Đánh giá hiệu quả và tính an toàn của etanercept embrel phối hợp với methotrexat trong điều trị viêm khớp dạng thấp bluận văn thạc sĩ

Luận văn thạc sĩ phân tích Đánh giá hiệu quả và tính an toàn của etanercept embrel phối hợp với methotrexat trong điều trị, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải pháp

Trường đại học

Trường Đại Học Y Hà Nội

Chuyên ngành

Nội khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn

2012

71
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

CÁC CHỮ VIẾT TẮT

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Dịch tễ học, nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh

1.2. Triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng bệnh viêm khớp dạng thấp

1.3. Chẩn đoán bệnh Viêm khớp dạng thấp

1.4. Điều trị bệnh Viêm khớp dạng thấp kinh điển

1.5. Liệu pháp mới trong điều trị Viêm khớp dạng thấp

1.5.1. Thuốc ức chế yếu tố hoại tử khối u

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Địa điểm và thời gian tiến hành nghiên cứu

2.2. Đối tượng nghiên cứu

2.3. Phương pháp nghiên cứu

2.4. Xử lý kết quả nghiên cứu

2.5. Đạo đức trong nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đặc điểm chung của 2 nhóm bệnh nhân

3.2. Đánh giá hiệu quả điều trị của Etanercept phối hợp với MTX

3.3. Tính an toàn của ETN và MTX

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm chung của nhóm bệnh nhân nghiên cứu

4.2. Đánh giá hiệu quả điều trị của Etanercept phối hợp với MTX

4.3. Tính an toàn của ETN và MTX

Tài liệu tham khảo

Tóm tắt

I. Tổng quan về hiệu quả điều trị viêm khớp dạng thấp bằng etanercept

Viêm khớp dạng thấp (VKDT) là một bệnh tự miễn dịch nghiêm trọng, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân. Việc điều trị VKDT thường bao gồm các thuốc chống thấp khớp làm thay đổi tình trạng bệnh (DMARDs). Trong đó, etanercept (tên thương mại: Enbrel) đã được chứng minh là một phương pháp hiệu quả trong việc kiểm soát triệu chứng và ngăn ngừa tổn thương khớp. Nghiên cứu cho thấy sự kết hợp giữa etanerceptmethotrexat mang lại hiệu quả điều trị cao hơn so với việc sử dụng riêng lẻ. Điều này mở ra hướng đi mới trong điều trị VKDT, giúp cải thiện đáng kể tình trạng bệnh nhân.

1.1. Đặc điểm bệnh viêm khớp dạng thấp và vai trò của etanercept

VKDT là bệnh lý viêm mạn tính, thường gặp ở nữ giới. Etanercept hoạt động bằng cách ức chế yếu tố hoại tử u (TNF-α), một cytokine quan trọng trong quá trình viêm. Việc sử dụng etanercept giúp giảm viêm và ngăn ngừa tổn thương khớp, từ đó cải thiện chất lượng sống cho bệnh nhân.

1.2. Tác dụng của methotrexat trong điều trị viêm khớp dạng thấp

Methotrexat là một trong những DMARDs phổ biến nhất, có tác dụng giảm viêm và làm chậm tiến trình bệnh. Khi kết hợp với etanercept, hiệu quả điều trị được nâng cao, giúp kiểm soát triệu chứng tốt hơn và giảm thiểu tác dụng phụ.

II. Thách thức trong điều trị viêm khớp dạng thấp bằng etanercept và methotrexat

Mặc dù etanerceptmethotrexat đã được chứng minh là hiệu quả, nhưng vẫn tồn tại nhiều thách thức trong điều trị VKDT. Một số bệnh nhân có thể không đáp ứng tốt với liệu pháp này, dẫn đến việc cần phải điều chỉnh liều lượng hoặc thay đổi phương pháp điều trị. Ngoài ra, việc theo dõi tác dụng phụ cũng là một yếu tố quan trọng trong quá trình điều trị.

2.1. Tác dụng phụ của etanercept và methotrexat

Cả etanerceptmethotrexat đều có thể gây ra một số tác dụng phụ như nhiễm trùng, phản ứng dị ứng và tổn thương gan. Việc theo dõi chặt chẽ các triệu chứng này là cần thiết để đảm bảo an toàn cho bệnh nhân.

