Chương 1: Lý luận chung về hiệu quả cho vay đối với hộ nghèo của NHCSXH huyện Yên Dũng. Chương 2: Thực trạng hiệu quả trong hoạt động cho vay hộ nghèo của NHCSXH huyện Yên Dũng. Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả cho vay hộ nghèo của NHCSXH huyện Yên Dũng. 2 Bùi Thị Hằng 510TCN Tài chính ngân hàng Qua thời gian thực tập tại Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Yên Dũng, được sự giúp đỡ tận tình của cô giáo hướng dẫn - ThS Phạm Thị Hà và ban lãnh đạo cùng toàn thể cán bộ nhân viên của ngân hàng, cùng với những kiến thức, lý luận đã được trang bị trong nhà trường, em đã từng bước vận dụng vào tìm hiểu tình hình thực tế của ngân hàng, đồng thời từ những thực tế đó bổ sung và rút ra kinh nghiệm quý báu cho bản thân.
Qua đó càng thấy rõ được tầm quan trọng, bức thiết của vấn đề nâng cao hiệu quả tín dụng đối với người nghèo tại NHCSXH nói chung và tại NHCSXH huyện Yên Dũng nói riêng. Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới ban lãnh đạo cùng toàn thể các cán bộ nhân viên của NHCSXH huyện Yên Dũng , đặc biệt là cô giáo - ThS Phạm Thị Hà đã tận tình giúp đỡ em hoàn thành tốt chuyên đề này! Tuy nhiên, do khẳ năng và trình độ của bản thân có hạn nên chuyên đề của em không thể tránh khỏi những khiếm khuyết nhất định, vì vậy em rất mong sẽ nhận được nhiều ý kiến đóng góp của của các thầy, cô giáo để chuyên đề của em được hoàn chỉnh hơn, mang tính thực tiễn và khả thi cao hơn. Em xin chân thành cảm ơn ! 3 Bùi Thị Hằng 510TCN Tài chính ngân hàng CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU QUẢ CHO VAY ĐỐI VỚI HỘ NGHÈO CỦA NHCSXH HUYỆN YÊN DŨNG 1. Tổng quan về đói nghèo 1.
Khái niệm về đói nghèo Nghèo là một tình trạng thiếu thốn về nhiều phương diện như: thu nhập thấp do bị thiếu cơ hội tạo thu nhập, thiếu những nhu cầu cơ bản hàng ngày của cuộc sống, thiếu tài sản để tiêu dùng lúc bất trắc xảy ra và dễ bị tổn thương trước những mất mát. Theo hội nghị chống nghèo đói khu vực châu Á – Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc, Thái Lan (tháng 9/1993) đã đưa ra định nghĩa như sau: Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của địa phương. Bản thân khái niệm nghèo đói nó cũng bao hàm nhiều mức độ nghèo khác nhau, vì trong các nhóm dân cư có người thuộc nhóm nghèo nhưng chưa phải nghèo nhất trong xã hội mà bị rơi vào tình trạng đói kém, do đó với cách tiếp cận khác nhau về tình trạng thiếu thốn sẽ phân biệt ngưỡng nghèo khác nhau. Nghèo đói được nhận diện trên hai khía cạnh: nghèo đói tuyệt đối (Absolute Poverty) và nghèo đói tương đối (Relative Poverty).
Chuẩn mực để xác định đói nghèo 1. Phƣơng pháp xác định chuẩn đói nghèo quốc tế Phương pháp xác định đói nghèo theo tiêu chuẩn quốc tế do Tổng cục Thống kê, Ngân hàng Thế giới xác định và được thực hiện trong các cuộc khảo sát mức sống dân cư Việt Nam (năm 1992 – 1993 và năm 1997 – 1998). Đường đói nghèo ở mức thấp gọi là đường đói nghèo về lương thực và thực phẩm. Đường đói nghèo thứ hai ở mức cao hơn gọi là đường đói nghèo chung (bao gồm cả mặt hàng lương thực, thực phẩm và phi lương thực, thực phẩm).
