Hiệu Quả Điều Trị Nội Nha Của Xi-Măng Trám Bít Ống Tủy Gốc Calcium Silicate

Tài liệu nghiên cứu Hiệu quả điều trị nội nha của xi măng trám bít ống tủy gốc calcium silicate, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên sâu về .

Chuyên ngành

Răng Hàm Mặt

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn chuyên khoa cấp II

2021

127
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. HỆ THỐNG ỐNG TỦY CỦA RĂNG

1.2. ĐIỀU TRỊ NỘI NHA VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ THÀNH CÔNG

1.3. TỔNG QUAN VẬT LIỆU TRÁM BÍT ỐNG TỦY

1.4. CÁC NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ SỰ THÀNH CÔNG CỦA ĐIỀU TRỊ NỘI NHA

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

2.2. PHƯƠNG TIỆN VÀ VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU

2.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.4. ĐẠO ĐỨC TRONG NGHIÊN CỨU

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ

3.1. ĐẶC ĐIỂM MẪU NGHIÊN CỨU

3.2. ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ ĐAU GIỮA HAI NHÓM XI-MĂNG

3.3. SO SÁNH SỰ XUẤT HIỆN CÁC TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG BẤT LỢI SAU 1 TUẦN, 3 THÁNG VÀ 6 THÁNG GIỮA NHÓM XI-MĂNG GỐC NHỰA EPOXY VÀ XI-MĂNG GỐC CALCIUM SILICATE

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG CỦA MẪU NGHIÊN CỨU

4.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

4.3. ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ ĐAU GIỮA NHÓM XI-MĂNG GỐC NHỰA EPOXY VÀ NHÓM XI-MĂNG GỐC CALCIUM SILICATE

4.4. SO SÁNH SỰ XUẤT HIỆN CÁC TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG BẤT LỢI SAU 1 TUẦN, 3 THÁNG VÀ 6 THÁNG GIỮA NHÓM XI-MĂNG GỐC NHỰA EPOXY VÀ XI-MĂNG GỐC CALCIUM SILICATE

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Điều Trị Nội Nha Với Xi Măng Calcium Silicate

Điều trị nội nha hướng đến bảo tồn răng thật, loại bỏ mô tủy bệnh, vi khuẩn và sản phẩm của chúng. Mục tiêu là khử khuẩn, trám bít kín hệ thống ống tủy, ngăn chặn tái nhiễm và phục hồi chức năng, thẩm mỹ. Điều này tạo điều kiện cho sự lành thương của mô quanh chóp và phòng ngừa bệnh lý quanh chóp. Đau sau điều trị nội nha là một vấn đề thường gặp, với tỷ lệ dao động lớn. Các yếu tố như kỹ thuật, vật liệu trám bít, và tình trạng răng ảnh hưởng đến mức độ đau. Xi măng trám bít ống tủy đóng vai trò quan trọng trong việc trám kín hệ thống ống tủy, góp phần vào thành công của điều trị. Các nghiên cứu đánh giá hiệu quả lâm sàng của xi măng trám bít ống tủy gốc Calcium Silicate còn hạn chế, thúc đẩy sự cần thiết của các nghiên cứu sâu hơn. Theo [18], [34], mục tiêu chính của điều trị nội nha là tạo môi trường thuận lợi cho lành thương mô quanh chóp.

1.1. Tổng Quan Về Vật Liệu Trám Bít Ống Tủy Hiện Nay

Xi măng trám bít ống tủy là một thành phần quan trọng trong điều trị nội nha. Dựa trên thành phần, chúng được phân loại thành nhiều nhóm, bao gồm xi măng oxit kẽm eugenol, xi măng Polyketone, xi măng Calcium-hydroxide, xi măng Calcium phosphate, xi măng gốc Silicone, xi măng gốc nhựa, xi măng gốc nhựa Epoxy, và xi măng gốc Calcium Silicate. Xi măng gốc nhựa Epoxy thường được xem là tiêu chuẩn vàng, nhưng có thể gây tổn thương mô. Xi măng gốc Calcium Silicate nổi lên với nhiều ưu điểm tiềm năng.

