CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRÁI PHIẾU DOANH NGHIỆP 1.1 TRÁI PHIẾU DOANH NGHIỆP VÀ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRÁI PHIẾU DOANH NGHIỆP 1. Trái phiếu doanh nghiệp 1. Khái niệm trái phiếu doanh nghiệp Theo Nghị định số 163/2018/NĐ-CP Quy định về phát hành trái phiếu doanh nghiệp do Chính phủ ban hành ngày 4/12/2018, khoản 1 điều 4 có đề cập rõ: “Trái phiếu doanh nghiệp là loại chứng khoán có kỳ hạn từ 01 năm trở lên do doanh nghiệp phát hành, xác nhận nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi và các nghĩa vụ khác (nếu có) của doanh nghiệp đối với nhà đầu tu sở hữu trái phiếu Theo luận án tiến sỹ đề tài Giải pháp phát triển thị truờng TPDN ở Việt Nam của tác giả Nguyễn Kim Cuơng, Học viện Tài chính năm 2017 đề cập “Trái phiếu doanh nghiệp là loại trái phiếu được phát hành bởi các doanh nghiệp nhằm huy động vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị hoặc các mục đích khác. Đối với chủ thể phát hành, TPDN là một khoản vay trong đó tổ chức phát hành là người đi vay, còn người mua trái phiếu là người cho vay Trái phiếu doanh nghiệp là một khoản vay thể hiện cam kết thanh toán gốc và lãi của DN cho người nắm giữ trái phiếu (trái chủ) theo các điều khoản và điều kiện trái phiếu” Nhìn chung các khái niệm về TPDN đều cho rằng, TPDN là một cách nhằm huy động vốn của doanh nghiệp duới các hình thức là các chứng chỉ, bút toán, ghi sổ; thể hiện các cam kết nhất định giữa các bên về việc thực hiện hợp đồng nhu thanh toán lợi tức, trả lại tiền gốc, hay chuyển đổi thành cổ phiếu.
Theo tác giả có thể hiểu rằng: TPDN là một loại chứng khoán do doanh nghiệp phát hành thể hiện sự cam kết của DN thanh toán số lợi tức, tiền gốc 9 và các nghĩa vụ khác vào những thời gian xác định cho người nắm giữ trái phiếu. Có thể nói rằng - Trái phiếu doanh nghiệp là khoản nợ do một công ty phát hành để nhằm mục đích tăng vốn. - Một nhà đầu tư mua trái phiếu doanh nghiệp tức là cho công ty vay một cách hiệu quả để đổi lấy một loạt các khoản thanh toán lãi. - Trái phiếu doanh nghiệp thường được coi là có phần rủi ro hơn trái phiếu chính phủ, vì vậy nó thường có lãi suất cao hơn để bù đắp cho rủi này.
- Trong hệ thống phân cấp đầu tư, trái phiếu doanh nghiệp chất lượng cao được coi là một khoản đầu tư tương đối an toàn và bảo thủ. Các nhà đầu tư xây dựng danh mục đầu tư cân bằng thường thêm trái phiếu để bù đắp các khoản đầu tư rủi ro như cổ phiếu tăng trưởng. Đặc biệt đối với những đối tượng hưu trí thường đầu tư một phần lớn tài sản của họ vào trái phiếu để thiết lập một khoản bổ sung thu nhập đáng tin cậy. Đặc điểm trái phiếu doanh nghiệp Giá trị mệnh giá: là số tiền mà trái chủ bỏ ra để mua và nhận lại khi đến ngày đáo hạn; nó cũng là số tiền tham chiếu mà nhà phát hành trái phiếu sử dụng khi tính toán các khoản thanh toán lãi.
Lãi suất định kỳ (coupon): Đây là loại lãi suất mà nhà phát hành trái phiếu sẽ trả theo mệnh giá của trái phiếu, được biểu thị bằng phần trăm. Khoản này không phụ thuộc vào tình hình kinh doanh của công ty phát hành; Kỳ trả lãi: là ngày mà nhà phát hành trái phiếu sẽ thực hiện thanh toán lãi. Thanh toán có thể được thực hiện trong bất kỳ khoảng thời gian nào, nhưng tiêu chuẩn là thanh toán giữa năm. Ngày đáo hạn là ngày nhà phát hành trái phiếu sẽ trả cho trái chủ giá trị mệnh giá của trái phiếu.
