Tổng quan luận án

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Giun truyền qua đất (GTQĐ) là nhóm giun tròn ký sinh đường ruột có chu kỳ phát triển bắt buộc phải trải qua giai đoạn trứng hoặc ấu trùng ở ngoại cảnh môi trường đất, bao gồm ba nhóm chính: giun đũa (Ascaris lumbricoides), giun tóc (Trichuris trichiura) và giun móc/giun mỏ (Ancylostoma duodenale / Necator americanus). Theo các thống kê dịch tễ học quốc tế, bệnh phân bố rộng rãi tại các quốc gia nhiệt đới và cận nhiệt đới, gây tác hại âm thầm và mạn tính đối với sức khỏe con người, đặc biệt là sự phát triển thể chất và trí tuệ của trẻ nhỏ thông qua các cơ chế cạnh tranh dinh dưỡng, giảm hấp thu, dẫn tới suy dinh dưỡng thấp còi, nhẹ cân và thiếu máu mạn tính.

Tại Việt Nam, đặc biệt là các tỉnh miền núi phía Bắc như Điện Biên, Yên Bái, Hà Giang, điều kiện kinh tế - xã hội còn khó khăn, tập quán canh tác nông nghiệp sử dụng phân tươi cùng các thói quen sinh hoạt và vệ sinh môi trường chưa đảm bảo đã tạo điều kiện cho các mầm bệnh ký sinh trùng phát triển và lan truyền. Trước đây, các hướng dẫn điều trị và chương trình can thiệp phòng chống giun đường ruột chủ yếu chỉ định cho người trên 2 tuổi (tập trung vào nhóm trẻ mầm non từ 24–60 tháng tuổi, học sinh tiểu học và phụ nữ lứa tuổi sinh sản). Mặc dù từ năm 2006 Tổ chức Y tế Thế giới (TCYTTG) đã đưa ra khuyến cáo có thể tẩy giun tại cộng đồng cho trẻ từ 12 đến 23 tháng tuổi, việc triển khai chính sách này tại Việt Nam gặp nhiều khó khăn do thiếu hụt các dữ liệu thực địa có hệ thống về thực trạng nhiễm, cường độ nhiễm, cũng như bằng chứng khoa học về hiệu lực và tính an toàn của các loại thuốc tẩy giun dẫn xuất benzimidazol (Albendazol, Mebendazol) trên nhóm đối tượng trẻ từ 12–23 tháng tuổi.

Mục tiêu nghiên cứu

Luận án xác định 2 mục tiêu cụ thể:

  1. Xác định tỷ lệ, cường độ và một số yếu tố liên quan đến nhiễm giun truyền qua đất ở trẻ từ 12 - 23 tháng tuổi tại huyện Tuần Giáo (Điện Biên), Văn Yên (Yên Bái) và Mèo Vạc (Hà Giang), năm 2015.
  2. Đánh giá hiệu quả, tính an toàn của albendazol 200 mg, mebendazol 500mg liều duy nhất trong điều trị giun truyền qua đất ở trẻ từ 12 - 23 tháng tuổi tại các điểm nghiên cứu (2015 – 2016).

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Trẻ em từ 12 đến 23 tháng tuổi cư trú tại các địa bàn nghiên cứu (không phân biệt giới tính, dân tộc; có sự đồng ý tham gia của phụ huynh; loại trừ các trường hợp mắc bệnh bẩm sinh, bệnh mạn tính nặng như suy gan, suy thận, bệnh cấp tính hoặc đã uống thuốc tẩy giun trong vòng 2 tháng trước thời điểm điều tra) cùng bố, mẹ hoặc người trực tiếp chăm sóc trẻ tham gia trả lời phỏng vấn.
  • Phạm vi không gian: 26 xã thuộc 3 huyện miền núi: huyện Tuần Giáo (tỉnh Điện Biên - 9 xã), huyện Văn Yên (tỉnh Yên Bái - 8 xã) và huyện Mèo Vạc (tỉnh Hà Giang - 9 xã).
  • Phạm vi thời gian: Giai đoạn 2015–2016 (khảo sát dịch tễ học cắt ngang thực hiện từ tháng 1/2015 đến tháng 6/2015; can thiệp điều trị và theo dõi dọc sau 21 ngày, 3 tháng và 6 tháng trong giai đoạn 2015–2016).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trước trong và ngoài nước

Tổng quan tài liệu của luận án đã hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam về dịch tễ học, tác hại và điều trị GTQĐ:

