CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN 1. Tổng quan về hiệu quả hoạt động kinh doanh 1. Khái niệm hiệu quả kinh doanh Hiện nay có rất nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả kinh doanh. Tùy theo từng lĩnh vực nghiên cứu mà người ta đưa ra các quan điểm khác nhau về hiệu quả kinh doanh.
Dưới đây là một số quan điểm về hiệu quả kinh doanh: Nhà kinh tế học người Anh, Adam Smith, cho rằng: "Hiệu quả là kết quả đạt được trong hoạt động kinh tế, doanh thu tiêu thụ hàng hoá"[4]. Theo quan điểm này của Adam Smith đã đồng nhất hiệu quả với chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất kinh doanh. Hạn chế của quan điểm này là kết quả sản xuất kinh doanh có thể tăng lên do chi phí sản xuất tăng hay do mở rộng sử dụng các nguồn lực sản xuất. Nếu với cùng một kết quả sản xuất kinh doanh có hai mức chi phí khác nhau thì theo quan điểm này cũng có hiệu quả.
Quan điểm này chỉ đúng khi kết quả sản xuất kinh doanh tăng với tốc độ nhanh hơn tốc độ tăng của chi phí đầu vào của sản xuất. Quan điểm thứ hai cho rằng: "Hiệu quả kinh doanh là quan hệ tỉ lệ giữa phần tăng thêm của phần kết quả và phần tăng thêm của chi phí"[4]. Quan điểm này đã xác định hiệu quả trên cơ sở so sánh tương đối giữa kết quả đạt được với phần chi phí bỏ ra để có được kết quả đó. Nhưng xét trên quan niệm của triết học Mác-Lênin thì sự vật hiện tượng đều có quan hệ ràng buộc có tác động qua lại lẫn nhau chứ không tồn tại một cách riêng lẻ.
Hơn nữa sản xuất kinh doanh là một quá trình tăng thêm có sự liên hệ mật thiết với các yếu tố có sẵn. Chúng trực tiếp hoặc gián tiếp tác động làm kết quả sản xuất kinh doanh thay đổi. Hạn chế của quan điểm này là nó chỉ xem xét hiệu quả trên cơ sở so sánh phần tăng thêm của kết quả và phần tăng thêm của chi phí, và nó không xem xét đến phần chi phí và phần kết quả ban đầu. Do đó theo quan điểm này chỉ đánh giá được hiệu quả của phần kết quả sản xuất 4 kinh doanh mà không đánh giá được toàn bộ hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Quan điểm thứ ba cho rằng: "Hiệu quả kinh doanh được đo bằng hiệu số giữa kết quả và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó"[4].Quan niệm này có ưu điểm là phản ánh được mối quan hệ bản chất của hiệu quả kinh tế. Nó gắn được kết quả với toàn bộ chi phí, coi hiệu quả là sự phản ánh trình độ sử dụng các yếu tố sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên quan điểm này chưa phản ánh được tương quan về lượng và chất giữa kết quả và chi phí. Để phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực chúng ta phải cố định một trong hai yếu tố hoặc kết quả đầu ra hoặc chi phí bỏ ra, nhưng trên thực tế thì các yếu tố này không ở trạng thái tĩnh mà luôn biến đổi và vận động.
Quan điểm thứ tư cho rằng: "Hiệu quả kinh doanh là mức độ thoả mãn yêu cầu quy luật cơ bản của chủ nghĩa xã hội, cho rằng quỹ tiêu dùng với tư cách là chỉ tiêu đại diện cho mức sống của mọi người trong doanh nghiệp"[4]. Quan điểm này có ưu điểm là bám sát mục tiêu tinh thần của nhân dân. Nhưng khó khăn ở đây là phương tiện đó nói chung và mức sống nói riêng là rất đa dạng và phong phú, nhiều hình nhiều vẻ phản ánh trong các chỉ tiêu mức độ thoả mãn nhu cầu hay mức độ nâng cao đời sống nhân dân. Quan điểm thứ năm cho rằng: "Hiệu quả kinh doanh là chỉ tiêu kinh tế-xã hội tổng hợp để lựa chọn các phương án hoặc các quyết định trong quá trình hoạt động thực tiễn ở mọi lĩnh vực kinh doanh và tại mọi thời điểm.
Bất kỳ các quyết định cần đạt được phương án tốt nhất trong điều kiện cho phép, giải pháp thực hiện có tính cân nhắc, tính toán chính xác phù hợp với sự tất yếu của quy luật khách quan trong từng điều kiện cụ thể".[1] Từ những quan điểm trên, theo quan điểm của tác giả: Hiệu quả hoạt động kinh doanh là một thuật ngữ dường như là câu cửa miệng của các nhà kinh doanh trong tất cả mọi lĩnh vực trong xã hội. Từ đó ta có thể nhận thấy nó có một vai trò rất to lớn trong hoạt động kinh doanh. Hiệu quả hoạt động kinh doanh của tổ chức tài chính là một phạm trù kinh tế, phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực đã có để đạt được kết quả cao nhất với tổng chi phí nhỏ nhất. 5 Bất kỳ một hoạt động sản xuất, kinh doanh nào cũng đòi hỏi chi phí bỏ ra và thường đạt được một số kết quả nhất định.