1.2. Giới Thiệu Xi Măng Trám Bít Ống Tủy Gốc Calcium Silicate

Xi măng gốc Calcium Silicate là một vật liệu mới trong nội nha hiện đại. Thành phần bao gồm oxide zirconium, calcium silicate, calcium phosphate, chất độn và chất làm đặc. Nghiên cứu trong phòng thí nghiệm cho thấy nhiều đặc tính ưu việt như tính tương hợp sinh học, ổn định hóa học, tính ưa nước, độ chảy, độ cản quang và tính kháng khuẩn [112]. Tuy nhiên, cần thêm các nghiên cứu lâm sàng để đánh giá đầy đủ hiệu quả điều trị nội nha của loại xi măng này.

II. Vấn Đề Đặt Ra Đau Sau Điều Trị Nội Nha Giải Pháp

Đau sau điều trị nội nha là một vấn đề đáng quan tâm, ảnh hưởng đến trải nghiệm của bệnh nhân. Tỷ lệ đau dao động lớn, từ 3% đến 58%, do sự khác biệt trong phương pháp đánh giá, tình trạng răng, và phác đồ điều trị. Các yếu tố như kỹ thuật sử dụng, tính chất vật liệu trám bít, và thao tác điều trị có thể gây đau. Việc trám kín hoàn toàn hệ thống ống tủy là một trong những tiêu chuẩn quan trọng để giảm đau và đảm bảo thành công. Nghiên cứu của và cộng sự [16] cho thấy hơn 50% bệnh nhân bị đau sau trám bít ống tủy, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc lựa chọn vật liệu và kỹ thuật phù hợp.

2.1. Các Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Đau Sau Điều Trị Nội Nha

Nhiều yếu tố có thể gây đau sau điều trị nội nha. Kỹ thuật điều trị không đúng cách có thể đẩy mảnh vụn hoặc vi khuẩn ra ngoài chóp răng. Vi khuẩn còn sót lại trong ống tủy không được trám kín cũng có thể gây viêm và đau. Tính chất của vật liệu trám bít cũng đóng vai trò quan trọng. Một số vật liệu có thể gây kích ứng mô quanh chóp, dẫn đến đau. Do đó, việc lựa chọn vật liệu và kỹ thuật phù hợp là rất quan trọng.

2.2. Tầm Quan Trọng Của Trám Kín Ống Tủy Để Giảm Đau

Trám kín hoàn toàn hệ thống ống tủy là một trong những yếu tố then chốt để giảm đau sau điều trị nội nha. Khi ống tủy được trám kín, vi khuẩn không thể xâm nhập và phát triển, giảm nguy cơ viêm nhiễm và đau. Vật liệu trám bít cần có khả năng tạo độ kín khít cao, ngăn chặn sự rò rỉ và tái nhiễm. Xi măng trám bít ống tủy gốc Calcium Silicate được kỳ vọng sẽ mang lại hiệu quả trám kín tốt hơn so với các vật liệu truyền thống.

III. So Sánh Hiệu Quả Xi Măng Calcium Silicate So Với Nhựa Epoxy

Nghiên cứu so sánh hiệu quả điều trị nội nha giữa xi măng gốc Calcium Silicatexi măng gốc nhựa Epoxy. Xi măng gốc nhựa Epoxy được xem là tiêu chuẩn vàng, nhưng có nhược điểm gây tổn thương mô. Xi măng gốc Calcium Silicate có ưu điểm về tính tương hợp sinh học và khả năng kháng khuẩn. Mục tiêu là đánh giá mức độ đau sau điều trị và sự xuất hiện các triệu chứng lâm sàng bất lợi giữa hai nhóm. Giả thuyết đặt ra là không có sự khác biệt đáng kể giữa hai loại xi măng. Nghiên cứu này cung cấp bằng chứng để bác sĩ Răng Hàm Mặt lựa chọn vật liệu trám bít phù hợp.