4 Bùi Thị Hằng 510TCN Tài chính ngân hàng Đường đói nghèo về lương thực và thực phẩm được xác định theo chuẩn mực mà hầu hết các nước đang phát triển cũng như Tổ chức Y tế Thế giới và các cơ quan, khác đã xây dựng mức Kcal tối thiểu cần thiết cho mỗi thể trạng con người là chuẩn về nhu cầu 2100Kcal/người/ngày. Những người có mức chi cần thiết để đạt được lượng Kcal này được gọi là nghèo về lương thực và thực phẩm. Năm 1993, đường đói nghèo chung có mức chi tiêu là 1,16 triệu đồng/năm/người (cao hơn đường đói nghèo lương thực, thực phẩm là 55%), năm 1998 là 1,79 triệu đồng /năm/người (cao hơn đường đói nghèo lương thực, thực phẩm là 39%). Dựa trên các ngưỡng nghèo này, tỷ lệ đói nghèo chung năm 1993 là 58% và 1998 là 37,4%, còn tỷ lệ đói nghèo lương thực tương ứng đói nghèo là 25% và 15%.
Theo chuẩn nghèo của ngân hàng thế giới năm 2004 là 173 nghìn đồng/người/tháng, năm 2006 là 213 nghìn đồng/người/tháng, năm 2008 là 280 nghìn đồng/người/tháng. Đến năm 2010 chuẩn nghèo là thu nhập 2USD/người/ngày không phân biệt ở nông thôn hay thành thị. Phƣơng pháp xác định chuẩn đói nghèo của Chƣơng trình xoá đói giảm nghèo quốc gia Căn cứ vào quy mô, tốc độ tăng trưởng kinh tế và nguồn lực tài chính 2001- 2005 và mức sống thực tế của người dân ở từng vùng, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hôi Việt Nam đưa ra chuẩn nghèo đói nhằm lập danh sách hộ nghèo từ cấp thôn, xã và danh sách xã nghèo từ cấp huyện để hưởng sự trợ giúp của Chương trình mục tiêu Quốc gia về xoá đói giảm nghèo và các chính sách hỗ trợ khác… Năm 1997, Việt Nam đưa ra chuẩn nghèo đói thuộc phạm vi của Chương trình quốc gia cũ) để áp dụng cho thời kỳ 1996 – 2000 như sau: Hộ nghèo là hộ có thu nhập tuỳ theo từng vùng ở các mức tương ứng như sau: Vùng nông thôn miền núi và hải đảo: dưới 15kg gạo/người/tháng (tương đương 55 ngàn đồng); vùng đồng bằng và trung du: dưới 20kg/người/tháng (tương đương 70 ngàn đồng); vùng thành thị: dưới 25kg/người/tháng (tương đương 90 ngàn đồng). Xã nghèo: là xã có tỷ lệ hộ nghèo đói từ 40% trở lên, thiếu cơ sở hạ tầng (đường giao thông, trường học, trạm y tế, điện sinh hoạt, nước sinh hoạt, thuỷ lợi nhỏ và chợ).
5 Bùi Thị Hằng 510TCN Tài chính ngân hàng Trước những thành tích của công cuộc giảm nghèo cũng như tốc độ tăng trưởng kinh tế và mức sống, từ năm 2001 đã công bố mức chuẩn nghèo mới để áp dụng cho thời kỳ 2001 – 2005, theo đó chuẩn nghèo của Chương trình xoá đói giảm nghèo quốc gia mới được xác định ở mức độ khác nhau tuỳ theo vùng, cụ thể bình quân thu nhập là: 80 nghìn đồng/người/tháng ở các vùng hải đảo và vùng nông thôn, 100 nghìn đồng/người/tháng ở các vùng đồng bằng nông thôn, 150 nghìn đồng/người/tháng ở khu vực thành thị. Trong tương lai sẽ tiến đến sử dụng một chuẩn thống nhất để đánh giá tỷ lệ hộ nghèo ở Việt Nam và có tính đến tiêu chí quốc tế để so sánh. Chuẩn nghèo được Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành từ năm 2005 quy định mức 200 nghìn đồng/người/tháng khu vực nông thôn và 260 nghìn đồng/người/tháng khu vực thành thị.2009 chuẩn nghèo quốc gia được tăng lên 300 nghìn đồng/người và 390 nghìn đồng/người theo đơn vị tháng cho khu vực nông thôn và thành thị tương ứng phản ánh tình trạng biến động kinh tế, chỉ số giá tiêu dùng tăng 40% và lạm phát tăng cao. Mức chuẩn nghèo mới được đưa ra theo đề xuất và thống nhất của Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Tổng cục Thống kê.
