Luận án tiến sĩ thực trạng và hiệu quả can thiệp đào tạo liên tục cho nhân viên y tế khoa y học cổ truyền tuyến huyện tại tỉnh thanh hóa

Luận án tiến sĩ nghiên cứu thực trạng và hiệu quả can thiệp đào tạo liên tục cho nhân viên y tế khoa y học cổ truyền tuyến, phát triển phương pháp mới, đánh giá hiệu quả ứng dụng

Trường đại học

Trường Đại học Y Hà Nội

Chuyên ngành

Y tế công cộng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2021

175
3
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về hiệu quả can thiệp đào tạo liên tục cho nhân viên y tế tại Thanh Hóa

Đào tạo liên tục cho nhân viên y tế là một yếu tố quan trọng trong việc nâng cao chất lượng dịch vụ y tế. Tại tỉnh Thanh Hóa, việc triển khai các chương trình đào tạo liên tục đã được chú trọng nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người dân. Nghiên cứu này sẽ phân tích thực trạng và hiệu quả của các can thiệp đào tạo liên tục cho nhân viên y tế tại đây.

1.1. Đào tạo liên tục Khái niệm và tầm quan trọng

Đào tạo liên tục là quá trình cập nhật kiến thức và kỹ năng cho nhân viên y tế. Điều này không chỉ giúp nâng cao chất lượng dịch vụ mà còn đảm bảo nhân viên y tế đáp ứng được các yêu cầu mới trong chăm sóc sức khỏe.

1.2. Tình hình đào tạo liên tục tại Thanh Hóa

Tại Thanh Hóa, chương trình đào tạo liên tục đã được triển khai nhưng vẫn còn nhiều thách thức. Việc thiếu cơ sở hạ tầng và đội ngũ giảng viên chất lượng là những vấn đề cần được giải quyết.

II. Vấn đề và thách thức trong đào tạo liên tục cho nhân viên y tế

Mặc dù có nhiều nỗ lực trong việc triển khai đào tạo liên tục, nhưng vẫn tồn tại nhiều vấn đề và thách thức. Những khó khăn này ảnh hưởng đến hiệu quả của các chương trình đào tạo.

2.1. Thiếu hụt nguồn lực và cơ sở vật chất

Nhiều cơ sở y tế tại Thanh Hóa vẫn chưa có đủ nguồn lực và cơ sở vật chất để tổ chức các khóa đào tạo liên tục. Điều này dẫn đến việc không thể đáp ứng nhu cầu học tập của nhân viên y tế.

2.2. Khó khăn trong việc cập nhật chương trình đào tạo

Chương trình đào tạo hiện tại chưa được cập nhật thường xuyên, dẫn đến việc nhân viên y tế không được trang bị kiến thức mới nhất trong lĩnh vực y học cổ truyền.

III. Phương pháp can thiệp đào tạo liên tục hiệu quả cho nhân viên y tế

Để nâng cao hiệu quả của can thiệp đào tạo liên tục, cần áp dụng các phương pháp giảng dạy hiện đại và phù hợp với nhu cầu thực tế của nhân viên y tế.

3.1. Áp dụng công nghệ thông tin trong đào tạo

Sử dụng công nghệ thông tin trong đào tạo giúp nhân viên y tế dễ dàng tiếp cận kiến thức mới và nâng cao kỹ năng một cách hiệu quả.

3.2. Tổ chức các khóa học thực hành

Các khóa học thực hành sẽ giúp nhân viên y tế áp dụng kiến thức vào thực tế, từ đó nâng cao chất lượng dịch vụ y tế.

IV. Kết quả nghiên cứu về hiệu quả can thiệp đào tạo liên tục

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng can thiệp đào tạo liên tục có tác động tích cực đến trình độ chuyên môn của nhân viên y tế tại Thanh Hóa. Kết quả này cho thấy sự cần thiết của việc tiếp tục đầu tư vào đào tạo.

4.1. Đánh giá hiệu quả sau 1 năm can thiệp

Sau 1 năm triển khai can thiệp, trình độ chuyên môn của nhân viên y tế đã được cải thiện rõ rệt, với tỷ lệ hài lòng của nhân viên tăng lên đáng kể.

4.2. Phản hồi từ nhân viên y tế về chương trình đào tạo

Phản hồi từ nhân viên y tế cho thấy họ cảm thấy tự tin hơn trong công việc và có khả năng áp dụng kiến thức mới vào thực tiễn.