3.1. Ưu Điểm Của Xi Măng Calcium Silicate Trong Điều Trị Nội Nha

Xi măng gốc Calcium Silicate có nhiều ưu điểm tiềm năng trong điều trị nội nha. Tính tương hợp sinh học cao giúp giảm kích ứng mô quanh chóp. Khả năng kháng khuẩn giúp ngăn ngừa tái nhiễm. Tính ưa nước giúp vật liệu dễ dàng tiếp xúc với các bề mặt ẩm ướt trong ống tủy. Độ cản quang giúp dễ dàng kiểm tra kết quả trám bít trên phim X-quang. Những ưu điểm này có thể giúp cải thiện tỷ lệ thành công điều trị nội nha.

3.2. Nhược Điểm Của Xi Măng Calcium Silicate Cần Lưu Ý

Mặc dù có nhiều ưu điểm, xi măng gốc Calcium Silicate cũng có một số nhược điểm cần lưu ý. Thời gian đông cứng có thể lâu hơn so với xi măng gốc nhựa Epoxy. Độ hòa tan có thể cao hơn, ảnh hưởng đến độ bền lâu dài của trám bít. Kỹ thuật sử dụng có thể phức tạp hơn, đòi hỏi bác sĩ có kinh nghiệm. Cần có thêm các nghiên cứu dài hạn để đánh giá đầy đủ hiệu quả và độ an toàn của loại xi măng này.

3.3. So Sánh Chi Tiết Các Tính Chất Vật Lý Của Hai Loại Xi Măng

So sánh chi tiết các tính chất vật lý của xi măng gốc Calcium Silicatexi măng gốc nhựa Epoxy là rất quan trọng. Các tính chất cần so sánh bao gồm độ chảy, độ cản quang, thời gian đông cứng, độ hòa tan, độ co ngót, và khả năng kết dính với ngà răng. Sự khác biệt về các tính chất này có thể ảnh hưởng đến độ kín khít ống tủyhiệu quả điều trị nội nha.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Nghiên Cứu Về Xi Măng Calcium Silicate

Nghiên cứu đánh giá mức độ đau sau khi trám bít ống tủy với xi măng gốc Calcium Silicatexi măng gốc nhựa Epoxy sau 6 giờ, 12 giờ, 24 giờ, 48 giờ, 72 giờ và 7 ngày. Đánh giá sự xuất hiện các triệu chứng lâm sàng bất lợi sau 7 ngày, 3 tháng và 6 tháng giữa hai nhóm. Kết quả nghiên cứu cung cấp thông tin về hiệu quả điều trị nội nha và giúp bác sĩ lựa chọn vật liệu phù hợp. Các nghiên cứu khác cũng được xem xét để đưa ra kết luận toàn diện.

4.1. Quy Trình Nghiên Cứu Đánh Giá Hiệu Quả Lâm Sàng

Quy trình nghiên cứu bao gồm lựa chọn bệnh nhân, chia nhóm ngẫu nhiên, thực hiện điều trị nội nha theo quy trình chuẩn, và sử dụng các thang đo để đánh giá mức độ đau và các triệu chứng lâm sàng. Các yếu tố như tuổi, giới tính, loại răng, và tình trạng răng được kiểm soát để đảm bảo tính khách quan của nghiên cứu. Kết quả được phân tích thống kê để so sánh hiệu quả điều trị nội nha giữa hai nhóm.

4.2. Kết Quả Nghiên Cứu Về Mức Độ Đau Sau Điều Trị

Kết quả nghiên cứu cho thấy sự khác biệt về mức độ đau giữa hai nhóm xi măng. Phân tích thống kê được thực hiện để xác định xem sự khác biệt này có ý nghĩa hay không. Các yếu tố như loại răng và tình trạng răng cũng được xem xét để đánh giá ảnh hưởng của chúng đến mức độ đau. Kết quả này cung cấp thông tin quan trọng về tính tương thích sinh học của hai loại xi măng.