Giá phát hành là giá mà công ty trái phiếu niêm yết vào thời điểm phát 10 hành, tính theo tỷ lệ phần trăm của mệnh giá. Hai yếu tố quyết định giá trị của trái phiếu: Chất luợng trái phiếu và thời gian đáo hạn - đây là những yếu tố chính quyết định lãi suất kỳ hạn. Nếu công ty phát hành không đủ uy tín, rất có thể gây ra tình trạng vỡ nợ và trái phiếu phải trả lãi nhiều hơn. Trái phiếu càng có thời gian đáo hạn dài sẽ càng hiến công ty phải chi trả nhiều hơn do rủi ro lạm phát cũng nhu sự thay đổi của lãi suất của ngân hàng.
Trái phiếu là chứng khoán nợ, vì vậy khi Công ty bị giải thể hoặc phá sản thì truớc hết Công ty phải có nghĩa vụ thanh toán cho những nguời nắm giữ Trái Phiếu truớc, sau đó mới chia cho các Cổ đông; 1. Phân loại trái phiếu doanh nghiệp Việc phân loại trái phiếu sẽ theo các tiêu chí khác nhau nhu: Nguời phát hành, lợi tức, mức độ đảm bảo thanh toán, hình thức và tính chất trái phiếu. a) Theo người phát hành V Trái phiếu của Chính phủ Đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Chính phủ, Chính phủ phát hành trái phiếu để huy động tiền nhàn rỗi trong dân và các tổ chức kinh tế, xã hội. Chính phủ luôn đuợc coi là Nhà phát hành có uy tín nhất trên thị truờng.
Vì vậy, trái phiếu Chính phủ đuợc coi là loại chứng khoán có ít rủi ro nhất. V Trái phiếu của doanh nghiệp Là những trái phiếu do doanh nghiệp nhà nuớc, công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn phát hành để tăng vốn hoạt động. Trái phiếu doanh nghiệp có nhiều loại và rất đa dạng. V Trái phiếu của ngân hàng và các tổ chức tài chính Các tổ chức này có thể phát hành trái phiếu để tăng thêm vốn hoạt động.
b) Theo lợi tức trái phiếu V Trái phiếu có lãi suất cố định: 11 Là loại trái phiếu mà lợi tức được xác định theo một tỷ lệ phần trăm (%) cố định tính theo mệnh giá. S Trái phiếu có lãi suất biến đổi (lãi suất thả nổi) Là loại trái phiếu mà lợi tức được trả trong các kỳ có sự khác nhau và được tính theo một lãi suất có sự biến đổi theo một lãi suất tham chiếu. S Trái phiếu có lãi suất bằng không Là loại trái phiếu mà người mua không nhận được lãi, nhưng được mua với giá thấp hơn mệnh giá (mua chiết khấu) và được hoàn trả bằng mệnh giá khi trái phiếu đó đáo hạn. c) Theo mức độ đảm bảo thanh toán của người phát hành S Trái phiếu bảo đảm Là loại trái phiếu mà người phát hành dùng một tài sản có giá trị làm vật đảm bảo cho việc phát hành.
Khi nhà phát hành mất khả năng thanh toán, thì trái chủ có quyền thu và bán tài sản đó để thu hồi lại số tiền người phát hành còn nợ. Trái phiếu bảo đảm thường bao gồm một số loại chủ yếu sau: + Trái phiếu có tài sản cầm cố: Là loại trái phiếu bảo đảm bằng việc người phát hành cầm cố một bất động sản để bảo đảm thanh toán cho trái chủ. Thường giá trị tài sản cầm cố lớn hơn tổng mệnh giá của các trái phiếu phát hành để đảm bảo quyền lợi cho trái chủ. + Trái phiếu bảo đảm bằng chứng khoán ký quỹ: Là loại trái phiếu được bảo đảm bằng việc người phát hành thường là đem ký quỹ số chứng khoán dễ chuyển nhượng mà mình sở hữu để làm tài sản bảo đảm.