  • Gánh nặng bệnh tật và tác hại lâm sàng: Nghiên cứu của Pullan (2010) ghi nhận trên toàn cầu có 819 triệu người nhiễm giun đũa, 464,6 triệu người nhiễm giun tóc và 439 triệu người nhiễm giun móc/mỏ; trong đó nhóm trẻ dưới 5 tuổi chiếm khoảng 10%. Về tác hại thiếu máu, Tạ Thị Tĩnh (2006) tại Thanh Hóa chỉ ra trẻ nhiễm giun móc có nguy cơ thiếu máu cao gấp 1,9 lần, nhiễm cường độ nặng có nguy cơ cao gấp 10,1 lần so với trẻ bình thường. Cao Bá Lợi (2011) tại Lạng Sơn xác định nhóm nhiễm giun tóc có nguy cơ thiếu máu cao gấp 2,1 lần và giun móc cao gấp 3,4 lần. Lê Thị Hương (2006) tại Phú Thọ ghi nhận mối liên quan giữa nhiễm giun tóc và thiếu máu với $OR = 2,00$. Nguyễn Hà Phương (2006) ghi nhận phụ nữ nhiễm giun móc/mỏ cường độ nặng có nguy cơ thiếu máu gấp 4,6 lần.
  • Tình hình nhiễm ở trẻ nhỏ trên thế giới: Kounavong (2011) khảo sát tại Savanakhet (Lào) ở trẻ 12–23 tháng ghi nhận tỷ lệ nhiễm ít nhất một loại giun là 28,8% (giun đũa 23,3%, giun tóc 4,1%, giun móc/mỏ 2,8%). Montresor (2003) ghi nhận tỷ lệ nhiễm ở trẻ 0–24 tháng tại Lào, Malaysia và Indonesia. Joseph (2016) tại Peru ghi nhận tỷ lệ nhiễm ở trẻ 12–14 tháng là 14,5% và tăng lên 28,5% sau 18 tháng. Teha Shumbej (2015) tại Ethiopia xác định tỷ lệ nhiễm ở trẻ 12–23 tháng là 14%. Kirwan (2009) tại Nigeria ghi nhận trẻ 12–25 tháng có tỷ lệ nhiễm 24,8%. Alemu (2016) tại Ethiopia ghi nhận tỷ lệ nhiễm giun đũa ở nhóm 13–24 tháng là 25,0%. Eliza Roy (2011) tại Bangladesh, Vincente Belizario (2016) tại Philippines và Mirisho (2017) tại Ghana cũng ghi nhận tỷ lệ nhiễm đáng kể ở trẻ nhỏ.
  • Tình hình nhiễm tại Việt Nam: Van der Hoek (2003) ước tính cả nước có 33,9 triệu người nhiễm giun đũa (44,4%), 17,6 triệu người nhiễm giun tóc (21,2%) và 21,8 triệu người nhiễm giun móc (28,6%). Silver (1990–2015) tổng hợp tỷ lệ nhiễm giun đũa là 52%, giun tóc 36% và giun móc/mỏ 29%. Điều tra của Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng Trung ương (2009) tại Điện Biên ở trẻ 24–60 tháng cho thấy tỷ lệ nhiễm giun đũa 45,1%, giun tóc 33,2%, giun móc/mỏ 1%. Nguyễn Thu Hương (2015) tại Hà Giang ghi nhận tỷ lệ nhiễm ở trẻ 12–23 tháng là 23,3%; tại Tam Đường (Lai Châu) ở trẻ 12–60 tháng là 23,5%. Nguyễn Phương Huyền (2016) ghi nhận tỷ lệ nhiễm ở trẻ 12–24 tháng tại Phúc Thọ là 5,67% và Ba Vì là 10,63%. Nguyễn Hoàng Linh Chi (2011) và Trần Thị Lan (2013) tại Đakrông (Quảng Trị) ghi nhận tỷ lệ nhiễm ở trẻ 12–23 tháng dao động từ 26% đến 27%. Nguyễn Đình Học (2014) tại Thái Nguyên, Chu Trọng Trang (2013) tại Nghệ An, Nguyễn Sơn (2013) tại Sơn La và Lê Ngọc Lượng (2014) tại Thanh Hóa đều phản ánh tỷ lệ nhiễm giun đường ruột ở mức cao tại các vùng nông thôn, miền núi.
  • Các yếu tố liên quan: Teha Shumbej (2015), Kirwan (2009), Alemu (2016), Aya (2007), Đỗ Thùy Trang (2007), Kattula (2014), Aleka (2015), Goel (2016), Parasibu (2019), Samuel (2017) và Belyhun (2010) đã phân tích các yếu tố như thói quen đi chân đất, chơi nghịch đất, không rửa tay bằng xà phòng, không cắt móng tay, nhà tiêu không hợp vệ sinh, trình độ học vấn của mẹ và số con trong gia đình.
  • Hiệu lực và tính an toàn của thuốc: Vercruysse (nghiên cứu tại 7 nước), Bruno (2014), Palupi (Indonesia), Taylor (1995), Annert Ehrhardt (2003–2004 tại Việt Nam) đánh giá tác dụng của thuốc trên trẻ lớn và người trưởng thành. Nghiên cứu trên trẻ dưới 24 tháng tuổi của Pamba (1998), Antonio (2002, 2003), Awasthi (1995, 2008), Steven (2017) và Joseph (2016) khẳng định tính an toàn và hiệu quả cải thiện thể trạng khi tẩy giun cho nhóm tuổi nhỏ.

