Mở đầu Chƣơng 1: Tổng quan về chi trả dịch vụ môi trƣờng rừng Chƣơng 2: Đánh giá hiệu quả thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trƣờng rừng trên địa bàn huyện Bắc Yên Chƣơng 3: Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả trong việc thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trƣờng rừng và bảo vệ rừng đầu nguồn huyện Bắc Yên Kết luận và kiến nghị 5 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CHI TRẢ DỊCH VỤ MÔI TRƢỜNG RỪNG 1. Các khái niệm về chi trả dịch vụ môi trƣờng rừng Chi trả dịch vụ hệ sinh thái (Payment for Ecosystem Services – Chi trả dịch vụ môi trƣờng) hay còn đƣợc gọi là chi trả cho dịch vụ môi trƣờng (Payment for Environmental Services) đƣợc xem là cơ chế nhằm thúc đẩy việc tạo ra và sử dụng các dịch vụ sinh thái bằng cách kết nối ngƣời cung cấp dịch vụ và ngƣời sử dụng dịch vụ hệ sinh thái. Một khái niệm hẹp hơn về chi trả môi trƣờng đƣợc đƣa ra năm 2005 là: “ Chi trả dịch vụ môi trƣờng là một giao dịch trên cơ sở tự nguyện mà ở đó dịch vụ môi trƣờng đƣợc xác định cụ thể (hoặc hoạt động sử dụng đất để đảm bảo có đƣợc dịch vụ này) đang đƣợc ngƣời mua (tối thiểu một ngƣời mua) mua của ngƣời bán (tối thiểu một ngƣời bán) khi và chỉ khi ngƣời cung cấp dịch vụ môi trƣờng đảm bảo đƣợc việc cung cấp dịch vụ môi trƣờng này” [1]. - Môi trường rừng bao gồm các hợp phần của hệ sinh thái rừng: thực vật, động vật, vi sinh vật, nƣớc, đất, không khí, cảnh quan thiên nhiên.
Môi trƣờng rừng có các giá trị sử dụng đối với nhu cầu của xã hội và con ngƣời, gọi là giá trị sử dụng của môi trƣờng rừng, gồm: bảo vệ đất, điều tiết nguồn nƣớc, phòng hộ đầu nguồn, phòng hộ ven biển, phòng chống thiên tai, đa dạng sinh học, hấp thụ và lƣu giữ các bon, du lịch, nơi cƣ trú và sinh sản của các loài sinh vật, gỗ và lâm sản khác. - Dịch vụ môi trường rừng (Dịch vụ môi trƣờng rừng) là công việc cung ứng các giá trị sử dụng của môi trƣờng rừng để đáp ứng các nhu cầu của xã hội và đời sống của nhân dân, bao gồm các loại dịch vụ đƣợc quy định tại khoản 2 Điều 4 Nghị định 99/2010/NĐ-CP[2]. - Chi trả dịch vụ môi trường rừng là quan hệ cung ứng và chi trả giữa bên sử dụng dịch vụ môi trƣờng rừng trả tiền cho bên cung ứng dịch vụ môi trƣờng rừng theo quy định tại Điều 6 của Nghị định 99/2010/NĐ-CP. 6 - Các loại rừng và dịch vụ môi trường rừng được trả tiền dịch vụ môi trường rừng là các khu rừng có cung cấp một hay nhiều dịch vụ môi trƣờng rừng gồm: rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và rừng sản xuất.
Các loại dịch vụ môi trƣờng rừng đƣợc chi trả tiền dịch vụ môi trƣờng rừng gồm: + Bảo vệ đất, hạn chế xói mòn và bồi lắng lòng hồ, lòng sông, lòng suối; + Điều tiết và duy trì nguồn nƣớc cho sản xuất và đời sống xã hội; + Hấp thụ và lƣu giữ các bon của rừng, giảm phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính bằng các biện pháp ngăn chặn suy thoái rừng, giảm diện tích rừng và phát triển rừng bền vững; + Bảo vệ cảnh quan tự nhiên và bảo tồn đa dạng sinh học của các hệ sinh thái rừng phục vụ cho dịch vụ du lịch; + Dịch vụ cung ứng bãi đẻ, nguồn thức ăn và con giống tự nhiên, sử dụng nguồn nƣớc từ rừng cho nuôi trồng thủy sản. Theo Quyết định 380/2008/QĐ-TTg và Nghị định 99/2010/NĐ-CP. Hiện nay các loại dịch vụ môi trƣờng rừng đƣợc tỉnh Sơn La chính thức chi trả gồm: Dịch vụ về điều tiết và cung ứng nguồn nƣớc; Dịch vụ bảo vệ đất, hạn chế xói mòn, chống bồi lắng lòng hồ; 1. Giá trị khoa học của chi trả dịch vụ môi trƣờng rừng 1.
