Chương I Kh¸t qu¸t ®iÒu kiÖn tù nhiªn, kinh tÕ - x· héi ph¸t triÓn n«ng nghiÖp huyÖn nghÜa ®µn I. Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên 1.Vị trí địa lí Nghĩa Đàn là huyện miền núi nằm ở phía Tây Bắc tỉnh Nghệ An, có toạ độ địa lý: Cực Bắc: 19o 33’ B Nam: 19o 35’ B Tây: 105o 18 Đ Đông: 1050 35’ Đ Với diện tích: 72769 ha, Nghĩa Đàn là huyện có diện tích tự nhiên khá lớn so với các huyện trong tỉnh. Phía nam giáp huyện Tân Kì và huyện Quỳnh Lưu; Phía B¾c giáp huyện Quỳnh Lưu và tỉnh Thanh Hoá; phía Đông giáp huyện Quỳ Hợp. Mạng lưới giao thông trên địa bàn huyện có nhiều thuận lợi.
Đường bộ có quốc lộ 48, 15A, 15B đi các huyện trong tỉnh và trong nước, sang nước bạn Lào, đường thuỷ có từ sông Hiếu đi sông Con (Tân kỳ) ra sông cả về Bến Thuỷ, Cửa Lò. Như vậy, Nghĩa Đàn là cầu nối giữa miền Tây và miền Đông tỉnh Nghệ An, là trung tâm vùng Phủ Quỳ. Với vị trí này, Nghĩa Đàn có ý nghĩa lớn về cả tự nhiên lẫn kinh tế- xã hội và quốc phòng. Địa hình Huyện Nghĩa Đàn có cấu tạo địa hình khá phức tạp: 27% là đồi núi cao, 65% thuộc dạng trung du bán sơn địa và 8% đất thấp bằng thung lũng ngập nước về mùa mưa.
Đặc điểm trên đã chi phối đến các đặc điểm tự nhiên, đặc biệt là sự hình thành đất, tạo điều kịên thuận lợi phát triển một nền nông nghiệp đa dạng: cây lương thực, cây công nghiệp, cây ăn quả… 3. Khí hậu Nhìn chung khí hậu Nghĩa Đàn mang những nét chung của khí hậu Nghệ Tĩnh thuộc vùng Bắc Trung Bộ: mưa nhiều, nắng lớn có tổng nhiệt độ bình quân năm khá cao: 85030C, nhiệt độ bình quân các tháng là 230C; nhiệt độ tối cao tuyệt đối: 41,60C, nhiệt độ tối thấp tuyệt đối: -0,20C. Nền nhiệt độ này có ảnh hưởng lớn đến quá trình hình thành đất cũng như sự phát triển của cây trồng, vật nuôi. Khí hậu Nghĩa Đàn phân ra hai mùa rõ rệt: mùa nóng và mùa lạnh.
Mùa nóng được bắt đầu từ tháng IV đến tháng X, thời kì nóng nhất là từ tháng V đến tháng VIII. Mùa này nhiệt độ bình quân đạt 27 oC – 29oC, nhiệt độ tối cao trung bình lên đến 34oC. Đây là thời kỳ khô nóng: nhiệt độ cao cùng với hoạt động của gió mùa Tây Nam (gió Lào). Mùa lạnh được bắt đầu từ tháng XI đến tháng III năm sau.
Thời kỳ này ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc và địa hình, nên nhiệt độ giảm xuống. Nhiệt độ trung bình tối thấp vào khoảng 17 oC – 22oC, nhiệt độ thấp nhất có thể xuống tới 3.5oC và có khi xuống dưới 0oC. Với tổng nhiệt độ cao (8503oC), tổng giờ nắng trong năm 1579 giê, nhiệt lượng phong phú, ánh sáng dồi dào đã thúc đẩy quá trình hình thành đất cũng như đảm bảo cho cây trồng, vật nuôi phát triển và cho năng suất cao, tạo điều kiện cho tăng vụ. Tuy nhiên, chế độ biến động nhiệt đã gây ra nhiều khó khăn cho sản xuất.
Mùa nóng, mùa lạnh ở đây diễn biến thất thường, khi sớm, khi muộn, năm dài, năm ngắn, làm cho tổng nhiệt lượng cung cấp cho cây trồng cũng biến động, ảnh hưởng đến thời vụ gieo trồng, đặc biệt là ảnh hưởng của gió Lào. Nghĩa Đàn có lượng mưa khá lớn, tổng lượng mưa trung bình đạt: 1640 mm/năm (vùng Phủ Quỳ: 1563 mm , toàn tỉnh 1853 mm). Tuy nhiên lượng mưa biến đổi không đều theo thời gian và không gian. Mùa mưa từ tháng V đến tháng X lượng mưa đạt 1464 mm (chiếm 87,6%), mùa khô XI – IV chiếm 12,4%.
Để đảm bảo cho cây trồng, vật nuôi và cung cấp một phần nước cho sinh hoạt, đời sống hàng ngày, đòi hỏi phải xây dựng thêm các hồ đập để điều tiết lượng nước trong năm (thoát lũ, chứa nước). Ở đây còn chịu ảnh hưởng của bão, hàng năm bị ảnh hưởng của 2 đến 3 cơn bão, một số cơn bão làm thiệt hại đến sản xuất cũng như sinh hoạt của con người: cơn bão số 6 năm 1980, số 2 năm 1984, số 7 năm 1982. Tóm lại, khí hậu Nghĩa Đàn có nhiều thuËn lợi để tiến hành trồng trọt, chăn nuôi quanh năm với ưu thế của những cây con xứ nhiệt đới, cho phép chúng ta sản xuất 3 vụ /năm. Do ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc nên có những tháng nhiệt độ xuống dưới 20oc làm phong phú thêm cây trồng, vật nuôi.