Chuẩn nghèo được tính toán dựa vào các nhu cầu tối thiểu hàng ngày về ăn, mặc, ở, chăm sóc sức khỏe, giáo dục, đi lại và giao lưu xã hội. Trong đó, nhu cầu về thức ăn ước tính chiếm khoảng 60% tổng nhu cầu chi tiêu của các hộ nghèo. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) là 12,5% năm 2007,lên đến 29% giữa năm 2008 và tới thời điểm 31.2008 giảm xuống 25%, cho đến 31.2009 chỉ số CPI trở lại các con số một chữ số. Nếu tính theo chỉ số CPI năm 2007 (12,5%) và năm 2008 (24,5%) thì chuẩn nghèo mới sẽ ở mức 270 nghìn đồng/người/tháng cho khu vực nông thôn và 360 nghìn đồng/người/tháng cho khu vực thành thị.
Căn cứ vào cơ sở tính toán này, cuối năm 2008 có 2,9 triệu hộ gia đình Việt Nam thuộc diện nghèo, tương đương với tỷ lệ hộ nghèo cả nước xấp xỉ 15%. Tuy nhiên, nếu chuẩn nghèo dựa vào chỉ số giá tiêu dùng là 12,5% năm 2007 và 28% năm 2008 (thu nhập theo đầu người hàng tháng là 300 nghìn đồng và 390 nghìn đồng tương ứng cho khu vực 6 Bùi Thị Hằng 510TCN Tài chính ngân hàng nông thôn và thành thị) thì tỉ lệ hộ nghèo tại Việt Nam là 17,5% tương ứng với 3,4 triệu hộ. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội khẳng định, chỉ số CPI vượt quá 10% thì Bộ đề xuất với Chính phủ điều chỉnh ngưỡng nghèo và áp dụng các mức 300 nghìn đồng và 390 nghìn đồng được thực hiện từ 01. Chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011 - 2015 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội theo Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg có hiệu lực từ ngày 1-1-2011 như sau: 1.
Hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng (từ 4.000 đồng/người/năm) trở xuống. Hộ nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/người/tháng (từ 6.000 đồng/người/năm) trở xuống. Hộ cận nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000 đồng/người/tháng. Hộ cận nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 501.000 đồng/người/tháng.
Mức chuẩn nghèo quy định nêu trên là căn cứ để thực hiện các chính sách an sinh xã hội và chính sách kinh tế, xã hội khác. Khái quát chung về hoạt động cho vay hộ nghèo của NHCSXH 1. Khái niệm NHCSXH NHCSXH là ngân hàng quốc doanh được thành lập theo Quyết định 131/2012/QĐ- TTg ngày 4 tháng 10 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam trên cơ sở tổ chức lại Ngân hàng phục vụ người nghèo. Loại ngân hàng này không hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận.
Nó được tạo vốn dưới hình thức đặc thù để cho vay ưu đãi, hoặc tạo vốn trên thị trường để cho vay ưu đãi nhưng được Nhà nước bù phần chênh lệch lãi suất. NHCSXH được thành lập và hoạt động trên cơ sở Ngân hàng Phục vụ người nghèo và tách khỏi hoạt động của NHNo&PTNT, đồng thời tiếp nhận một số hoạt 7 Bùi Thị Hằng 510TCN Tài chính ngân hàng động tín dụng của Nhà nước mà trước đó do các tổ chức khác đảm nhận như cho vay giải quyết việc làm, cho vay học sinh sinh viên.