2.2. Khó khăn trong việc điều chỉnh liều lượng thuốc

Việc điều chỉnh liều lượng của etanerceptmethotrexat cần phải dựa trên tình trạng sức khỏe và phản ứng của bệnh nhân. Điều này có thể gây khó khăn cho bác sĩ trong việc tìm ra liều lượng tối ưu cho từng bệnh nhân.

III. Phương pháp nghiên cứu hiệu quả của etanercept và methotrexat

Nghiên cứu về hiệu quả của etanercept kết hợp với methotrexat thường được thực hiện thông qua các thử nghiệm lâm sàng. Các nghiên cứu này đánh giá sự cải thiện triệu chứng, giảm đau và ngăn ngừa tổn thương khớp. Kết quả cho thấy sự kết hợp này mang lại hiệu quả cao hơn so với việc sử dụng riêng lẻ.

3.1. Thiết kế nghiên cứu lâm sàng

Các nghiên cứu lâm sàng thường được thiết kế ngẫu nhiên, mù đôi để đảm bảo tính khách quan. Bệnh nhân được chia thành hai nhóm: một nhóm sử dụng etanercept kết hợp với methotrexat, nhóm còn lại sử dụng methotrexat đơn thuần.

3.2. Đánh giá hiệu quả điều trị

Hiệu quả điều trị được đánh giá thông qua các chỉ số như điểm hoạt động bệnh (DAS28), mức độ đau và chức năng khớp. Kết quả cho thấy nhóm sử dụng etanercept có sự cải thiện rõ rệt hơn.

IV. Kết quả nghiên cứu về hiệu quả và an toàn của etanercept

Nghiên cứu cho thấy việc sử dụng etanercept kết hợp với methotrexat không chỉ mang lại hiệu quả điều trị cao mà còn đảm bảo tính an toàn cho bệnh nhân. Tỷ lệ bệnh nhân đạt được đáp ứng điều trị tốt là rất cao, đồng thời tỷ lệ tác dụng phụ cũng được kiểm soát tốt.

4.1. Tỷ lệ bệnh nhân đạt hiệu quả điều trị

Theo nghiên cứu, khoảng 70% bệnh nhân sử dụng etanercept kết hợp với methotrexat đạt được cải thiện đáng kể trong triệu chứng và chức năng khớp sau 12 tuần điều trị.

4.2. Đánh giá tính an toàn của etanercept

Tính an toàn của etanercept được đánh giá thông qua việc theo dõi các tác dụng phụ. Kết quả cho thấy tỷ lệ tác dụng phụ ở nhóm sử dụng etanercept là chấp nhận được, không có biến chứng nghiêm trọng nào được ghi nhận.

V. Kết luận và triển vọng tương lai trong điều trị viêm khớp dạng thấp

Việc kết hợp etanerceptmethotrexat trong điều trị VKDT đã mở ra một hướng đi mới trong việc kiểm soát bệnh. Nghiên cứu cho thấy hiệu quả và tính an toàn của phương pháp này, hứa hẹn sẽ mang lại nhiều lợi ích cho bệnh nhân trong tương lai.

5.1. Triển vọng nghiên cứu trong tương lai

Các nghiên cứu tiếp theo cần được thực hiện để đánh giá lâu dài về hiệu quả và an toàn của etanercept trong điều trị VKDT. Điều này sẽ giúp xác định rõ hơn vai trò của thuốc trong điều trị bệnh.

5.2. Tầm quan trọng của việc điều trị sớm

Điều trị sớm và tích cực với etanercept có thể giúp ngăn ngừa tổn thương khớp và cải thiện chất lượng sống cho bệnh nhân. Việc nâng cao nhận thức về bệnh và phương pháp điều trị là rất cần thiết.

25/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Viêm khớp dạng thấp (VKDT) là bệnh tự miễn dịch đặc trưng bởi quá trình viêm mạn tính các khớp. Bệnh VKDT nếu không được điều trị kịp thời sẽ dẫn tới tổn thương sụn khớp, huỷ xương gây dính và biến dạng khớp, ảnh hưởng rất lớn đến chức năng vận động và chất lượng sống của bệnh nhân. Mục đích điều trị bệnh VKDT là kiểm soát tình trạng viêm khớp, giảm đau, giảm hủy hoại khớp và cải thiện chức năng vận động. Các phương pháp điều trị chính trong VKDT là chống viêm, giảm đau và các thuốc điều trị cơ bản hay còn gọi là các thuốc chống thấp khớp làm thay đổi hình thái bệnh (Disease Modifying Anti-Rheumatic Drugs: DMARDs).

