Chương I. Tổng quan Cà Mau là một trong 13 tỉnh, thành phố thuộc khu vực đồng bằng Sông Cửu Long, nằm ở cực nam của Tổ quốc, có địa thế như một bán đảo với diện tích tự nhiên 5.329 km2 bao gồm 08 huyện, 01 thành phố và 97 xã, phường, thị trấn. Tiềm năng và thế mạnh của tỉnh là nuôi trồng, đánh bắt thủy sản, phát triển du lịch sinh thái, công nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩu, các ngành công nghiệp chế biến các sản phẩm từ nguồn khí tự nhiên với trữ lượng lớn khí ở vùng thềm lục địa trong đó kinh tế thuỷ sản được xác định là ngành kinh tế có tầm quan trọng bậc nhất của tỉnh. Trong bối cảnh như vậy, việc xây dựng các chính sách nhằm hỗ trợ phát triển ngành thuỷ sản của tỉnh một cách bền vững toàn diện là hết sức cần thiết và trên thực tế cũng đã cho thấy chính quyền các cấp của tỉnh Cà Mau đã và đang tiếp tục nỗ lực nhằm đạt được mục tiêu này.
Cho đến nay, ngành thuỷ sản tỉnh Cà Mau cũng đã đạt được khá nhiều thành tựu to lớn: Sản lượng khai thác, nuôi trồng thủy sản đạt 260.000 tấn (sản lượng khai thác ~ 140.000 tấn), tăng 7,8%; trong đó sản lượng tôm nuôi 83. Nhờ có nguồn nguyên liệu dồi dào, các nhà máy đã chế biến hàng thủy sản được 75. Nổi bật là kim ngạch xuất khẩu thủy sản đạt 520 triệu USD, tăng 10,87%, góp phần lớn vào kim ngạch xuất khẩu thủy sản chung của cả nước. Các kết quả này đã đóng góp không nhỏ vào sự tăng trưởng kinh tế không ngừng của tỉnh (Tổng giá trị sản phẩm (GDP) giai đoạn 1991 - 2000 tăng 7,75%/năm; giai đoạn 2001 - 2005 tăng 11,36%/năm, riêng năm 2005 tăng 12,4%).
Bên cạnh những thành tựu rất đáng khích lệ đó ngành thuỷ sản Cà Mau hiện đã và đang phải đối mặt với những thách thức không nhỏ mà nếu không được giải quyết kịp thời sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của ngành trong tương lai. Hiện nay, hai tiểu ngành sản xuất chính của ngành thuỷ sản tỉnh Cà Mau cũng như của Việt Nam là khai thác và nuôi trồng thuỷ sản đều đang đứng trước những thách thức lớn: thị trường, các rào cản thương mại và kĩ thuật, vấn đề dịch bệnh, khoa học công nghệ… cần có các điều chỉnh kịp thời nhằm đảm bảo nguồn nguyên liệu cho chế biến và xuất khẩu - một trong những mục tiêu chính của ngành thuỷ sản Việt Nam hiện nay. 1 Chính vì vậy, việc đánh giá lại hiện trạng hoạt động sản xuất của các tiểu ngành này là hết sức cần thiết để trên cơ sở đó xây dựng các chính sách phát triển ngành một cách phù hợp kể cả đối với phạm vi tỉnh Cà Mau nói riêng hay đối với toàn Việt Nam nói chung. Cho đến thời điểm hiện tại, việc đánh giá hiện trạng của ngành khai thác hải sản Việt Nam nói chung và tỉnh Cà Mau nói riêng vẫn còn là một nhiệm vụ đang tiếp tục phải hoàn thành và cập nhật càng sớm càng tốt.