4.3. Đánh Giá Các Triệu Chứng Lâm Sàng Bất Lợi Sau Điều Trị

Nghiên cứu đánh giá sự xuất hiện của các triệu chứng lâm sàng bất lợi như sưng, đau, viêm, và áp xe sau điều trị. Tỷ lệ xuất hiện các triệu chứng này được so sánh giữa hai nhóm xi măng. Kết quả này cung cấp thông tin về khả năng kháng khuẩnđộ kín khít ống tủy của hai loại xi măng.

V. Kết Luận Lựa Chọn Xi Măng Nào Cho Điều Trị Nội Nha

Kết luận về hiệu quả điều trị nội nha của xi măng gốc Calcium Silicate so với xi măng gốc nhựa Epoxy dựa trên kết quả nghiên cứu và các tài liệu tham khảo. Đánh giá ưu và nhược điểm của từng loại xi măng để đưa ra khuyến nghị cho bác sĩ. Nhấn mạnh tầm quan trọng của việc lựa chọn vật liệu phù hợp để đạt được kết quả điều trị tốt nhất. Cần có thêm các nghiên cứu dài hạn để đánh giá đầy đủ hiệu quả và độ an toàn của xi măng gốc Calcium Silicate.

5.1. Tiêu Chí Lựa Chọn Xi Măng Trám Bít Ống Tủy Tối Ưu

Các tiêu chí lựa chọn xi măng trám bít ống tủy tối ưu bao gồm tính tương hợp sinh học, khả năng kháng khuẩn, độ kín khít, độ cản quang, thời gian đông cứng, độ hòa tan, và kỹ thuật sử dụng. Bác sĩ cần cân nhắc các yếu tố này để lựa chọn vật liệu phù hợp với từng trường hợp cụ thể. Tiêu chuẩn lựa chọn xi măng trám bít cần dựa trên bằng chứng khoa học và kinh nghiệm lâm sàng.

5.2. Tương Lai Của Xi Măng Calcium Silicate Trong Nội Nha

Xi măng gốc Calcium Silicate có tiềm năng lớn trong tương lai của nội nha. Các nghiên cứu tiếp theo cần tập trung vào việc cải thiện các tính chất vật lý, phát triển các kỹ thuật sử dụng đơn giản hơn, và đánh giá hiệu quả lâu dài của vật liệu. Nghiên cứu về xi măng calcium silicate sẽ tiếp tục đóng góp vào sự phát triển của lĩnh vực nội nha.

07/06/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Nha khoa hiện đại ngày nay có nhiều phƣơng pháp phục hồi, thay thế với chức năng và thẩm mỹ tƣơng tự răng thật. Tuy nhiên, mặc dù răng đã có những tổn thƣơng mô cứng đến mức viêm tủy, hoại tử tủy,. nhƣng việc bảo tồn răng thật vẫn có giá trị rất lớn. Mục tiêu chính của điều trị nội nha là loại bỏ mô tủy bệnh, vi khuẩn cùng sản phẩm của vi khuẩn trong hệ thống ống tủy, khử khuẩn, trám bít kín hệ thống ống tủy, không để vi khuẩn tăng trƣởng, tái xâm nhập vào hệ thống ống tủy và phục hồi khít kín thân răng nhằm thực hiện chức năng và thẩm mỹ, tạo môi trƣờng thuận lợi cho lành thƣơng của mô quanh chóp và phòng ngừa sự phát triển của bệnh lý vùng quanh chóp răng [18], [34].

Sau điều trị nội nha, đau là cảm giác không mong muốn nhƣng khá phổ biến với tỷ lệ dao động từ 3% đến 58% [96], có thể bắt đầu từ một vài giờ sau điều trị và kéo dài đến vài ngày sau đó [7]. Dao động này có thể đƣợc giải thích do sự khác nhau trong phƣơng pháp đánh giá mức độ đau, tình trạng tủy và vùng quanh chóp trong quá trình điều trị, phác đồ điều trị. và cộng sự [16] thực hiện nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có nhóm chứng và phát hiện hơn 50% bệnh nhân bị đau sau trám bít ống tủy. và cộng sự [39] tiến hành thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên nửa miệng ở bệnh nhân viêm quanh chóp mãn cần nội nha lại và thấy rằng 35% bệnh nhân bị đau sau điều trị.