Khoảng trống luận án giải quyết

Phần lớn các can thiệp và nghiên cứu dịch tễ học tại Việt Nam trước đây chỉ tập trung vào nhóm học sinh tiểu học hoặc trẻ từ 24 đến 60 tháng tuổi. Luận án giải quyết khoảng trống dữ liệu thực địa về tỷ lệ, cường độ nhiễm, các yếu tố nguy cơ dịch tễ học và đánh giá đối chứng hiệu lực (tỷ lệ sạch trứng, tỷ lệ giảm trứng), tính an toàn của Albendazol 200mg so với Mebendazol 500mg trên nhóm trẻ từ 12 đến 23 tháng tuổi tại các địa bàn khó khăn miền núi phía Bắc.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khái niệm

  • Đặc điểm sinh học và chu kỳ GTQĐ:
    • Giun đũa (Ascaris lumbricoides): Trứng theo phân ra ngoại cảnh phát triển thành trứng mang ấu trùng, lây qua đường tiêu hóa; ấu trùng thoát vỏ tại ruột non, chu du qua tĩnh mạch mạc treo, gan, tim phải, động mạch phổi lên phổi (giai đoạn III, IV), lên hầu họng và nuốt lại dạ dày - ruột non để phát triển thành giun trưởng thành (vòng đời khoảng 60 ngày, tuổi thọ 10–13 tháng).
    • Giun tóc (Trichuris trichiura): Chu kỳ không qua phổi; trứng mang ấu trùng xâm nhập qua đường tiêu hóa, ấu trùng thoát vỏ tại ruột non rồi di chuyển xuống cố định tại đại tràng và manh tràng (vòng đời khoảng 1 tháng, tuổi thọ 5–6 năm).
    • Giun móc/mỏ (Ancylostoma duodenale / Necator americanus): Trứng nở ngoài đất thành ấu trùng giai đoạn I, sau hai lần lột xác thành ấu trùng giai đoạn III xâm nhập xuyên qua da hoặc niêm mạc, theo máu qua tim, phổi, khí quản lên hầu họng rồi xuống tá tràng/ruột non bám vào niêm mạc hút máu (vòng đời 6–8 tuần; tuổi thọ giun móc 4–5 năm, giun mỏ 10–15 năm).
  • Cơ chế tác dụng dược lý:
    • Albendazol ($C_{12}H_{15}N_3O_2S$): Dẫn chất benzimidazol carbamat, ức chế tổng hợp ATP, ngăn cản hấp thu glucose, làm giảm tích lũy glycogen ở cả ấu trùng và con trưởng thành; chuyển hóa qua gan thành chất có hoạt tính albendazol sulfoxid (gắn protein huyết tương 70%, $T_{1/2} = 9$ giờ).
    • Mebendazol ($C_{16}H_{13}N_3O_3$): Dẫn xuất benzimidazol, gắn với các vi quản (tubulin) của ký sinh trùng, ức chế hấp thu glucose và làm cạn kiệt dự trữ glycogen; hấp thu đường uống dưới 20%, gắn protein huyết tương 95%, $T_{1/2} = 3\text{--}6$ giờ.
  • Tiêu chuẩn và chỉ số đánh giá:
    • Tỷ lệ nhiễm (TLN), Tỷ lệ đơn nhiễm, Tỷ lệ đa nhiễm (Đũa-Tóc, Đũa-Móc/mỏ, Đũa-Tóc-Móc/mỏ).
    • Tỷ lệ mới mắc sau 3 tháng và tỷ lệ mới mắc tích lũy (TLMMTL) sau 6 tháng.
    • Cường độ nhiễm (CĐN): Tính bằng số lượng trứng trong 1 gam phân (epg - eggs per gram).
    • Tỷ lệ sạch trứng (TLST), Tỷ lệ giảm trứng (TLGT) sau điều trị 21 ngày theo tiêu chuẩn TCYTTG.

