL-C < 40 mg/dL [61]. Tại Ba Lan, tỷ lệ bệnh nhân tăng cholesterol máu ở độ tuổi 20 - 99 trong năm 2013 - 2014 ở nam giới là 70,3%, nữ giới là 64,3%, trong đó 60,6% số bệnh nhân không nhận thức được bản thân tăng cholesterol máu, chỉ 6% được điều trị đạt mục tiêu [52]. 3 Tăng cholesterol máu là vấn đề đáng quan tâm ở các nước châu Á.

Một nghiên cứu ở đánh giá gánh nặng của tình trạng tăng cholesterol máu dựa trên đánh giá nguy cơ tim mạch toàn cầu ở người dân châu Á, cho thấy tỷ lệ dân số mắc bệnh tăng cholesterol máu khoảng 30% [43]. Ở Đông Nam Á, tỷ lệ bệnh nhân tăng cholesterol máu ở Thái Lan là 43,8% [59] và tỷ lệ này ở Malaysia là 47,7% [48]. Việt Nam Theo điều tra quốc gia về yếu tố nguy cơ của bệnh không truyền nhiễm Việt Nam, năm 2015 có 30,2% dân số có mức cholesterol toàn phần ≥ 5,0 mmol/L hoặc ≥ 190 mg/dL hoặc đang dùng thuốc điều trị tăng cholesterol máu. Tỷ lệ mắc giữa nam và nữ lần lượt là 25,2% và 35,0%.

Theo báo cáo này, nhóm tuổi tăng cholesterol cao nhất ở nhóm 50 - 69 tuổi [5]. Nghiên cứu thực trạng rối loạn cholesterol máu ở người trưởng thành thừa cân béo phì ở Hà Nội vào năm 2022 đưa ra kết quả tỷ lệ tăng cholesterol máu là 45,6% [14]. Nghiên cứu dịch tễ học đánh giá thực trạng RLLPM ở người cao tuổi ở 2 huyện nông thôn của tỉnh Thái Bình, tỷ lệ RLLPM ở nhóm 60 - 74 tuổi là 65,9%, trong đó tăng cholesterol máu chiếm 37% [15]. Tỷ lệ người trưởng thành có tăng cholesterol máu ở Việt Nam khá cao.

Tình trạng này dẫn đến sự tăng tỷ lệ người có nguy cơ mắc các bệnh mạn tính không lây nhiễm, đặc biệt là tim mạch và đái tháo đường [3]. Gánh nặng bệnh tật 1. Gánh nặng sức khỏe Cholesterol máu tăng quá cao có thể gây ra sự tích tụ cholesterol và các chất lắng đọng khác trên thành động mạch (xơ vữa động mạch). Những mảng bám này có thể làm giảm lưu lượng máu qua động mạch, có thể gây ra các biến chứng, đau ngực, đau tim, đột quỵ.

Nghiên cứu dịch tễ về cholesterol máu trong bệnh xơ vữa động mạch tại Framingham đã phát hiện mối tương quan thuận giữa nồng độ cholesterol máu và tỷ lệ tử vong do xơ vữa động mạch [21]. Theo Kannel, khi cholesterol tăng > 2,5 g/l thì nguy cơ mắc bệnh mạch vành tăng 2,25-3,25 lần. Khi cholesterol từ 5,2-6,5 mmol/l thì tỷ lệ tử vong do bệnh mạch vành tăng gấp đôi. Khi cholesterol từ 5,2-7,8 mmol/l, tỷ lệ tử vong này tăng gấp bốn lần [17].

Tăng cholesterol máu có liên quan đến việc tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch, với LDL-C trong huyết tương tăng cao là yếu tố nguy cơ tử vong đứng thứ 15 vào năm 1990, tăng lên thứ 11 vào năm 2007 và thứ 8 vào năm 2019 [53]. Tăng cholesterol máu không có triệu chứng và chỉ có thể được phát hiện thông qua xét nghiệm máu. Khảo sát Y tế Úc vào năm 2011-2012 cho thấy trong số 5,6 triệu người có lượng cholesterol toàn phần bất thường và chỉ có 5% đang dùng thuốc điều trị [62]. Tại Bồ Đào Nha vào năm 2010 có 1.689 ca tử vong là do tăng cholesterol máu, tương ứng với 1,6% tổng số ca tử vong.

DALY do bệnh tật và tử vong sớm do tăng cholesterol máu trong năm 2010 là 12. 4 Một nghiên cứu đã báo cáo rằng từ năm 1990 đến năm 2017, số ca tử vong do cholesterol máu cao đã tăng hơn gấp ba lần ở Đông Á và tăng hơn gấp đôi ở Đông Nam Á. Số ca tử vong do cholesterol máu cao ở Đông Nam Á và Nam Á chiếm 25% số ca tử vong do cholesterol máu cao trên toàn thế giới vào năm 1990 và tăng lên khoảng 50% vào năm 2017 [49]. Trên toàn thế giới vào năm 2019, bệnh tim thiếu máu cục bộ gây ra 8,54 triệu ca tử vong, trong đó 3,78 triệu ca tử vong do nồng độ LDL-C huyết tương cao và đột quỵ do thiếu máu cục bộ gây ra 2,73 triệu ca tử vong, trong đó 0,61 triệu ca tử vong do nồng độ LDL-C huyết tương cao [53].