V. Kết luận và hướng phát triển tương lai cho đào tạo liên tục

Đào tạo liên tục cho nhân viên y tế tại Thanh Hóa cần được chú trọng hơn nữa trong tương lai. Việc cải thiện chất lượng đào tạo sẽ góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ y tế cho người dân.

5.1. Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả đào tạo

Cần có các giải pháp cụ thể để nâng cao hiệu quả đào tạo, bao gồm việc cải thiện cơ sở vật chất và cập nhật chương trình đào tạo thường xuyên.

5.2. Tầm nhìn phát triển nguồn nhân lực y tế

Tương lai của đào tạo liên tục tại Thanh Hóa cần hướng đến việc phát triển nguồn nhân lực y tế chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng đa dạng của cộng đồng.

24/07/2025
Luận án tiến sĩ thực trạng và hiệu quả can thiệp đào tạo liên tục cho nhân viên y tế khoa y học cổ truyền tuyến huyện tại tỉnh thanh hóa

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Ngành Y tế Việt Nam kế thừa truyền thống lâu đời về y học cổ truyền (YHCT). Việt Nam là một quốc gia thuộc khối ASEAN đƣợc đánh giá là có tiềm năng lớn phát triển ngành y học cổ truyền 1. Ở một số nƣớc trong khu vực châu Á nhƣ Trung Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, Bangladesh đƣa y học cổ truyền vào chƣơng trình mục tiêu quốc gia. Trong những năm gần đây, Y học cổ truyền đã phát triển mạnh mẽ và đạt nhiều kết quả trong chăm sóc sức khỏe nhân dân 2,3,4.

Trong khi Y học hiện đại ngày càng có nhiều thành tựu mới, kĩ thuật công nghệ hiện đại, phƣơng thức điều trị mới thì nền Y học cổ truyền cũng luôn tìm ra những bài thuốc mới, điều trị hiệu quả và áp dụng những kĩ thuật mới trong chẩn trị. Tuy nhiên, đến nay chất lƣợng công tác khám, chữa bệnh bằng y học cổ truyền còn nhiều hạn chế, do một số tỉnh chƣa có bệnh viện y học cổ truyền; nhiều tỉnh, bệnh viện y dƣợc cổ truyền có cơ sở hạ tầng xuống cấp, đội ngũ cán bộ chuyên ngành y dƣợc cổ truyền còn thiếu về số lƣợng, yếu về chất lƣợng. Để có thể phát triển đƣợc nguồn nhân lực y học cổ truyền đáp ứng với nhu cầu hiện nay trong chăm sóc sức khỏe nhân dân cả về số lƣợng và chất lƣợng. Việc đánh giá thực trạng nguồn nhân lực để có kế hoạch cũng nhƣ chƣơng trình đào tạo nguồn nhân lực phù hợp với nhu cầu thực tế cũng là một trong những nội dung công tác của ngành.

Đào tạo liên tục là một hình thức đảm bảo cập nhật trình độ, kĩ năng, đạo đức nghề nghiệp của nhân viên y tế để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao, càng đa dạng của cộng đồng nhằm đa dạng hóa các hình thức đào tạo khác nhau để phát triển nguồn nhân lực y tế cho tuyến cơ sở 5. Năm 2016, Sở Y tế tỉnh Thanh Hóa tổ chức hội nghị giao ban tuyến YHCT trong tỉnh và đƣa ra yêu cầu về phƣơng hƣớng nhiệm vụ đối với ngành YHCT trong tỉnh, trong đó có nội dung về triển khai kế hoạch 5 năm đào tạo nâng cao năng lực cho cán bộ YHCT đặc biệt là tuyến huyện 6. 2 Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại chƣơng trình đào tạo vẫn chƣa đƣợc triển khai có hiệu quả, một phần vì chƣa xác định đƣợc mô hình đào tạo và chƣơng trình đào tạo phù hợp, vừa cơ bản vừa cập nhật về YHCT đối với bệnh viện huyện - tuyến cơ sở. Rất cần có thông tin đầy đủ dựa trên kết quả nghiên cứu khoa học ở phạm vi rộng đối với công tác đào tạo liên tục Y học cổ truyền.