Phương pháp nghiên cứu

  • Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp nghiên cứu can thiệp thử nghiệm thực địa có đối chứng và theo dõi dọc.
  • Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu:
    • Cỡ mẫu áp dụng công thức ước tính cho một tỷ lệ với mức sai số mong muốn $d = 0,055$, tính toán được cỡ mẫu tối thiểu $n = 389$ trẻ cho mỗi huyện.
    • Chọn mẫu chủ đích 26 xã khó khăn/đặc biệt khó khăn tại 3 huyện (tiêu chí: tỷ lệ hộ nghèo/cận nghèo $>55%$, trên $20%$ hộ chưa có nước sạch, trên $40%$ hộ chưa có nhà tiêu hợp vệ sinh):
      • Huyện Tuần Giáo (Điện Biên - 9 xã): Mường Mùn, Mường Chung, Quài Nưa, Quài Cang, Nà Sáy, Mường Thín, Quài Tở, Chiềng Sinh, Chiềng Đông ($N = 812$ trẻ).
      • Huyện Văn Yên (Yên Bái - 8 xã): An Thịnh, Đại Phác, Tân Hợp, Đại Sơn, Đông An, An Bình, Quang Minh, Ngòi A ($N = 764$ trẻ).
      • Huyện Mèo Vạc (Hà Giang - 9 xã): Lũng Chinh, Tát Ngà, Niêm Sơn, Nậm Ban, Sủng Trà, Niêm Tòng, Tả Lủng, Sủng Máng, Pả Vi ($N = 787$ trẻ).
    • Tại từng xã, lập danh sách trẻ đủ tiêu chuẩn và chọn mẫu theo phương pháp ngẫu nhiên hệ thống với khoảng cách mẫu $k = 2$.
  • Kỹ thuật thu thập dữ liệu và xét nghiệm:
    • Xét nghiệm phân định lượng bằng kỹ thuật Kato-Katz: Lọc phân qua lưới kim loại, đong bằng tấm đong tiêu chuẩn (lỗ đong 6 mm, tương đương 41,6 mg phân), phủ giấy bóng kính ngâm dung dịch phẩm nhuộm xanh malachite - glycerin, ép phẳng tiêu bản. Mỗi mẫu phân được làm 3 lam xét nghiệm độc lập; cường độ nhiễm (epg) bằng trung bình số trứng đếm được của 3 lam nhân với hệ số 24.
    • Phỏng vấn cấu trúc: Sử dụng bộ câu hỏi thiết kế sẵn dành cho cha/mẹ/người trực tiếp nuôi dưỡng trẻ để thu thập các biến số nhân khẩu học, học vấn, số con, điều kiện nguồn nước, loại nhà tiêu, kiến thức về bệnh giun và các hành vi vệ sinh thực tế.
  • Phân loại cường độ nhiễm theo tiêu chuẩn TCYTTG:
Loại giun Nhiễm nhẹ (epg) Nhiễm trung bình (epg) Nhiễm nặng (epg)
Giun đũa (Ascaris lumbricoides) 1 – 4.999 5.000 – 49.999 $\ge$ 50.000
Giun tóc (Trichuris trichiura) 1 – 999 1.000 – 9.999 $\ge$ 10.000
Giun móc/mỏ (Ancylostoma / Necator) 1 – 1.999 2.000 – 3.999 $\ge$ 4.000
  • Quy trình can thiệp và theo dõi điều trị:
    • Trẻ nhiễm giun được phân nhóm ngẫu nhiên dùng thuốc: Nhóm 1 uống Albendazol 200 mg liều duy nhất; Nhóm 2 uống Mebendazol 500 mg liều duy nhất.
    • Xét nghiệm phân đánh giá lại bằng Kato-Katz tại thời điểm 21 ngày sau điều trị để xác định TLST và TLGT.
    • Đánh giá tỷ lệ mới mắc tích lũy và tỷ lệ tái nhiễm tại các thời điểm 3 tháng và 6 tháng. Theo dõi và ghi nhận tác dụng không mong muốn (TDKMM) sau khi uống thuốc.
  • Xử lý số liệu và kiểm soát sai số:
    • Xử lý số liệu thống kê y học, sử dụng các thuật toán phân tích đơn biến, kiểm định Chi-bình phương ($\chi^2$) và phân tích mô hình hồi quy đa biến logistic (logistic regression) để xác định các yếu tố nguy cơ độc lập.
    • Kiểm soát sai số hệ thống và ngẫu nhiên thông qua tập huấn điều tra viên, chuẩn hóa dụng cụ đong phân, đọc 3 lam/mẫu và kiểm định chéo. Tuân thủ đạo đức nghiên cứu y sinh học (phê duyệt hội đồng, đồng thuận bằng văn bản của phụ huynh, bảo mật dữ liệu, điều trị bổ sung miễn phí cho trẻ).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tài liệu