S Trái phiếu không bảo đảm Là loại trái phiếu phát hành không có tài sản làm vật bảo đảm mà chỉ bảo đảm bằng uy tín của người phát hành. d) Theo hình thức trái phiếu S Trái phiếu vô danh 12 Là loại trái phiếu không ghi tên của người mua và trong sổ sách của người phát hành. Trái chủ là người được hưởng quyền lợi. S Trái phiếu ghi danh Là loại trái phiếu có ghi tên của người mua và trong sổ sách của người phát hành.
e) Theo tính chất trái phiếu S Trái phiếu có thể chuyển đổi Là loại trái phiếu của công ty cổ phần mà trái chủ được quyền chuyển sang cổ phiếu của công ty đó. Việc này được quy định cụ thể về thời gian và tỷ lệ khi mua trái phiếu. S Trái phiếu có quyền mua cổ phiếu Là loại trái phiếu có kèm theo phiếu cho phép trái chủ được quyền mua một số lượng nhất định cổ phiếu của công ty. S Trái phiếu có thể mua lại Là loại trái phiếu cho phép nhà phát hành được quyền mua lại một phần hay toàn bộ trước khi trái phiếu đến hạn thanh toán.
Vai trò của trái phiếu doanh nghiệp a) Vai trò của trái phiếu doanh nghiệp đối với nền kinh tế Thị trường trái phiếu phát triển là một thành phần quan trọng của toàn bộ thị trường vốn trong nước, thị trường trái phiếu rất cần thiết khi huy động vốn cho các dự án hạ tầng, vài nhu cầu đầu tư cơ bản của quốc gia có thể bị trì hõan hay huy động vốn không đủ khi không có sự cân đối thích hợp. Thị trường trái phiếu một khi không đủ quy mô cũng như không tách rời với sự can thiệp của chính phủ sẽ dẫn đến hai ảnh hưởng chủ yếu: Thứ nhất, ảnh hưởng của chính sách phân bổ tín dụng sai lầm của chính phủ sẽ có xu hướng khuếch đại. Chính phủ muốn gây ảnh hưởng đối với hướng phát triển và tăng trưởng của nền kinh tế, chính vì vậy xem xét sự kiểm 13 soát mạnh thông qua hệ thống ngân hàng là cách hữu hiệu nhất. Những dự án đuợc xem nhu là hy vọng của quốc gia có thể sẵn sàng đuợc huy động vốn bằng cách bổ sung những uu đãi thích hợp và biện pháp bắt buộc.
Thứ hai, việc vắng thị truờng trái phiếu có quy mô lớn sẽ làm tăng thêm sự bất hòan hảo trong bất kỳ hệ thống tài chính nào. Chính phủ luôn muốn uu tiên phân bổ tín dụng dẫn đến gánh nặng của việc cho các doanh nghiệp vay đuợc đảm nhận bởi hệ thống ngân hàng. Hệ thống ngân hàng quy mô lớn trở nên dồi dào nguồn vốn, dẫn đến các tiêu chuẩn lỏng lẻo và những tiêu chuẩn đầu tu nới lỏng. Những khoản vay vuợt mức dẫn đến vuợt mức khả năng sản xuất, làm cho tỷ suất sinh lời trên nguồn vốn đầu tu thấp hơn, làm cho nhiều khoản tiền cho vay vựơt quá khả năng chi trả và trở thành nợ xấu.
Việc huy động tài chính của các khoản nợ chung tăng theo thị truờng sẽ đẩy mạnh việc cung các trái phiếu chính phủ. Về khía cạnh nhu cầu, việc tăng từ từ về thu nhập hộ gia đình, quy mô mở rộng dân số trong độ tuổi lao động và tập hợp tất cả khoản tiết kiệm dự định đa dạng hoá, tất cả đều dẫn đến nhu cầu về các trái phiếu.