Giá trị phòng hộ đầu nguồn Nhiều nghiên cứu đã khẳng vai trò to lớn của rừng trong việc phòng hộ đầu nguồn. Các chức năng này bao gồm: giữ đất – và do đó kiểm soát xói mòn và quá trình lắng đọng bùn cát; điều tiết dòng chảy hạn chế lũ lụt, cung cấp nguồn nƣớc, kiểm soát chất lƣợng nƣớc,. Việc mất đi lớp rừng che phủ có thể dẫn đến hậu quả nghiêm trọng nếu diễn ra việc khai thác gỗ bừa bãi hoặc sử dụng đất không hợp lý [2]. 7 Chúng ta phải trả giá đắt cho việc suy giảm các vùng đầu nguồn do phá rừng và sử dụng đất không hợp lý.
Ngày nay, một phần năm dân số thế giới bị thiếu nƣớc sạch để uống và một nửa dân số thế giới thiếu nƣớc cho các nhu cầu vệ sinh [3]. Việc tàn phá rừng đầu nguồn đã góp phần làm tăng các thảm họa tự nhiên gây ảnh hƣởng lớn đến đời sống và sản xuất. Chẳng hạn nhƣ lũ lụt hàng năm làm hàng ngàn ngƣời bị thiệt mạng, hàng vạn gia đình mất nhà cửa. Thiệt hại về tài sản trị giá hàng tỷ đôla.
Sự bồi lắng tại các hồ chứa thủy điện làm giảm tuổi thọ của hồ chứa và tăng thêm chi phí trong việc sản xuất điện năng. Ô nhiễm nguồn nƣớc đe dọa cuộc sống của các loài cá, động và thực vật trong hệ sinh thái nƣớc vốn rất nhạy cảm, đồng thời đe dọa cả chất lƣợng nƣớc mà con ngƣời sử dụng cho sinh hoạt hàng ngày. Nhƣ vậy có thể thấy hai chức năng quan trọng của rừng trong việc duy trì khả năng phòng hộ của các vùng đầu nguồn là: Thứ nhất rừng hạn chế xói mòn đất và bồi lắng. Xói mòn đất là một vấn đề nghiêm trọng đối với sản xuất nông, lâm nghiệp ở nhiều vùng nhiệt đới và á nhiệt đới và là một trong những nguyên nhân chính gây thoái hoá đất và sa mạc hóa.
Rừng bị tàn phá dẫn đến bề mặt đất đai chịu ảnh hƣởng trực tiếp của nƣớc mƣa, dòng chảy bề mặt và là nguyên nhân cơ bản làm cho xói mòn đất tăng nhanh. Thứ hai rừng điều tiết dòng chảy hạn chế lũ lụt, cung cấp nguồn nƣớc. Rừng và nguồn nƣớc không thể tách rời nhau. Rừng và nƣớc xuất hiện đồng thời, và thƣờng xuyên có tác động qua lại.
Các loài cây đều sử dụng nƣớc cho đến khi nó bị chặt hạ. Sự xuất hiện của thực vật là chỉ thị cho sự sẵn có của nguồn nƣớc. Vì vậy, trong vùng nhiệt đới lớp thảm thực vật sẽ phát triển tốt tƣơi ở những nơi có nguồn nƣớc dồi dào. Nguồn nƣớc dƣ dật sau khi đƣợc thực vật sử dụng sẽ thấm xuống đất rừng, tham gia vào mực nƣớc ngầm và bổ sung vào dòng chảy sông suối trừ một lƣợng nƣớc nhỏ bốc hơi vật lý và thoát khỏi đất rừng hoặc đóng thành băng.