Mối quan hệ giữa chi phí bỏ ra và kết quả thu về gọi là hiệu quả. Hiệu quả kinh doanh của tổ chức tài chính được đo lường một cách tổng quát thông qua tỷ lệ giữa lợi nhuận đối với tổng tài sản và vốn chủ sở hữu. Lợi nhuận phản ánh khả năng sinh lời của tổ chức tài chính, nó được quyết định bởi mức lãi thu được từ các khoản cho vay và đầu tư, bởi các nguồn thu từ hoạt động dịch vụ, bởi chất lượng và thành phần của các tài sản có (Lê Văn Tư và cộng sự, 2000). Hiệu quả hoạt động kinh doanh của các tổ chức tài chính quyết định trực tiếp tới vấn đề tồn tại và phát triển của mỗi tổ chức tài chính.
Nếu tổ chức tài chính hoạt động có hiệu quả thì uy tín được tăng lên, người gửi tiền sẽ yên tâm và tin tưởng, công tác huy động vốn sẽ thuận lợi hơn và ngày càng tăng trưởng. Đây là yếu tố quan trọng cho việc mở rộng quy mô hoạt động kinh doanh của tổ chức tài chính và làm tăng lợi nhuận. Khi lợi nhuận được tích lũy ngày càng tăng thì tổ chức tài chính sẽ có điều kiện thuận lợi để cải tiến kỹ thuật, nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ để thu hút khách hàng và tạo ra hiệu quả ngày càng cao. Chính vì vậy mà các tổ chức tài chính luôn coi hiệu quả là mục tiêu quan trọng hàng đầu trong hoạt động kinh doanh.
Hiệu quả hoạt động của các tổ chức tài chính phải được xem xét một cách toàn diện cả về mặt thời gian và không gian trong mối quan hệ với hiệu quả của toàn bộ nền kinh tế. Hiệu quả hoạt động của các tổ chức tài chính có thể chia thành: hiệu quả đối với nền kinh tế - xã hội, hiệu quả đối với bản thân các tổ chức tài chính, hiệu quả trước mắt, hiệu quả lâu dài,. Hiệu quả đối với nền kinh tế -xã hội Với tính chất hoạt động của mình, hệ thống tổ chức tài chính luôn có mối quan hệ chặt chẽ với sự ổn định và phát triển của nền kinh tế vì tổ chức tài chính là tổ chức trung gian tài chính kết nối khu vực tiết kiệm với khu vực đầu tư của nền kinh tế, với nhiều đối tượng khách hàng thuộc mọi thành phần kinh tế do đó sự biến 6 động của nó sẽ ảnh hưởng rất mạnh đến các ngành kinh tế khác và ảnh hưởng tới nền kinh tế quốc gia. Với nghiệp vụ huy động vốn tổ chức tài chính đã thu hút các nguồn tiền nhàn rỗi trong xã hội làm nguồn vốn tín dụng để cho vay đối với nền kinh tế.
Tuy nhiên không chỉ bằng số lượng vốn huy động và số lượng cấp tín dụng ngày càng tăng của các tổ chức tài chính đã góp phần tăng trưởng kinh tế mà việc sử dụng có hiệu quả nguồn vốn huy động để phân bổ và đầu tư vào những nơi có hiệu quả cũng góp phần làm tăng trưởng kinh tế. Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế cho phù hợp với cơ chế kinh tế mới là một tất yếu khách quan trong quá trình đổi mới cơ chế kinh tế. Để góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì cần phải đầu tư, muốn gia tăng đầu tư mà chủ yếu là đầu tư dài hạn thì cần phải có nguồn vốn trung và dài hạn.
Nguồn vốn trung, dài hạn sẽ được đầu tư vào hạ tầng kỹ thuật, đầu tư chiều sâu trong các ngành chế biến, các ngành công nghiệp mũi nhọn. Hiệu quả đối với bản thân các tổ chức tài chính Hoạt động của các tổ chức tài chính ngoài việc mang lại hiệu quả cao để đóng góp cho nền kinh tế thì hiệu quả thiết thực và cụ thể cũng chính là mục tiêu hàng đầu của tất cả các tổ chức tài chính, đó chính là lợi nhuận. Trong nền kinh tế thị trường, lợi nhuận là yếu tố đầu tiên được xem xét khi đánh giá về hiệu quả hoạt động của bất kỳ một tổ chức kinh tế nào, do đó trong quá trình hoạt động, tổ chức tài chính nào có mức lợi nhuận càng cao thì vị thế của nó càng được củng cố và nâng cao. Lợi nhuận tích lũy của tổ chức tài chính trở thành giá trị thuần, cung cấp một khoản dự trữ để bổ sung cho các khó khăn về tài chính trong tương lai.
Đối với tổ chức tài chính thì lợi nhuận tích lũy là nguồn tăng trưởng chủ yếu của vốn chủ sở hữu. Tổ chức tài chính có mức vốn chủ sở hữu cao sẽ nâng cao mức độ an toàn về vốn trong hoạt động kinh doanh của mình, đồng thời tăng cường được khả năng huy động vốn và khả năng cạnh tranh. 7 Quan điểm về hiệu quả là đa dạng, tùy theo mục đích nghiên cứu có thể xét hiệu quả theo những khía cạnh khác nhau. Tuy nhiên, xuất phát từ những hạn chế về thời gian và nguồn số liệu, do vậy quan điểm hiệu quả mà luận văn nghiên cứu, phân tích thực trạng hiệu quả hoạt động kinh doanh của QTDND Chợ Gạo dựa trên tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động thông qua chỉ tiêu về lợi nhuận ròng trên tổng tài sản (ROA), lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu (ROE), tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM)… 1.
Bản chất của hiệu quả kinh doanh Hiệu quả kinh doanh là mục tiêu trước mắt, lâu dài và bao trùm của mọi doanh nghiệp.