Chương 1 tổng thuật các cơ sở lý luận và y văn chuyên ngành về:

  • Đặc điểm hình thái học, chu kỳ sinh học và cơ chế lây truyền của giun đũa, giun tóc, giun móc và giun mỏ.
  • Phân tích các hậu quả lâm sàng mạn tính: tình trạng suy dinh dưỡng nhẹ cân, thể thấp còi do giảm hấp thu chất dinh dưỡng; thiếu máu thiếu sắt mạn tính (đặc biệt do giun móc/mỏ hút máu tại niêm mạc tá tràng và tiết chất chống đông); các biến chứng ngoại khoa cấp tính như tắc ruột, lồng ruột, giun chui ống mật do giun đũa.
  • Đánh giá so sánh nguyên lý, ưu nhược điểm của các phương pháp xét nghiệm phân: phương pháp soi trực tiếp tìm ấu trùng/trứng, phương pháp Kato định tính và phương pháp Kato-Katz định lượng số trứng/gam phân (epg) phục vụ đánh giá dịch tễ học và hiệu quả can thiệp.
  • Cơ chế tác dụng sinh hóa và dược động học của hai thuốc dẫn xuất benzimidazol carbamat: Albendazol và Mebendazol.
  • Lịch sử nghiên cứu hiệu lực và tính an toàn của thuốc tẩy giun trên thế giới và tại Việt Nam trên các nhóm đối tượng người lớn, trẻ em trên 2 tuổi và trẻ nhỏ 12–23 tháng tuổi.
  • Các chiến lược phòng chống bệnh giun truyền qua đất tại cộng đồng theo khuyến nghị của TCYTTG và Bộ Y tế (cải thiện môi trường, xử lý nhà tiêu, vệ sinh an toàn thực phẩm, truyền thông giáo dục sức khỏe và điều trị tẩy giun hàng loạt - MDA).

Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 mô tả chi tiết quy trình tổ chức và triển khai nghiên cứu:

  • Trình bày đặc điểm địa lý, kinh tế - xã hội và tiền sử dịch tễ của 26 xã nghiên cứu thuộc 3 huyện: Tuần Giáo (Điện Biên), Văn Yên (Yên Bái) và Mèo Vạc (Hà Giang).
  • Tiêu chuẩn tuyển chọn và loại trừ đối tượng nghiên cứu; quy trình chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống với khoảng cách $k = 2$ từ danh sách trẻ 12–23 tháng tuổi tại các trạm y tế xã.
  • Quy trình chuẩn bị dụng cụ, hướng dẫn gia đình thu thập mẫu phân và quy trình thao tác kỹ thuật Kato-Katz 3 lam tại thực địa bởi cán bộ chuyên môn của Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng Trung ương.
  • Thiết kế can thiệp lâm sàng tại thực địa: phác đồ liều lượng Albendazol 200mg và Mebendazol 500mg, chỉ số đánh giá tỷ lệ sạch trứng (TLST), tỷ lệ giảm trứng (TLGT) sau 21 ngày, tỷ lệ mới mắc/tái nhiễm tại mốc 3 tháng và 6 tháng.
  • Hệ thống biến số nghiên cứu, định nghĩa biến số, thang đo, phương pháp phỏng vấn người nuôi dưỡng trẻ.
  • Phương pháp xử lý và phân tích số liệu thống kê; các giải pháp khắc phục sai số hệ thống, sai số ngẫu nhiên và đảm bảo y đức.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Chương 3 trình bày toàn bộ số liệu thu thập được thông qua 44 bảng số liệu và 4 biểu đồ/hình vẽ:

  • Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu: Cơ cấu phân bố theo nhóm tuổi (12–17 tháng và 18–23 tháng - phân theo mốc vận động biết đi của trẻ), giới tính, thành phần dân tộc thiểu số tại các huyện; độ tuổi, số con trung bình, trình độ học vấn, kiến thức phòng chống giun của cha mẹ và hiện trạng loại nhà tiêu của hộ gia đình (Bảng 3.1 đến Bảng 3.6).
  • Thực trạng nhiễm GTQĐ tại 3 huyện (năm 2015): Tỷ lệ nhiễm chung, tỷ lệ nhiễm từng loài giun (đũa, tóc, móc/mỏ), phân bố tỷ lệ nhiễm theo nhóm tuổi, giới tính và thành phần dân tộc; phân tích tỷ lệ đơn nhiễm và các thể đa nhiễm phối hợp (Bảng 3.7 đến Bảng 3.15, Hình 3.1).
  • Cường độ nhiễm giun: Mật độ trứng trung bình (epg) và phân loại các mức độ nhiễm nhẹ, nhiễm trung bình, nhiễm nặng theo phân loại của TCYTTG theo nhóm tuổi, giới tính và địa bàn (Bảng 3.16 đến Bảng 3.20).
  • Tỷ lệ nhiễm và mới mắc sau 3 tháng và 6 tháng: Tỷ lệ nhiễm giun trước và sau điều trị, biến thiên cường độ nhiễm, tỷ lệ đơn/đa nhiễm và tỷ lệ mới mắc tích lũy các loài GTQĐ tại mốc 3 tháng và 6 tháng (Bảng 3.21 đến Bảng 3.24).
  • Các yếu tố liên quan đến nhiễm GTQĐ: Phân tích đơn biến và mô hình hồi quy đa biến logistic về mối liên quan giữa tình trạng nhiễm giun ở trẻ với nhóm tuổi, trình độ học vấn của cha mẹ, kiến thức phòng chống, số con trong gia đình, hành vi rửa tay bằng xà phòng, cắt móng tay cho trẻ, thói quen chơi nghịch đất, loại nhà tiêu không hợp vệ sinh và tập quán dùng phân tươi bón ruộng (Bảng 3.25 đến Bảng 3.34).
  • Hiệu quả và tính an toàn của thuốc điều trị:
    • Tỷ lệ sạch trứng (TLST) và tỷ lệ giảm trứng (TLGT) sau 21 ngày điều trị của Albendazol 200mg và Mebendazol 500mg đối với từng loài giun, phân theo thể đơn nhiễm, đa nhiễm và theo cường độ nhiễm ban đầu (Bảng 3.35 đến Bảng 3.41, Hình 3.2 đến Hình 3.4).
    • So sánh tỷ lệ giảm trứng của hai thuốc với ngưỡng chuẩn của TCYTTG năm 2013 (Bảng 3.42).
    • Tỷ lệ tái nhiễm các loài giun sau 3 tháng và 6 tháng (Bảng 3.43).
    • Tỷ lệ và tính chất các tác dụng không mong muốn (TDKMM) ghi nhận sau khi uống thuốc (Bảng 3.44).

Chương 4: Bàn luận

Chương 4 tập trung bàn luận, so sánh và lý giải các kết quả nghiên cứu:

  • Phân tích thực trạng tỷ lệ nhiễm và cường độ nhiễm GTQĐ ở trẻ 12–23 tháng tuổi tại 3 huyện miền núi trong mối tương quan với các nghiên cứu trong nước (Điện Biên, Lạng Sơn, Lai Châu, Hà Giang, Thanh Hóa, Quảng Trị) và các nghiên cứu quốc tế (Lào, Malaysia, Indonesia, Peru, Ethiopia, Bangladesh, Philippines).
  • Lý giải đặc điểm dịch tễ: sự gia tăng tỷ lệ nhiễm theo lứa tuổi (nhóm 18–23 tháng cao hơn nhóm 12–17 tháng gắn liền với khả năng vận động, tiếp xúc môi trường đất khi biết đi), tính chất đơn nhiễm chiếm ưu thế và cường độ nhiễm chủ yếu ở mức độ nhẹ và trung bình.
  • Bàn luận về tỷ lệ mới mắc tích lũy sau 3 tháng, 6 tháng và nguy cơ tái nhiễm nhanh chóng trong điều kiện môi trường ngoại cảnh còn tồn lưu mật độ trứng giun cao.
  • Phân tích sâu các yếu tố nguy cơ độc lập từ mô hình hồi quy logistic: mối liên hệ nhân quả giữa hành vi chăm sóc của người mẹ, thói quen vệ sinh của trẻ, điều kiện nguồn nước, việc sử dụng nhà tiêu không hợp vệ sinh và tập quán sử dụng phân tươi trong canh tác nông nghiệp.
  • Bàn luận về hiệu lực điều trị: so sánh chỉ số TLST và TLGT của Albendazol 200mg và Mebendazol 500mg đối với giun đũa, giun tóc, giun móc/mỏ; đối chiếu với các thử nghiệm quốc tế của TCYTTG, Vercruysse, Bruno; phân tích nguyên nhân đáp ứng khác nhau giữa các loài giun (hiệu quả cao trên giun đũa, trung bình trên giun tóc và giun móc).
  • Đánh giá tính an toàn của thuốc tẩy giun trên trẻ dưới 2 tuổi: tần suất xuất hiện và mức độ của các phản ứng bất lợi (thoáng qua, tự hồi phục, không cần can thiệp y tế phức tạp), khẳng định tính khả thi của việc đưa phác đồ vào điều trị mở rộng tại cộng đồng.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt khoa học và thực tiễn