Nguồn nƣớc nhả ra từ rừng và đất rừng thƣờng mang lại lợi ích to lớn đối với đời sống và sinh hoạt của con ngƣời. Lƣợng giá giá trị của rừng trong phòng hộ đầu nguồn cũng đã đƣợc nghiên cứu. Giá trị của rừng trong hạn chế xói mòn là rất đáng kể. Xói mòn đất ở nơi phát rừng làm rẫy cao gấp 10 lần ở những khu vực có rừng tự nhiên.
8 Các nhà khoa học Trung Quốc cho rằng giá trị của rừng trong phòng hộ đầu nguồn là rất lớn. Hàng năm giá trị của rừng trong bảo vệ cố định đất là 11,5 tỷ NDT (khoảng 1,4 tỷ USD); bảo vệ độ phì đất là 226,6 tỷ NDT (khoảng 28 tỷ USD); phòng chống lũ lụt là 78,5 tỷ NDT (khoảng 9,8 tỷ USD) và tăng nguồn nƣớc là 93,6 tỷ NDT (khoảng 11,6 tỷ USD). Rõ ràng là rừng đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong phòng hộ đầu nguồn mà nhờ đó hạn chế đƣợc xói mòn đất và lũ lụt, quá trình bồi lắng và đồng thời đảm bảo nguồn nƣớc sạch dồi dào phục vụ cho sinh hoạt, tƣới tiêu sản xuất nông nghiệp và làm thuỷ điện. Giá trị bảo tồn Đa dạng sinh học Rừng đƣợc coi là sinh cảnh cực kỳ quan trọng xét về mặt đa dạng sinh học mà chúng sở hữu.
Lấy số lƣợng loài làm ví dụ minh chứng cho tính đa dạng sinh học. Tổng số sinh vật đƣợc mô tả và phát hiện lên đến khoảng 1,75 triệu loài và ngƣời ta phỏng đoán rằng con số này chỉ chiếm 13% số lƣợng thực tế. Có nghĩa là số loài thực tế có thể là 13,6 triệu [4],[5]. Bao nhiêu trong tổng số này trú ngụ ở các cánh rừng trên thế giới vẫn là điều chƣa đƣợc biết đến.
Wilson (1992) cho rằng có lẽ một nửa trong số các loài đƣợc biết đến sống ở rừng nhiệt đới và còn rất nhiều loài sẽ tiếp tục đƣợc khám phá ở các khu rừng nhiệt đới. Mất rừng, đặc biệt là rừng nhiệt đới – môi trƣờng sống quan trọng của đa dạng sinh học, đồng nghĩa với việc mất đi tính đa dạng sinh học của nhân loại. Theo thống kê của Tổ chức Nông Lƣơng thế giới (FAO), ƣớc tính khoảng 24% các loài động vật có vú trên trái đất và khoảng 12% các loài chim đang đứng trƣớc nguy cơ tuyệt chủng. Nguyên nhân chính dẫn đến sự tuyệt chủng của các loài vật kể trên là chúng bị mất đi môi trƣờng sống quen thuộc, mà chủ yếu là các hệ sinh thái rừng.
Theo Viện Tài nguyên thế giới việc chặt phá rừng nhiệt đới ƣớc tính sẽ làm mất đi 5 – 15% các loài sinh vật trên trái đất trong khoảng thời gian từ năm 1990 đến năm 2020. Đánh giá giá trị bảo tồn đa dạng sinh học đã đƣợc một số quốc gia quan tâm thực hiện. Các nghiên cứu đều khẳng định giá trị to lớn của đa dạng sinh học trong các hệ sinh thái rừng nhiệt đới. Kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học Trung Quốc cho thấy giá 9 trị đa dạng sinh học của rừng Trung Quốc là 7.
Trong đó giá trị đa dạng sinh học của rừng nhiệt đới là cao nhất, khoảng 59.346 NDT/ha (tƣơng đƣơng 7.418 USD/ha) và thấp nhất là rừng ở khu cao nguyên Thanh Tạng, bình quân là 4. Giá trị đa dạng sinh học của rừng Trung Quốc bình quân cho mỗi hécta mỗi năm là 58. Việt Nam là một trong các quốc gia có tính đa dạng sinh học cao nhất thế giới, đƣợc công nhận là một quốc gia ƣu tiên cao cho bảo tồn toàn cầu. Các hệ sinh thái của Việt Nam giàu có và đa dạng với nhiều kiểu rừng, đầm lầy, sông suối,.cùng tạo nên môi trƣờng sống cho khoảng 10% tổng số loài chim và thú trên toàn cầu.