Các thuốc DMARDs đã được chứng minh cải thiện triệu chứng lâm sàng và làm chậm quá trình phá hủy khớp ở bệnh nhân VKDT. Tuy nhiên, ở rất nhiều bệnh nhân mặc dù đã được điều trị cơ bản vẫn tiếp tục có những đợt tiến triển dẫn đến dính và biến dạng khớp. Người ta thấy rằng, ở bệnh nhân VKDT, sự phá hủy khớp xảy ra với tốc độ nhanh nhất ngay trong những năm đầu tiên. 93% bệnh nhân VKDT có bất thường trên hình ảnh XQ khớp sau 2 năm mắc bệnh [46].

25% bệnh nhân VKDT bị tàn tật sau trung bình 6,4 năm mắc bệnh , 50% tàn tật sau 10 năm mắc bệnh [63]. Chính vì vậy quan điểm điều trị sớm và tích cực ngay từ đầu đang được rất nhiều tác giả ủng hộ[48],[50].Sự hiểu biết thêm về cơ chế bệnh sinh của bệnh VKDT và vai trò trung tâm của yếu tố hoại tử u (Tumor Necrosis Factor:TNF-α) trong bệnh sinh của VKDT đã dẫn đến sự ra đời của các thuốc ức chế TNF-α trong điều trị VKDT. Năm 1998, Etanercept (tên thương mại: Enbrel) là thuốc ức chế yếu tố hoại tử u đầu tiên được tổ chức thuốc và thực phẩm Hoa Kỳ phê chuẩn trong điều trị VKDT. Etanercept ức chế tác động của TNF-α bằng cách gắn với TNF- α, do vậy ngăn cản không cho TNF-α gắn với các receptor nội sinh trên bề mặt 11 tế bào đích, hạn chế được tác động của TNF-α trong quá trình bệnh sinh của VKDT, ngăn cản quá trình viêm và phá hủy sụn khớp [21].

Trên Thế Giới đã có rất nhiều nghiên cứu về hiệu quả và tính an toàn của Etanercept trong điều trị VKDT. Các nghiên cứu của Weinblatt ME (1999)[59], Van de Heije D (2005)[56], Emery P (2010)[28] đều cho thấy : Điều trị phối hợp Etanercept và Methotrexat có hiệu quả hơn so với điều trị Methotrexat và giả dược trong kiểm soát đợt tiến triển cũng như hạn chế phá hủy khớp. Ngay cả đối với các bệnh nhân VKDT dai dẳng, ít đáp ứng với điều trị cơ bản khi được điều trị phối hợp Etanercept và Methotrexat đều đem lại hiệu quả lui bệnh cao và hạn chế phá hủy xương khớp. Tại Việt Nam, Etanercept (Enbrel) là thuốc mới được đưa vào điều trị nên chưa có nghiên cứu nào về hiệu quả và tính an toàn của thuốc.Chính vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “ Đánh giá hiệu quả và tính an toàn của Etanercept ( Enbrel) phối hợp với Methotrexat trong điều trị Viêm khớp dạng thấp” với các mục tiêu sau: 1.Bước đầu đánh giá hiệu quả điều trị của Etanercept ( Enbrel) phối hợp với Methotrexat ở các bệnh nhân VKDT điều trị tại khoa Cơ xương khớp BV Bạch Mai sau 12 tuần điều trị .Nhận xét tính an toàn của Etanercept (Enbrel) phối hợp với Methotrexat trong điều trị Viêm khớp dạng thấp.

12 Chƣơng 1 TỔNG QUAN Bệnh VKDT đã được biết đến từ lâu. Garrod đề ra thuật ngữ viêm khớp dạng thấp năm 1858. Năm 1949, Steinbroker lần đầu tiên đưa ra tiêu chuẩn đánh giá tổn thương khớp trong VKDT trên Xquang. Năm 1958, Hội Thấp khớp học Mỹ (American College of Rheumatology - ACR) đề ra tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh VKDT (ACR 1958) gồm 11 tiêu chuẩn dựa vào lâm sàng, hình ảnh Xquang, mô bệnh học màng hoạt dịch và huyết thanh.