Theo thống kê, hiện đã có một số các đề tài nghiên cứu đánh giá lại hiện trạng ngành khai thác hải sản Việt Nam nhưng chủ yếu là các đánh giá đối với một vài vùng trọng điểm về khai thác hải sản và trên phạm vi cả nước chứ chưa có nghiên cứu chi tiết cho tất cả các tỉnh ven biển của Việt Nam. Thực tế ngành khai thác hải sản Việt Nam cho thấy ngành này cần phải được đánh giá lại và quy hoạch phát triển chi tiết, đặc biệt là đối với một số địa phương trọng điểm như Cà Mau, Kiên Giang, Bà Rịa Vũng Tàu… nhằm tiến tới mục tiêu phát triển bền vững. Hiện nay, hàng năm các cơ quan quản lí ngành thuỷ sản cấp tỉnh của Cà Mau đều có đánh giá tổng kết tình hình thực hiện kế hoạch năm nhưng các báo cáo đánh giá tổng kết này chỉ đơn thuần là các thống kê về hiện trạng tàu thuyền, sản lượng… Về nghiên cứu khoa học cho đến nay mới chỉ có một đề tài nghiên cứu của Bộ Thuỷ sản được thực hiện nhằm đánh giá lại hiện trạng ngành khai thác hải sản tại một số vùng trọng điểm trong đó có tỉnh Cà Mau. Tuy nhiên, các đề tài này cũng chỉ dừng lại ở mức độ nêu lên hiện trạng ngành khai thác hải sản mà chưa đưa ra được hoặc ít đề cập đến việc đề xuất các chính sách cần thiết một cách cụ thể nhằm cải thiện và phát triển ngành này một cách bền vững.
Trên cơ sở thừa kế các kết quả của đề tài nghiên cứu đã có (Tổng quan nghề cá tỉnh Cà Mau), nghiên cứu này được tiến hành nhằm cụ thể hoá các kết quả đánh giá hiệu quả kinh tế ngành khai thác hải sản tỉnh Cà Mau và điểm mới cơ bản của nghiên cứu này là việc đánh giá các yếu tố ảnh hưởng làm cơ sở để đưa ra các đề xuất chính sách phát triển ngành khải thác hải sản tỉnh Cà Mau một cách bền vững trên cơ sở các tính toán khoa học. Nghiên cứu thành công sẽ có thể làm cơ sở tham khảo cho các hoạt động đánh giá tác động và đề xuất giải pháp phát triển trong tương lai đối với ngành khai thác hải sản nói riêng và cả ngành thuỷ sản nói chung. Cơ sở lý luận chung Hiệu quả kinh tế là một khái niệm được sử dụng rất phổ biến trong xem xét đánh giá các ngành sản xuất. Về mặt khái niệm chung, hiệu quả kinh tế được hiểu là “Không có hoang phí trong cách sử dụng nguồn lực của nền kinh tế để sản xuất ra hàng hóa và dịch vụ nhằm mang lại lợi ích lớn nhất với chi phí thấp nhất”.
Tuy nhiên, tuỳ thuộc từng ngành kinh tế khác nhau mà hiệu quả kinh tế được đánh giá bằng các chỉ tiêu khác nhau. Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế đầu tiên là lợi nhuận và là chỉ tiêu đánh giá chung đối với ngành khai thác hải sản cũng như mọi ngành sản xuất khác trong nền kinh tế quốc dân. Ngoài ra, các chỉ tiêu về doanh thu, chi phí cũng thường được xem xét để đánh giá quy mô sản xuất. Chỉ tiêu về vốn bao gồm cả vốn tự có và tín dụng cũng cần được xem xét nhằm đánh giá khả năng đầu tư mỏ rộng của ngành sản xuất này.
Chỉ tiêu về tỷ suất lợi nhuận trước lãi trên vốn đầu tư được xem xét nhằm đánh giá tính hiệu quả của đầu tư và qua đó cho thấy tầm quan trọng của vốn tín dụng. Ngành khai thác hải sản Việt Nam với đặc thù là nghề cá nhân dân, quy mô nhỏ, cách thức tổ chức sản xuất rất không nhất quán, cách thức phân bổ thu nhập, chi phí cũng hết sức khác nhau giữa các vùng, các nghề làm cho việc đánh giá hiệu quả kinh tế gặp khá nhiều khó khăn. Với thực tế như vậy, đánh giá hiệu quả kinh tế khai thác hải sản Việt Nam nói chung và của tỉnh Cà Mau nói riêng cần phải thực hiện dựa trên các số liệu điều tra và thống kê theo từng nghề (ngư cụ) với từng loại công suất cụ thể và theo từng địa phương. Các lý thuyết về sản xuất Hàm sản xuất Cobb-Douglas được coi là dạng hàm sản xuất thích hợp nhất ứng dụng phân tích nguồn gốc tăng trưởng trong thực tiễn.
