Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu. Trong chương này, tác giả trình bày lý do chọn đề tài, xác định mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và kết cấu của đề tài. Chương 2: Tổng quan các nghiên cứu trước đây.Trong chương này, tác giả trình bày tổng quan các nghiên cứu trước đây về sự can thiệp của Chính phủ đến hiệu quả đầu tư của các doanh nghiệp được niêm yết. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu.Trong chương này, tác giả làm rõ mô hình thực nghiệm, hàm hồi quy, danh sách biến, nguồn dữ liệu và phương pháp ước lượng.
Chương 4: Nội dung và kết quả nghiên cứu. Chương 5: Kết luận. Chương này sẽ tổng kết các kết quả mà đề tài đạt được và rút ra các hạn chế của đề tài, những gợi ý và hướng nghiên cứu tiếp theo. 123doc 5 CHƯƠNG 2: KHUNG LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN Trong thế giới hoàn hảo của Modigliani và Miller (1958), chính sách đầu tư của một công ty chỉ phụ thuộc vào các cơ hội đầu tư của nó.
Mặc dù lý thuyết này là nền tảng của đầu tư của các doanh nghiệp, các nhà nghiên cứu về lý thuyết và thực nghiệm đã xác định được một loạt các mâu thuẫn và các yếu tố ảnh hưởng để ngăn cản các doanh nghiệp tối ưu hóa đầu tư. Sự bất cân xứng thông tin và các vấn đề đại diện là hai vấn đề được chú ý nhiều nhất trong các nghiên cứu trước. Các mô hình lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm tập trung vào hai sự mâu thuẫn: Sự bất đối xứng thông tin và các vấn đề đại diện. Các mô hình về tài chính bên ngoài dự đoán rằng đầu tư yếu kém do sự bất cân xứng về thông tin dẫn đến việc đưa ra những lựa chọn bất lợi.
Có liên quan nhiều hơn đến bài nghiên cứu là các mô hình về chi phí đại diện – sự xung đột giữa các nhà quản lý và các cổ đông. Vì các nhà quản lý giả định theo đuổi các mục tiêu riêng của họ, điều đó có thể dẫn đến các mâu thuẫn với các cổ đông bên ngoài, họ có thể ưa thích hoạt động kinh doanh lớn thay vì lợi nhuận (ví dụ: Jensen, 1986; Stulz, 1990, Zwiebel, 1996). Bằng chứng kinh nghiệm phù hợp với việc xây dựng đế chế đã trở nên phổ biến (ví dụ, Lang và cộng sự, 1991, Morck và cộng sự, 1990, Blanchard và cộng sự, 1994). Nghiên cứu hiện nay logic cơ bản của chúng ta giống với dự đoán từ các mô hình về chi phí đại diện, bài nghiên cứu khám phá một bối cảnh của Việt Nam để kiểm tra xem sự can thiệp của Chính phủ vào các doanh nghiệp Nhà nước (SOEs) là một sự tác động khác dẫn tới sự không hiệu quả trong đầu tư.
Tác động từ kiểm soát của Nhà nước cũng ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp. Các khoản đầu tư với sự can thiệp bởi Chính phủ có thể sẽ bỏ lỡ các cơ hội đầu tư có lợi nhuận để thực hiện các kế hoạch và chính sách của Chính phủ. Thêm vào đó, khi các dự án không đạt được kết quả như mong muốn hoặc khi có cơ hội giảm đầu tư, các doanh nghiệp Nhà nước khó có thể chấm dứt các dự án kém hiệu quả hoặc giảm đầu tư do những xung đột tiềm ẩn với các chương trình và chính sách của Chính phủ. Tác động của sự can thiệp của Chính phủ vào hiệu quả đầu tư có thể hỗ trợ khả năng tiếp cận tài chính của các doanh nghiệp dễ dàng hơn 123doc 6 cho các doanh nghiệp Nhà nước Bằng chứng thống nhất cho thấy các doanh nghiệp có quan hệ chính trị có nhiều nguồn tài chính ngân hàng hơn (Sapienza, 2004; Khwaja and Mian, 2005; Faccio et al., 2006; Leuz and Oberholzer-Gee, 2006).
Bài nghiên cứu này tập trung làm rõ tác động của sự can thiêp Chính phủ đến hiệu quả đầu tư tại các doanh nghiệp hiện nay.1 Lý thuyết “Nắm bàn tay” (Grabbing hand) Lý thuyết "Grabbing hand" (Shleifer và Vishny (1994, 1998)), cho thấy rằng các doanh nghiệp được kiểm soát bởi Nhà nước có xu hướng đầu tư kém hiệu quả hơn, do tình trạng quá tải, bồi thường quá mức và phân bổ nguồn lực không hiệu quả. Tác giả bài nghiên cứu “Government intervention and investment efficiency: Evidence from China” cũng đã dựa vào lý thuyết này dự đoán những can thiệp của Chính phủ vào hoạt động của doanh nghiệp. Lý thuyết này trình bày về những can thiệp chính trị, gây ra sự khác biệt về hiệu quả hoạt động giữa công ty cổ phần có phần vốn chi phối của nhà nước và các doanh nghiệp mà nhà nước không sở hữu, xuất phát từ việc các nhà chính trị và các quan chức có xu hướng sử dụng công ty cổ phần có phần vốn chi phối của nhà nuớc để phục vụ các mục tiêu chính trị của họ. Hầu hết các nhà kinh tế ủng hộ mô hình với sự trợ giúp của Nhà nước vào nền kinh tế.