  1. Dữ liệu dịch tễ học hệ thống trên nhóm trẻ 12–23 tháng tuổi: Cung cấp bức tranh dịch tễ học đầy đủ, chuẩn xác về tỷ lệ nhiễm, cường độ nhiễm, cơ cấu loài và tỷ lệ mới mắc tích lũy của giun truyền qua đất ở trẻ từ 12 đến 23 tháng tuổi tại các huyện vùng núi đặc biệt khó khăn (Tuần Giáo - Điện Biên, Văn Yên - Yên Bái, Mèo Vạc - Hà Giang).
  2. Xác định các yếu tố nguy cơ can thiệp được: Xác định rõ các yếu tố nguy cơ độc lập có ý nghĩa thống kê liên quan đến nhiễm GTQĐ ở trẻ nhỏ (học vấn và kiến thức phòng bệnh của cha mẹ, số con trong gia đình, hành vi rửa tay bằng xà phòng, cắt móng tay, trẻ chơi nghịch đất, nhà tiêu không hợp vệ sinh và thói quen dùng phân tươi bón ruộng), cung cấp bằng chứng cho việc thiết kế các can thiệp truyền thông thay đổi hành vi.
  3. Bằng chứng thực địa về hiệu lực và tính an toàn của phác đồ điều trị: Chứng minh trên thực địa rằng phác đồ Albendazol 200mg liều duy nhất và Mebendazol 500mg liều duy nhất đạt hiệu lực cao (về tỷ lệ sạch trứng và tỷ lệ giảm trứng đáp ứng tiêu chuẩn TCYTTG) và có độ an toàn cao khi sử dụng cho trẻ từ 12 đến 23 tháng tuổi.
  4. Cơ sở khoa học cho chính sách y tế công cộng: Kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học thực tiễn vững chắc để Bộ Y tế và các chương trình phòng chống bệnh ký sinh trùng quốc gia xem xét, cập nhật phác đồ và mở rộng diện bao phủ tẩy giun định kỳ cho nhóm trẻ từ 12 đến 23 tháng tuổi tại Việt Nam.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Đưa nhóm trẻ từ 12 đến 23 tháng tuổi vào diện đối tượng được tẩy giun định kỳ trong các chương trình y tế dự phòng tại các vùng có tỷ lệ nhiễm cao, có thể lồng ghép với các chiến dịch uống Vitamin A hàng năm.
  • Sử dụng Albendazol 200mg hoặc Mebendazol 500mg liều duy nhất làm phác đồ chuẩn cho trẻ từ 12–23 tháng tuổi tại cộng đồng.
  • Đẩy mạnh công tác truyền thông giáo dục sức khỏe, hướng dẫn người chăm sóc trẻ thực hành rửa tay bằng xà phòng, cắt móng tay, không để trẻ chơi đất bẩn; vận động xây dựng và sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh, chấm dứt tập quán bón phân tươi chưa qua xử lý.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu

  • Nghiên cứu được triển khai tập trung tại 26 xã khó khăn/đặc biệt khó khăn thuộc 3 huyện miền núi phía Bắc (Điện Biên, Yên Bái, Hà Giang), do đó các đặc điểm dịch tễ học mang tính đặc thù cao của vùng sinh thái miền núi nông thôn, chưa phản ánh đầy đủ thực trạng tại các vùng đồng bằng hoặc đô thị.
  • Thời gian theo dõi dọc sau can thiệp dừng lại ở mốc 6 tháng, chưa đánh giá được bức tranh dịch tễ học tái nhiễm và hiệu quả duy trì sau nhiều năm can thiệp tẩy giun hàng loạt (MDA) liên tục.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Mở rộng nghiên cứu đánh giá hiệu quả can thiệp định kỳ dài hạn (trên 12–24 tháng) khi lồng ghép tẩy giun cho trẻ 12–23 tháng tuổi trong các chiến dịch y tế quốc gia.
  • Đánh giá sự cải thiện về các chỉ số nhân trắc học (chiều cao, cân nặng), tình trạng thiếu máu và sự phát triển nhận thức của trẻ nhỏ sau các đợt tẩy giun định kỳ.
  • Tiếp tục nghiên cứu giám sát độ nhạy cảm và nguy cơ kháng thuốc của các loài GTQĐ đối với nhóm thuốc benzimidazol tại các địa bàn triển khai can thiệp diện rộng kéo dài.