Những câu hỏi đặt ra cho chúng tôi là: hiện nay ở Thanh Hóa nhu cầu đào tạo liên tục về y học cổ truyền cho nhân viên y tế tuyến cơ sở ra sao? Việc tổ chức thực hiện công tác này có đáp ứng đƣợc nhu cầu đó hay không? Những vấn đề tồn tại là gì, nguyên nhân của vấn đề đó (nhƣ chƣơng trình đào tạo, tổ chức đào tạo, sự chấp nhận cũng nhƣ yêu cầu của ngƣời học với mỗi khóa) và cần có những biện pháp hỗ trợ công tác đào tạo liên tục sao cho có hiệu quả hơn nhằm từng bƣớc nâng cao chất lƣợng chuyên môn của nhân viên y tế về Y học cổ truyền. Với những câu hỏi đó, chúng tôi thực hiện đề tài nghiên cứu “Thực trạng và hiệu quả can thiệp đào tạo liên tục cho nhân viên y tế khoa y học cổ truyền tuyến huyện tại tỉnh Thanh Hóa” với 2 mục tiêu sau: 1. Phân tích thực trạng đào tạo liên tục cho nhân viên y tế Khoa Y học cổ truyền tuyến huyện tại tỉnh Thanh Hóa năm 2018. Đánh giá hiệu quả sau 1 năm can thiệp Đào tạo liên tục cho nhân viên y tế Khoa Y học cổ truyền tuyến huyện tại tỉnh Thanh Hóa.

3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN 1. Khái niệm nguồn nhân lực y tế 1. Khái niệm Nguồn nhân lực là nguồn lực con ngƣời của những tổ chức (với quy mô, loại hình, chức năng khác nhau) có khả năng và tiềm năng tham gia vào quá trình phát triền của tổ chức cùng với sự phát triển kinh tế xã hội của quốc gia, khu vực, thế giới. Cách hiểu này về nguồn nhân lực xuất phát từ quan niệm coi nguồn nhân lực là nguồn lực với các yếu tố vật chất, tinh thần tạo nên năng lực, sức mạnh phục vụ cho sự phát triển nói chung của các tổ chức 7,8.

Năm 2006, WHO đã đƣa ra định nghĩa: “Nhân lực y tế bao gồm tất cả những người tham gia chủ yếu vào các hoạt động nhằm nâng cao sức khoẻ”. Theo đó, nhân lực y tế bao gồm những ngƣời cung cấp dịch vụ y tế, ngƣời làm công tác quản lý và cả nhân viên giúp việc mà không trực tiếp cung cấp các dịch vụ y tế. Nó bao gồm nhân viên y tế (NVYT) chính thức và cán bộ không chính thức (nhƣ tình nguyện viên xã hội, những ngƣời chăm sóc sức khỏe gia đình, lang y.); kể cả những ngƣời làm việc trong ngành y tế và trong những ngành khác (nhƣ quân đội, trƣờng học hay các doanh nghiệp) 9. Theo định nghĩa nhân lực y tế của WHO, ở Việt Nam các nhóm đối tƣợng đƣợc coi là “Nhân lực y tế” sẽ bao gồm các cán bộ, nhân viên y tế thuộc biên chế và hợp đồng đang làm trong hệ thống y tế công lập (bao gồm cả quân y), các cơ sở đào tạo và nghiên cứu khoa học y/dƣợc và tất cả những ngƣời khác đang tham gia vào các hoạt động quản lý và cung ứng dịch vụ chăm sóc sức khỏe (CSSK) nhân dân (nhân lực y tế tƣ nhân, các cộng tác viên y tế, lang y và bà đỡ/mụ vƣờn) 9.

Có hai khái niệm thƣờng đƣợc sử dụng khi bàn luận về nguồn nhân lực y tế: 4 Khái niệm “phát triển nguồn nhân lực” liên quan đến cơ chế nhằm phát triển kĩ năng, kiến thức và năng lực chuyên môn của cá nhân và về mặt tổ chức công việc 10. Bên cạnh đó, cần quan tâm đến khái niệm “quản lý nguồn nhân lực”. Năm 2006 theo WPRO “quản lý nguồn nhân lực là một quá trình tạo ra môi trƣờng tổ chức thuận lợi và đảm bảo rằng nhân lực hoàn thành tốt công việc của mình bằng việc sử dụng các chiến lƣợc nhằm xác định và đạt đƣợc sự tối ƣu về số lƣợng, cơ cấu và sự phân bố nguồn nhân lực với chi phí hiệu quả nhất. Mục đích chung là để có số nhân lực cần thiết, làm việc tại từng vị trí phù hợp, đúng thời điểm, thực hiện đúng công việc, và đƣợc hỗ trợ chuyên môn phù hợp với mức chi phí hợp lý” 10,11.