Đến năm 1987, hội này đã thống nhất cải tiến tiêu chuẩn chẩn đoán VKDT gồm 7 tiêu chuẩn (ACR 1987) mà hiện nay vẫn được ứng dụng trên lâm sàng [3] Đặc điểm chính của bệnh VKDT là tình trạng viêm mạn tính của các khớp được đặc trưng bởi viêm nhiều khớp đối xứng, thường kèm theo dấu hiệu cứng khớp buổi sáng và sự có mặt của yếu tố dạng thấp trong huyết thanh. Các biểu hiện ngoài khớp cũng rất phong phú: hạt dưới da, viêm phổi- màng phổi, viêm mạch, tổn thương tim…Bệnh chủ yếu gặp ở nữ giới tuổi trung niên. Mục đích điều trị nhằm kiểm soát quá trình miễn dịch và quá trình viêm khớp. Phòng ngừa phá hủy khớp, bảo tồn chức năng khớp, giảm thiểu tối đa các triệu chứng cải thiện chất lượng sống của người bệnh, tránh các biến chứng của bệnh và của các thuốc điều trị.

Giáo dục, tư vấn bệnh nhân, vật lý trị liệu và phục hồi chức năng cho bệnh nhân [9],[48],[50]. DỊCH TỄ HỌC, NGUYÊN NHÂN VÀ CƠ CHẾ BỆNH SINH 1.1 Dịch tễ học Bệnh VKDT gặp ở mọi nơi trên thế giới, chiếm khoảng 1% dân số Ở Việt Nam tỷ lệ bệnh VKDT chiếm 0,5% dân số và 20% các bệnh về khớp [1]. Bệnh thường gặp ở nữ giới với tỷ lệ nữ/nam thay đổi từ 3,5 đến 1 [2]. Tại khoa Cơ xương khớp 13 bệnh viện Bạch Mai từ 1991 - 2000, bệnh VKDT chiếm tỷ lệ 21,94% trong đó nữ chiếm 92,3%, lứa tuổi chiếm đa số là từ 36 - 65 (72,6%).

Bệnh có tính chất gia đình trong một số trường hợp [4], [7]. Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh của bệnh VKDT 1. Nguyên nhân Nguyên nhân gây bệnh chưa rõ ràng, gần đây người ta coi VKDT là một bệnh tự miễn dịch với sự tham gia của nhiều yếu tố. - Có giả thuyết cho rằng một số virus hay vi khuẩn phổ biến tác động vào yếu tố cơ địa thuận lợi (cơ thể suy yếu, mệt mỏi, chấn thương, phẫu thuật, mắc bệnh truyền nhiễm), hoặc yếu tố môi trường (lạnh ẩm kéo dài) làm khởi phát bệnh.

- Yếu tố di truyền: Từ lâu người ta đã nhận thấy bệnh VKDT có tính chất gia đình.Trong những năm gần đây có nhiều công trình nghiên cứu nói lên mối liên quan giữa bệnh VKDT và yếu tố kháng nguyên phù hợp tổ chức HLA DR4. Có khoảng 60 - 70% bệnh nhân VKDT mang yếu tố này, trong khi ở người bình thường chỉ có 15% [3]. Cơ chế bệnh sinh Kháng nguyên là các tác nhân gây bệnh xâm nhập vào cơ thể gây khởi phát một chuỗi các phản ứng miễn dịch, trong đó các tế bào lympho T đóng vai trò then chốt. Các tế bào lympho T, sau khi tiếp xúc với kháng nguyên, sẽ tập trung nhiều ở các khớp bị ảnh hưởng và giải phóng ra các cytokine như IL-2, IL- 4, IL-17, IL-6, TNF-α, RANKL…Vai trò của các cytokin này là tác động lên các tế bào khác, trong đó có 3 loại tế bào chủ yếu: Lympho B, đại thực bào và tế bào nội mô mạch máu màng hoạt dịch.