Một số tác giả đánh giá sự ảnh hƣởng của xi-măng trám bít ống tủy đối với đau sau điều trị và thấy rằng các yếu tố có thể dẫn đến đau sau nội nha nhƣ kỹ thuật sử dụng và tính chất vật liệu trám bít ống tủy [12], [77], thao tác điều trị gây đẩy mảnh vụn hay vi khuẩn ra ngoài chóp, vi khuẩn còn sót và ống tủy không đƣợc trám kín [107]. Do đó, một trong những tiêu chuẩn góp. 2 phần vào sự thành công của điều trị nội nha là trám kín hoàn toàn hệ thống ống tủy [76], [105]. Những điều này cho thấy tầm quan trọng của kỹ thuật sử dụng và tính chất vật liệu trám bít ống tủy [30].

Xi-măng trám bít ống tủy là một trong những thành phần của vật liệu trám bít ống tủy, đã và đang đƣợc nhiều nghiên cứu đánh giá trong điều trị nội nha. Dựa trên thành phần, xi-măng trám bít ống tủy có thể đƣợc phân thành các nhóm sau [51]: xi-măng oxit kẽm eugenol, xi-măng Polyketone, xi-măng Calcium-hydroxide, xi-măng Calcium phosphate, xi-măng dựa trên gốc Silicone, xi-măng dựa trên gốc nhựa, xi-măng dựa trên gốc nhựa Epoxy, xi- măng dựa trên gốc Calcium Silicate. Trong đó, xi-măng dựa trên gốc nhựa Epoxy, đƣợc xem nhƣ là tiêu chuẩn vàng trong trám bít ống tủy [36], [51], thƣờng đƣợc dùng trong các nghiên cứu so sánh với vật liệu xi-măng trám bít ống tủy mới. Tuy nhiên, điểm hạn chế của các loại xi-măng trên là gây tổn thƣơng mô từ trung bình đến nặng khi thoát ra ngoài mô quanh chóp [53].

Gần đây, vật liệu xi-măng gốc Calcium Silicate đã xuất hiện trong thực hành nội nha hiện đại. Với thành phần gồm oxide zirconium, calcium silicate, calcium phosphate, chất độn và các chất làm đặc., xi-măng gốc Calcium Silicate đƣợc chứng minh trong phòng thí nghiệm là có nhiều đặc tính mong muốn nhƣ tính tƣơng hợp sinh học, tính ổn định hóa học, tính ƣa nƣớc, tính chảy, độ cản quang và tính kháng khuẩn [112]. Tuy nhiên, các nghiên cứu đánh giá hiệu quả lâm sàng của xi-măng trám bít ống tủy dựa trên gốc Calcium Silicate đến nay vẫn chƣa nhiều [26]. Với mong muốn góp thêm bằng chứng để các bác sỹ Răng Hàm Mặt có cơ sở lựa chọn xi-măng trám bít ống tủy phù hợp nhằm đạt đƣợc kết quả điều trị tốt, chúng tôi thực hiện đề tài “Hiệu quả điều trị nội nha của xi-măng trám bít ống tủy gốc Calcium Silicate” với câu hỏi nghiên cứu là:.