Hàm tổng quát có dạng : Y = a Lα Kβ Y : Tổng sản phẩm quốc nội K : Quy mô về vốn sản xuất L : Quy mô về lao động 3 a : Hệ số tăng trưởng tự định hay hệ số cắt trục tung. Ngoài ra, trong phân tích phát triển kinh tế hiện đại ‘a’ còn được coi như là đại diện cho một số các yếu tố như khoa học công nghệ, thể chế chính sách… và được xem như yếu tố chất lượng của tăng trưởng kinh tế α và β là các hệ số co dãn từng phần lần lượt theo vốn và lao động Trong nghiên cứu này, với dạng hàm sản xuất Cobb-Douglas áp dụng cho mô hình nghiên cứu hiệu quả kinh tế và chính sách phát triển ngành khai thác hải sản trong đó Y được thay thế bằng yếu tố lợi nhuận ròng của khai thác hải sản; K vẫn là yếu tố vốn với đại diện là giá trị đầu tư cho khai thác hải sản; L được thay thế bằng yếu tố trình độ lao động khai thác hải sản; và cuối cùng là yếu tố chi phí được đưa vào để giải thích một cách trực tiếp cho sự thay đổi của lợi nhuận trong khai thác hải sản, ngoài ra một số các yếu tố khác cũng được đưa vào để nghiên cứu thêm về tác động của nó đối với hiệu quả sản xuất như vốn vay hay khả năng đánh bắt xa bờ của tàu thuyền… 3. Các lý thuyết về kinh tế phát triển Trên thực tế, có rất nhiều các lý thuyết về kinh tế phát triển, tuy nhiên các lý thuyết này đều có những mục tiêu chung là phải duy trì được tăng trưởng kinh tế ổn định trong dài hạn; thay đổi được cơ cấu nền kinh tế; cải thiện được chất lượng cuộc sống của đại bộ phận dân cư; và đảm bảo giữ gìn và bảo vệ môi trường sinh thái tự nhiên trong quá trình phát triển kinh tế. Phát triển kinh tế sẽ bao hàm các nội dung rộng hơn tăng trưởng kinh tế vì nó được đề cập đến sự biến đổi của nhiều khía cạnh hơn.
Phát triển bền vững được xem là quá trình hướng tới sự khắc phục những mặt trái của quá trình phát triển. Xem xét quá trình phát triển kinh tế của một quốc gia thông thường sẽ phải xem xét 4 nhóm yếu tố phản ánh các mặt tăng trưởng kinh tế, thay đổi cơ cấu kinh tế, tiến bộ xã hội và môi trường. Trong khoảng 10 năm trở lại đây, khái niệm về phát triển bền vững đã được đề cập đến ngày càng thường xuyên hơn trong các nghiên cứu phát triển. Đó là sự phát triển đáp ứng những nhu cầu hiện tại nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau.
Quan niệm phát triển này nhấn mạnh đến vấn đề sử dụng hiệu quả nguồn 4 lợi tự nhiên và đảm bảo, giữ gìn môi trường sống trong quá trình phát triển. Các lý thuyết về phát triển bền vững ngày càng được hoàn thiện và hiện nay trong phát triển bền vững đã đề cập cả đến các yếu tố như xã hội, thể chế chính sách… Thuỷ sản là một ngành sản xuất phụ thuộc nhiều vào nguồn lợi tự nhiên nên khác với nhiều ngành khác ngành này sẽ phải gắn chặt với khái niệm về phát triển bền vững nhằm đảm bảo sự phát triển ổn định và lâu dài.