Thành phần hệ thống y tế Năm 2006, theo WHO, hệ thống y tế có các thành phần cơ bản 10,12: - Nguồn nhân lực y tế: đƣợc coi là một trong những thành phần cơ bản và quan trọng nhất trong hệ thống. Nguồn nhân lực có mối liên hệ rất chặt chẽ và không thể thiếu đối với các thành phần khác của hệ thống y tế. - Phát triển nguồn nhân lực: không chỉ thông qua đào tạo, mà còn phải sử dụng, quản lý một cách phù hợp để cung cấp hiệu quả các dịch vụ y tế đến ngƣời dân. - Cần có một mô hình tổ chức và chức năng của các thành phần của hệ thống cung ứng dịch vụ: để biết đƣợc nhu cầu về quy mô và cơ cấu nhân lực y tế nhƣ thế nào.

Ngƣợc lại, hệ thống cung ứng dịch vụ y tế phụ thuộc mật thiết vào mô hình tổ chức và cơ cấu nhân lực y tế. - Hệ thống thông tin y tế: cũng phải cung cấp đầy đủ các thông tin cần thiết, tin cậy cho việc lập kế hoạch và sử dụng nhân lực đáp ứng nhu cầu CSSK của nhân dân, đồng thời giúp phát hiện những vấn đề của nguồn nhân 5 lực nhƣ phân bố không hợp lý, năng lực không phù hợp để đáp ứng nhu cầu CSSK từ phía ngƣời dân và cộng đồng, hoặc phát hiện và phân tích tần suất sai sót chuyên môn để khắc phục. - Cấp tài chính cho nhân lực y tế: cũng phải đảm bảo cho công tác đào tạo mới và đào tạo liên tục NVYT, đủ để trả lƣơng và chính sách khuyến khích ở mức đảm bảo đƣợc cuộc sống cho NVYT, tạo ra động lực khuyến khích NVYT làm việc có chất lƣợng và sẵn sàng làm việc ở các miền núi, vùng sâu, vùng xa, hoặc trong các môi trƣờng, chuyên ngành độc hại, nguy hiểm. Tình hình chung nhân lực y tế Việt Nam  Tình hình nhân lực y tế tại Việt Nam  Tính sẵn có của nguồn nhân lực y tế Việt Nam Trong vòng 10 năm qua, số lƣợng học sinh, sinh viên đƣợc đào tạo tại các cơ sở đào tạo y tế đã tăng lên nhiều.

Trung bình hàng năm có khoảng 6.200 sinh viên tốt nghiệp đại học thuộc các lĩnh vực y tế, 18.000 học sinh tốt nghiệp trung học y, dƣợc và khoảng 3.000 học viên tốt nghiệp sau đại học 13. Tổng số sinh viên đại học khối ngành y tốt nghiệp đại học năm 2010 là 7. Với các loại hình nhân lực y tế cơ bản là bác sĩ, dƣợc sỹ đại học và điều dƣỡng, số lƣợng sinh viên tốt nghiệp hàng năm đã tăng khá nhanh.365 sinh viên y khoa, 817 sinh viên dƣợc đại học và 790 sinh viên điều dƣỡng tốt nghiệp 10.069 sinh viên y khoa, 1.583 sinh viên dƣợc đại học và 1.710 sinh viên điều dƣỡng tốt nghiệp, tức là khoảng gấp đôi năm 2008 14. Các con số này cho thấy nguồn cung ứng nhân lực y tế đã đƣợc cải thiện đáng kể.

Số lƣợng sinh viên tốt nghiệp cũng tăng ở các loại hình đào tạo khác nhƣ kỹ thuật viên y học, bác sĩ y học dự phòng. nhƣng số lƣợng tăng không nhiều. 6 Nếu xét số NVYT trên 1 vạn dân, tổng số NVYT tăng từ 29,9 năm 2003 lên 34,7 năm 2008. Số bác sĩ trên vạn dân tăng từ 5,9 năm 2003 lên 6,52 năm 2008.

Số điều dƣỡng trên vạn dân tăng từ 6,0 năm 2003 lên 7,78 năm 2008. Số dƣợc sỹ đại học tăng từ 0,8 năm 2003 lên 1,22 năm 2008. Năm 2009 số bác sĩ/vạn dân tăng lên 6,59; số điều dƣỡng/vạn dân tăng lên 8,82; số dƣợc sỹ/vạn dân tăng lên 1,78 10.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