3 ―Việc sử dụng xi-măng trám bít ống tủy gốc Calcium Silicate có hiệu quả hơn so với xi-măng trám bít ống tủy gốc nhựa Epoxy?‖ Từ đó, giả thuyết đƣợc đƣa ra là ―Không có sự khác biệt về mức độ đau sau điều trị, các dấu chứng lâm sàng giữa việc trám bít ống tủy bằng xi-măng gốc Calcium Silicate so với xi-măng gốc nhựa Epoxy‖. - Mục tiêu tổng quát: Đánh giá hiệu quả điều trị sau khi trám bít ống tủy với xi-măng gốc Calcium Silicate và xi-măng gốc nhựa Epoxy - Mục tiêu cụ thể: 1. Đánh giá mức độ đau giữa hai nhóm răng đƣợc trám bít ống tủy với xi-măng gốc Calcium Silicate và xi-măng gốc nhựa Epoxy sau điều trị 6 giờ, 12 giờ, 24 giờ, 48 giờ, 72 giờ và 7 ngày 2. Đánh giá sự xuất hiện các triệu chứng lâm sàng bất lợi sau 7 ngày, 3 tháng và 6 tháng giữa nhóm răng đƣợc trám bít ống tủy với xi-măng gốc Calcium Silicate và nhóm răng đƣợc trám bít ống tủy với xi-măng gốc nhựa Epoxy.

4 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 HỆ THỐNG ỐNG TỦY CỦA RĂNG Hốc tủy răng là khoang trong lòng khối ngà, chứa mô tủy. Mô tủy có nhiều chức năng, đó là nuôi dƣỡng các nguyên bào ngà, ghi nhận cảm giác đau, phòng vệ dự bị. Hốc tủy có thể phân thành buồng tủy và ống tủy chân [3] (Hình 1. Các thành phần chính của hốc tủy (Nguồn: Vertucci, 2005 [110]) 1.1 Phân loại hệ thống ống tủy Năm 1984, Vertucci FJ [111] nghiên cứu 2.400 răng vĩnh viễn đã đƣợc nhổ và đề nghị phân loại hình thái ống tủy gồm tám loại (Hình 1.2), bao gồm: loại I: một ống tủy từ buồng tủy đến chóp, loại II: hai ống tủy từ buồng tủy và nhập lại thành một ống đi ra một lỗ chóp, loại III: một ống tủy đi ra từ buồng tủy, chia thành hai ống, sau đó, nhập lại thành một ống rồi đi ra một lỗ chóp,.

5 loại IV: hai ống tủy riêng biệt xuất phát từ buồng tủy đi ra hai lỗ chóp, loại V: một ống tủy rời khỏi buồng tủy và chia thành hai ống tủy riêng biệt đi ra hai lỗ chóp, loại VI: hai ống tủy rời khỏi buồng tủy, nhập lại thành một, rồi chia ra thành hai ống tủy, loại VII: một ống tủy rời khỏi buồng tủy, chia ra hai ống tủy rồi nhập lại thành một và lại chia ra thành hai ống tủy, loại VIII: ba ống tủy riêng biệt đi từ buồng tủy đến lỗ chóp. Phân loại của Vertucci đƣợc sử dụng trong hầu hết các nghiên cứu hình thái hốc tủy vì tính đơn giản và tổng quát. Loại I Loại II Loại III Loại IV Loại V Loại VI Loại VII Loại VIII Hình 1. Phân loại Vertucci (Nguồn: Vertucci, 2005 [110]) Sau đó, các tác giả nghiên cứu tiếp theo phát hiện những biến thể hình thái ống tủy khác nên bổ sung thêm cho phân loại Vertucci.

Các loại bổ sung này ít gặp hơn so với các loại theo phân loại Vertucci. Các phân loại hình thái ống tủy đã đƣợc giới thiệu trong y văn (Nguồn: Huỳnh Hữu Thục Hiền, 2019 [2]) Gần đây, Briseno-Marroquin và cộng sự (năm 2015) [21] đã đề xuất phân loại hình thái ống tủy, gồm bốn chữ số: ba chữ số đầu là số ống tủy ở. 7 các phần ba chân răng, từ cổ răng đến chóp, số thứ tƣ (có dấu gạch chéo phía trƣớc) là số lỗ chóp (Hình 1. Phân loại hình thái ống tủy theo Briseno-Marroquin (Nguồn: Briseno-Marroquin, 2015 [21]) 1.2 Các phƣơng pháp khảo sát ống tủy Cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về hình thái hốc tủy các nhóm răng, trong đó, hai phƣơng pháp thƣờng đƣợc đề cập đến là nhuộm màu hốc tủy - làm trong răng và quan sát trên phim cắt lớp điện toán.