Gánh nặng kinh tế Tỷ lệ bệnh nhân mắc cholesterol trong máu cao ngày càng tăng dẫn đến sự phân bổ chi phí lớn cho hệ thống chăm sóc sức khỏe ở các nước trên thế giới. Gánh nặng kinh tế liên quan đến tăng cholesterol máu bao gồm hai thành phần là gánh nặng kinh tế liên quan trực tiếp đến tăng cholesterol máu, bao gồm chi phí thuốc, xét nghiệm, thăm khám và gánh nặng kinh tế liên quan đến biến cố do tăng cholesterol máu gây ra, cụ thể là đột quỵ do thiếu máu cục bộ và bệnh tim thiếu máu cục bộ [29]. Một nghiên cứu ở Bồ Đào Nha, chi phí trực tiếp ước tính do tăng cholesterol máu năm 2013 là 320 triệu Euro, chi phí gián tiếp do tăng cholesterol máu gây ra lên tới 198 triệu Euro. Do đó, chi phí chung cho bệnh tật ước tính khoảng 518 triệu Euro, khoảng 0,3% GDP của Bồ Đào Nha [29].

Tại Úc, năm 2017, tổng chi phí bao gồm sử dụng thuốc, điều trị bệnh tim và đột quỵ do tăng cholesterol máu là 3. Nghiên cứu của Henk và cộng sự năm 2015 tại Hoa Kỳ, cho thấy chi phí trong năm đầu sau biến cố tim mạch do tăng cholesterol máu 41.937 USD, năm thứ hai và thứ ba, chi phí giảm xuống lần lượt là 16.133 USD, tính theo USD của năm 2020, chi phí năm thứ nhất và thứ hai sau biến cố lần lượt là $55. Điều trị tăng cholesterol máu 1. Mục tiêu điều trị Điều trị tăng cholesterol máu nhằm giảm thiểu các biến cố tim mạch do xơ vữa động mạch [16].

Ngoài ra, cần loại trừ nguyên nhân tăng cholesterol máu thứ phát như hội chứng thận hư, suy giáp, sử dụng quá nhiều rượu, thai nghén, lạm dụng corticosteroid, chứng biến ăn và thuốc ức chế miễn dịch [16]. Hội Hội Tim mạch học Việt Nam (HTMHVN) năm 2015 và Hiệp hội Tim mạch Châu Âu năm 2019 đồng thuận LDL-C là mục tiêu điều trị chính, do có nhiều bằng chứng lâm sàng cho thấy việc giảm LDL-C giúp dự phòng nguyên phát và thứ phát các biến cố tim mạch [12],[47]. Theo HTMHVN [12], khuyến cáo mục tiêu điều trị LDL-C được trình bày ở Bảng 1. Khuyến cáo về mục tiêu điều trị đối với LDL-C Khuyến cáo Nhóm Mức chứng cứ Ở những bệnh nhân có nguy cơ tim mạch RẤT CAO (bệnh tim mạch, đái tháo đường týp 2, đái tháo đường týp 1 có tổn thương cơ quan đích, bệnh thận mạn trung bình - nặng I A hoặc điểm SCORE ≥10%), mục tiêu LDL-C là <1,8 mmol/l (~70 mg/dl) và/hoặc giảm LDL-C ≥ 50% khi không thể đạt được mục tiêu điều trị.

Ở bệnh nhân có nguy cơ rất cao như bệnh nhân SAU HỘI CHỨNG VÀNH CẤP thì mức mục tiêu cần đạt là <1,8 I B mmol/l (~70 mg/dl) và tốt hơn nữa là đạt đến mức 1,3mmol/L (53 mg/dl). Ở bệnh nhân có nguy cơ tim mạch CAO (các yếu tố nguy cơ đơn độc tăng rõ rệt, điểm SCORE ≥ 5% đến < 2,5 IIa A mmol/l (~100 mg/dl). Ở những đối tượng có nguy cơ TRUNG BÌNH (điểm SCORE > 1% đến ≤ 5%), nên xem xét mục tiêu LDL-C < IIa C 3,0 mmol/l (~115 mg/dl). Hướng dẫn điều trị • Nguyên tắc điều trị: Điều trị tăng cholesterol máu tùy thuộc vào từng cá thể bệnh nhân trên cơ sở đánh giá tình trạng và mức độ tăng LDL-C.

Nguyên tắc chung bao gồm thay đổi lối sống và sử dụng thuốc. Thay đổi lối sống là biện pháp cần thiết và cơ bản trong điều trị, bao gồm chế độ ăn uống hợp lý, chế độ tập luyện thể dục và từ bỏ những thói quen có hại [4].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