Dưới tác động của các cytokine trên các tế bào lympho B sẽ sản xuất ra yếu tố dạng thấp có bản chất là các immunoglobulin, từ đó tạo ra các phức hợp miễn dịch lắng đọng trong khớp và gây tổn thương khớp. Các cytokine cũng hoạt hóa đại thực bào sản xuất ra các cytokine như TNF-α, IL-1gây kích thích các tế bào màng hoạt dịch, tế bào sụn, nguyên bào xơ…tăng sinh, xâm lấn vào sụn tạo thành màng máu. 14 Các cytokine do tế bào lympho T tiết ra còn hoạt hóa các tế bào nội mô mao mạch màng hoạt dịch sản xuất ra các phân tử kết dính, thu hút các loại tế bào viêm đến khoang khớp. Các tế bào viêm này lại giải phóng ra các cytokine khác.

Hậu quả của các quá trình này là hình thành màng máu, hủy hoại sụn khớp, đầu xương dưới sụn, cuối cùng dẫn đến xơ hóa, dính và biến dạng khớp .1: Cơ chế bệnh sinh của VKDT [9] 1. TRIỆU CHỨNG HỌC BỆNH VIÊM KHỚP DẠNG THẤP 1.1 Triệu chứng lâm sàng Bệnh diễn biến mạn tính với các đợt tiến triển. Trong đợt tiến triển bệnh nhân thường sưng đau nhiều khớp, kèm theo sốt và có thể có các biểu hiện nội tạng [1]. Biểu hiện tại khớp: 15 Vị trí khớp tổn thương thường gặp nhất là các khớp ngón gần, bàn ngón, cổ tay, khuỷu, gối, cổ chân, bàn ngón chân hai bên.

Một số nghiên cứu cho thấy tại Việt Nam, các khớp xuất hiện tổn thương sớm nhất là khớp cổ tay (50 - 60%), khớp bàn ngón tay, khớp gối gặp với tỷ lệ tương đương là 10 - 15%[9]. Khớp viêm thường đối xứng hai bên. Tính chất khớp tổn thương: trong các giai đoạn tiến triển, các khớp sưng đau, nóng, ít khi đỏ. Đau kiểu viêm.

Các khớp ngón gần thường có dạng hình thoi. Các khớp thường bị cứng vào buổi sáng. Trong các đợt tiến triển, dấu hiệu cứng khớp buổi sáng này thường kéo dài trên một giờ. Thời gian này ngắn hoặc dài tuỳ theo mức độ viêm [4].

Nếu bệnh nhân được điều trị đúng cách khi chức năng khớp chưa bị tổn thương, chức năng khớp có thể bảo tồn. Nếu không điều trị, bệnh nhân sẽ có nhiều đợt tiến triển liên tiếp, hoặc sau một thời gian diễn biến mạn tính, các khớp nhanh chóng bị biến dạng sẽ khiến bệnh nhân trở thành tàn phế. Biểu hiện toàn thân và ngoài khớp: Hạt dưới da (hạt dạng thấp - Rheumatoid nodules) Có thể có một hoặc nhiều hạt. Vị trí xuất hiện của hạt này thường ở trên xương trụ gần khuỷu, trên xương chày gần khớp gối hoặc quanh các khớp nhỏ ở bàn tay.

Tính chất của hạt, chắc, không di động, không đau, không bao giờ vỡ. Các bệnh nhân ở Việt Nam ít gặp các hạt này (chỉ khoảng 4% số bệnh nhân có hạt dưới da) [9],[3]. Viêm mao mạch Biểu hiện dưới dạng hồng ban ở gan chân tay, hoặc các tổn thương hoại tử tiểu động mạch ở quanh móng, đầu chi; hoặc tắc mạch lớn thực sự gây hoạt thư. Triệu chứng này báo hiệu tiên lượng nặng.

Gân, cơ, dây chằng và bao khớp Các cơ cạnh khớp teo do giảm vận động. Có thể gặp triệu chứng viêm gân (thường gặp gân Achille), đôi khi có đứt gân (thường gặp ngón tay gần của ngón tay 16 thứ 4, 5). Các dây chằng có thể co kéo hoặc lỏng lẻo. Thường gặp kén khoeo chân (kén Baker), kén này có thể thoát xuống các cơ cẳng chân.

Biểu hiện nội tạng Các biểu hiện nội tạng (phổi, viêm màng phổi, cơ tim, van tim, màng ngoài tim.) hiếm gặp, thường xuất hiện trong các đợt tiến triển.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