 Nhuộm màu hốc tủy - làm trong răng Trong cách nhuộm màu hốc tủy - làm trong răng, răng đƣợc ngâm trong dung dịch axit để khử khoáng mô cứng, sau đó, răng đƣợc cho vào dung dịch thích hợp để phần khung hữu cơ còn lại trở nên trong suốt, có thể nhìn xuyên qua để quan sát hốc tủy đã đƣợc nhuộm màu. Phƣơng pháp nhuộm màu-làm trong từng đƣợc xem là phƣơng pháp chuẩn vàng trong nhiều nghiên cứu hình thái hốc tủy. Năm 1984, Vertucci thực hiện 2.400 tiêu bản răng trong suốt, từ đó, đề nghị phân loại hệ thống ống tủy gồm 8 loại (hình 1.3) [111], sau đó, các tác giả nghiên cứu khác nhƣ Gulabivala K.cũng sử dụng phƣơng pháp này. 8 Tại Khoa Răng Hàm Mặt, Đại học Y Dƣợc TPHCM, đã có các tác giả nghiên cứu sử dụng phƣơng pháp này nhƣ Tạ Tố Trân (năm 2004) [6] khảo sát răng cửa giữa và răng nanh hàm trên, Phan Thùy Ngân (năm 2011) [5] khảo sát răng cối nhỏ hàm dƣới.

Cách nhuộm màu - làm trong là tƣơng đối đơn giản và ít tốn kém để khảo sát hốc tủy mà vẫn duy trì đƣợc hình dạng răng ban đầu, thấy rõ các ống tủy kể cả ống tủy có kích thƣớc nhỏ, tỉ lệ thành công cao và tiêu bản có thể sử dụng trong một thời gian dài. Tuy nhiên, kỹ thuật này chỉ có thể áp dụng cho răng đã nhổ trong nghiên cứu và giảng dạy, không có giá trị ứng dụng để xác định hình thái hốc tủy các răng trên cung hàm bệnh nhân [2].  Chụp cắt lớp điện toán Ngày nay, nhờ sự phát triển và tiến bộ trong lĩnh vực chụp cắt lớp điện toán, ngày càng có nhiều công cụ hiệu quả để khảo sát hốc tủy chính xác, rõ ràng hơn. Các phƣơng pháp chụp cắt lớp điện toán gồm CT - Cắt lớp điện toán (Computed Tomography), µCT - Vi cắt lớp điện toán (Micro Computed Tomography), CBCT - Cắt lớp điện toán với chùm tia hình nón (Conebeam Computed Tomography), SCT - Cắt lớp điện toán xoắn ốc (Spiral Computed Tomography) và pQCT- Cắt lớp điện toán định lƣợng ngoại vi (Peripheral quantitative Computed Tomography) (bảng 1.

Với CBCT, các nhà nội nha ghi nhận đƣợc số ống tủy nhiều hơn so với X-quang kỹ thuật số (Matherne R. (năm 2010) [72] so sánh với phƣơng pháp mô học, tác giả nhận thấy dữ liệu ghi nhận đƣợc từ CBCT và mô học có tƣơng quan mạnh. Bên cạnh đó, Blattner T. (năm 2010) [19] đánh giá khả năng ghi nhận ống tủy gần ngoài thứ hai răng cối lớn hàm trên bằng phim quanh chóp và CBCT với phƣơng pháp chuẩn là cắt răng ra quan sát trực tiếp, ông nhận xét là không thấy khác biệt có ý nghĩa giữa CBCT với phƣơng pháp chuẩn.

Ngoài ra, CBCT còn. 9 đƣợc sử dụng trong một số nghiên cứu khảo sát hình thái hốc tủy trên răng đã nhổ ở một số cộng đồng nhƣ Neelakantan P. (năm 2010) [78] khảo sát chân gần ngoài răng cối lớn hàm trên ngƣời Ấn Độ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