Giá trị tham khảo

Đối tượng thụ hưởng

  • Các nhà quản lý y tế và hoạch định chính sách: Cán bộ Cục Y tế Dự phòng, Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng Trung ương, các Trung tâm Kiểm soát bệnh tật (CDC) tỉnh/thành phố sử dụng làm căn cứ xây dựng hướng dẫn chuyên môn và phân bổ nguồn lực phòng chống bệnh ký sinh trùng.
  • Bác sĩ lâm sàng và cán bộ y tế cơ sở: Bác sĩ chuyên khoa Nhi, Ký sinh trùng, y tế dự phòng và nhân viên y tế tuyến xã/huyện tham khảo hướng dẫn chẩn đoán, lựa chọn liều lượng thuốc Albendazol (200mg) và Mebendazol (500mg) an toàn cho trẻ dưới 2 tuổi.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên y khoa: Tài liệu tham khảo về phương pháp thiết kế nghiên cứu dịch tễ học ký sinh trùng đường ruột, kỹ thuật định lượng Kato-Katz và quy trình phân tích các yếu tố nguy cơ bằng mô hình hồi quy đa biến.

Nội dung đáng tham khảo

  • Quy trình triển khai kỹ thuật xét nghiệm Kato-Katz chuẩn hóa với 3 lam/mẫu để xác định chính xác cường độ nhiễm (epg).
  • Phương pháp thiết kế can thiệp thực địa, theo dõi dọc các chỉ số TLST, TLGT, tỷ lệ mới mắc tích lũy và giám sát tác dụng không mong muốn của thuốc tẩy giun trên nhóm trẻ nhỏ.
  • Bộ biến số và phương pháp phân tích hồi quy logistic đánh giá các yếu tố nguy cơ hành vi và môi trường liên quan đến bệnh giun truyền qua đất.

Câu hỏi thường gặp

1. Mục tiêu nghiên cứu chính của luận án là gì?

Luận án thực hiện 2 mục tiêu: (1) Xác định tỷ lệ, cường độ và một số yếu tố liên quan đến nhiễm giun truyền qua đất ở trẻ từ 12–23 tháng tuổi tại huyện Tuần Giáo (Điện Biên), Văn Yên (Yên Bái) và Mèo Vạc (Hà Giang) năm 2015; (2) Đánh giá hiệu quả, tính an toàn của Albendazol 200mg và Mebendazol 500mg liều duy nhất trong điều trị giun truyền qua đất ở nhóm trẻ này giai đoạn 2015–2016.

2. Kỹ thuật xét nghiệm phân nào được sử dụng để định lượng trứng giun trong nghiên cứu?

Nghiên cứu sử dụng kỹ thuật Kato-Katz định lượng. Phân được lọc qua lưới kim loại, đong bằng tấm đong 41,6 mg (lỗ 6 mm), đặt mảnh celophan ngâm dung dịch phẩm nhuộm xanh malachite và glycerin. Mỗi mẫu phân được làm 3 lam xét nghiệm; số trứng đếm được trung bình cộng của 3 lam nhân với hệ số 24 để xác định số trứng trong 1 gam phân (epg), từ đó phân loại cường độ nhiễm theo tiêu chuẩn của TCYTTG.

3. Liều lượng thuốc Albendazol và Mebendazol được chỉ định cho trẻ 12–23 tháng tuổi trong nghiên cứu là bao nhiêu?

Liều lượng sử dụng trong nghiên cứu tuân thủ khuyến cáo của TCYTTG và hướng dẫn của Bộ Y tế: Albendazol dùng liều duy nhất 200 mg (bằng 1/2 liều người lớn); Mebendazol dùng liều duy nhất 500 mg.

4. Địa bàn nghiên cứu được lựa chọn dựa trên những tiêu chí cụ thể nào?

Nghiên cứu chọn chủ đích 26 xã thuộc 3 huyện miền núi (Tuần Giáo - Điện Biên, Văn Yên - Yên Bái, Mèo Vạc - Hà Giang) dựa trên các tiêu chí xã đặc biệt khó khăn hoặc khó khăn: tổng tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo từ 55% trở lên; trên 20% số hộ chưa có nước sinh hoạt hợp vệ sinh; trên 40% số hộ chưa có nhà tiêu hợp vệ sinh theo quy định của Bộ Y tế.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Vũ Thị Lâm Bình đã giải quyết một vấn đề y tế công cộng quan trọng thông qua việc cung cấp các bằng chứng dịch tễ học toàn diện về thực trạng và yếu tố nguy cơ nhiễm giun truyền qua đất ở trẻ từ 12 đến 23 tháng tuổi tại 3 huyện miền núi phía Bắc. Nghiên cứu đã chứng minh trên thực địa hiệu lực điều trị cao và tính an toàn của phác đồ Albendazol 200mg và Mebendazol 500mg liều duy nhất trên trẻ nhỏ. Các kết quả này cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn giá trị phục vụ công tác xây dựng chính sách, mở rộng hướng dẫn tẩy giun định kỳ cho nhóm trẻ từ 12 đến 23 tháng tuổi trong các chương trình y tế quốc gia tại Việt Nam.