Những gì Nhà nước làm như là một nỗ lực để cải thiện phúc lợi xã hội, tăng cường tiềm lực chính trị và tiềm năng phát triển. Các nhà lãnh đạo Chính phủ có mục tiêu thúc đẩy để hoàn thành các mục tiêu xã hội và chính trị như phát triển khu vực, sức khoẻ tài chính, và sự ổn định xã hội thông qua sự tham gia của họ vào các doanh nghiệp Nhà nước. Nhà nước phân phối phúc lợi, đảm bảo mục tiêu cuối cùng là cân bằng xã hội.2 Lý thuyết đại diện (Agency theory): Lý thuyết đại diện được phát triển bởi Jensen và Meckling trong một công bố năm 1976. Lý thuyết này nghiên cứu mối quan hệ giữa bên ủy quyền và bên được ủy quyền.
Quan hệ nhà quản lý và cổ đông: Các giải pháp để giảm chi phí ủy quyền là thông qua hợp đồng giữa các cổ đông và nhà quản lý theo hướng khuyến khích nhà quản lý tối đa hóa giá trị thị trường của công ty và tối đa hóa lợi nhuận công ty. Phần lớn các kế hoạch khen thưởng này dựa trên các con số kế toán, do đó nhà quản lý sẽ tìm cách tác động vào báo cáo tài chính thông qua vận dụng chính sách kế toán để đạt được mục đích được hưởng lợi cá nhân của mình. Quan hệ cổ đông và chủ nợ: Để giảm chi phí ủy quyền, chủ nợ có thể đưa vào hợp đồng các điều khoản hạn chế như: kiểm soát việc chia cổ tức, kiểm soát hoạt động đầu tư, yêu cầu thông tin để giám sát tình hình hoạt động doanh nghiệp. Việc sử dụng các điều khoản hạn chế nói trên phải dựa trên số liệu kế toán của doanh nghiệp Do đó, các nhà quản lý sẽ tìm cách vận dụng chính sách kế toán khi lập báo cáo tài chính có lợi nhất cho doanh nghiệp khi doanh nghiệp gần đến tình trạng vi phạm hợp đồng vay.
Lý thuyết đại diện cho rằng xung đột sẽ phát sinh khi có thông tin không đầy đủ và bất cân xứng giữa chủ thể và đại diện trong công ty. Cả hai bên có lợi ích khác nhau và vấn đề này được giảm thiểu bằng cách sử dụng các cơ chế thích hợp để có thể hạn chế sự phân hóa lợi ích giữa cổ đông và người quản lý công ty, thông qua thiết lập những cơ chế đãi ngộ thích hợp cho các nhà quản trị, và thiết lập cơ chế giám sát hiệu quả để hạn chế những hành vi không bình thường, tư lợi của người quản lý công ty. Do sự không đối xứng, không hoàn hảo về thông tin giữa người ủy quyền và người đại diện, việc tồn tại chi phí người đại diện là tất yếu. Tái cơ cấu các doanh 123doc 8 nghiệp Nhà nước có rất nhiều nội dung phải triển khai, song chắc chắn một nội dung quan trọng cần phải được giải quyết đó là lựa chọn người đại diện vốn Nhà nước tại doanh nghiệp.
Tác động từ kiểm soát của Nhà nước cũng ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp. Các khoản đầu tư với sự can thiệp bởi Chính phủ có thể sẽ bỏ lỡ các cơ hội đầu tư có lợi nhuận để thực hiện các kế hoạch và chính sách mà Chính phủ đề ra. Thêm vào đó, khi các dự án không đạt được kết quả như mong muốn hoặc khi có cơ hội giảm đầu tư, các doanh nghiệp Nhà nước khó có thể chấm dứt các dự án không có hiệu quả hoặc giảm đầu tư do những xung đột tiềm ẩn với các chương trình và chính sách của Chính phủ. Tác động của sự can thiệp của Chính phủ vào hiệu quả đầu tư có thể hỗ trợ khả năng tiếp cận tài chính của các doanh nghiệp dễ dàng hơn.
Bằng chứng thống nhất cho thấy các doanh nghiệp có quan hệ chính trị có nhiều nguồn tài chính ngân hàng hơn (Sapienza, 2004; Khwaja and Mian, 2005; Faccio et al., 2006; Leuz and Oberholzer-Gee, 2006). Bài nghiên cứu này tập trung làm rõ tác động của sự can thiêp Chính phủ đến hiệu quả đầu tư tại các doanh nghiệp hiện nay.2 Các nghiên cứu liên quan trước đây 2.1 Các nghiên cứu về loại hình sở hữu tác động đến hiệu quả đầu tư. Theo nghiên cứu của D-Chen (2013) về tác động của sự can thiệp của Chính phủ đối với đầu tư tương đối cao hơn và quan trọng hơn giữa các doanh nghiệp Nhà nước so với các doanh nghiệp ngoài Nhà nước. Sự kết hợp đó làm hạn chế hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp Nhà nước nhưng không ảnh hưởng đối với các doanh nghiệp ngoài Nhà nước.
Kết luận này cũng phù hợp với giả thiết ban đầu của bài nghiên cứu. Theo R Innes (1991) nghiên cứu về vấn đề đầu tư và sự can thiệp của Chính phủ. Ở mức đầu tư cao hơn sẽ làm cho giảm bớt động lực vay và đầu tư. Vì vậy đảm bảo cho vay sẽ khuyến khích các chủ doanh nghiệp vay để đầu tư khi mức đầu 123doc 9 tư thấp hơn quy mô khoản vay được bảo lãnh.
Điều đó dẫn đến việc SOEs có hệ số đòn bẩy cao hơn so non-SOEs. Một số nghiên cứu của De Long and Summers (1991), Corrado, Hulten, và Sichel (2009), Daniele (2011) tập trung vào những ảnh hưởng của sự can thiệp của Chính phủ, đặc biệt là sự đầu tư quá nhiều vào tài sản cố định trong số các doanh nghiệp Nhà nước.