Có gió phơn Tây Nam tạo nên nét đặc biệt của các loại hoa quả vùng nhiệt đới. Tuy nhiên bên cạnh những thuận lợi còn có một số khó khăn do khí hậu mang lại: diễn biến khí hậu bất thường, phức tạp, năm rét sớm, năm rét muộn, năm gió Lào sớm, dài, năm gió Lào chậm, ngắn, năm bão ít, năm bão nhiều, có năm mưa tiểu mãn từ tháng V đến tháng VI với lượng mưa từ 300- 400 mm. Điều đó buộc chúng ta phải làm tốt công tác dự báo thời tiết dài hạn, ngắn hạn, xác lập nông dịch, bố trí cơ cấu mùa vụ, cơ cấu cây con thích hợp với từng thời kỳ, từng vùng và còn phải dự phòng biến động của thời tiết, phòng trừ dịch bệnh cho cây trồng, vật nuôi.Thuỷ văn A, Nguồn nước mặt Nguồn nước mặt của toàn huyện Nghĩa Đàn do lưu vực sông Hiếu cung cấp. Sông Hiếu chảy trong địa phận Nghĩa Đàn dài 50 km, có hai nhánh lớn với 55 phụ lưu.
Tổng diện tích lưu vực sông Hiếu thuộc huyện Nghĩa Đàn là 370km2. Dòng chính bắt nguồn từ huyện Quỳ Châu chảy cắt dọc theo hướng Tây Bắc xuống Đông Nam, chia huyện làm hai phần Đông Hiếu và Tây Hiếu. Dòng sông không ổn định, độ dốc của lòng sông lớn, hai bên bờ sông xói lở nhiều lòng sông sâu cách xa mặt thung lũng. Mực nước lớn nhất là 50,7 m và nhỏ nhất là 35,3m (chênh nhau 15,4m).
Modul dòng chảy bình quân là 34 l/s/km2, vào mùa kiệt chỉ đạt 13l/s/km2. Nhiệt độ nước khoảng 19oc – 32oc, độ khoáng hoá từ 0,1 – 0,5 g/l, dùng cho sinh hoạt và sản xuất tốt. Chế độ nước của sông Hiếu phụ thuộc hoàn toàn vào chế độ mưa. Sông Hiếu nhiều nước, khối lượng dòng chảy 3945.
10 6 m3, nhưng do lòng sông sâu nên việc lấy nước cho sản xuất và sinh hoạt trong mùa khô rất khó khăn và tốn kém, hiệu quả kinh tế không cao. - Các phụ lưu cấp 1 của sông Hiếu: + Sông Dinh: chảy từ huyện Quỳ Hợp, đoạn chảy qua Nghĩa Đàn dài 5km. + Sông Sào: bắt nguồn từ xã Nghĩa Lạc qua xã Nghĩa Bình, Nghĩa Trung vào sông Hiếu qua khe Tọ. Trên sông Sào có thể xây dựng thuỷ lợi.
Hiện nay công trình thuỷ lợi đập sông Sào đang được xây dựng. Ngoài ra còn có các khe: Khe Cái dài 23 km Khe Hang dài 24 km Khe Diên dài 16 km Khe Đá dài 17 km, diện tích lưu vực: 50 km2 Nhìn chung, các khe suối ở đây ngoài nhánh nước có nước quanh năm còn có các khe suối nhỏ mùa khô kiệt nước. Các khe suối ở đây thường hẹp và sâu, mùa mưa đi lại rất khó khăn vì phải qua nhiều đập tràn ngầm ngập nước. Vì vậy, việc bảo vệ rừng và thảm thực vật để đảm bảo các dòng chảy quanh năm là yếu tố hết sức quan trọng, đồng thời không ngừng nâng cao cơ sở hạ tầng để hạn chế bớt nhiều khó khăn trong việc đi lại và mùa lũ.
B, Nguồn nước ngầm Nguồn nước ngầm ở huyện Nghĩa Đàn có 2 dạng: - Nước tiêu thuỷ trong có lỗ hổng, nước khe nứt và khe nứt Casxtơ. - Nước tiêu thuỷ có ở trong những chỗ trũng, các thung lũng sông suối, sườn dốc thoải có thể có liên quan đến mặt nước khe nứt phân bố ở vùng Casxtơ. Mạch nước ngầm ở huyện Nghĩa Đàn tương đối sâu và có nhiều tạp chất của khoáng vật. Vì vậy, khả năng khai thác nguồn nước ngầm phục vụ cho sinh hoạt và phục vụ cho các ngành sản xuất là khó khăn.
Tóm lại, sông Hiếu và các khe suối đã hợp thành mạng lưới sông suối dạng xương cá, dẫn nước và giao thông đến các vùng trong huyện. Hệ thống sông suối của Nghĩa Đàn về mùa mưa tuy có gây ra lũ lụt, cản trở giao thông, ảnh hưởng đến sản xuất, nhưng cũng là nguồn cung cấp phù sa, nước tưới cho các cánh đồng và cung cấp nguồn nước cho sản xuất và sinh hoạt. Thổ nhưỡng Nghĩa Đàn là vùng đất trù phú, đất đai màu mỡ, có tiềm năng. Với diện tích tự nhiên là 73.767 ha trong đó có 25477 ha đất nông nghiệp (năm 2000) chiếm 34,5% diện tích đất tự nhiên, thuận lợi cho phát triển nông nghiệp đa canh với cơ cấu cây trồng vật nuôi đa dạng, đặc biệt có 13.440 ha đất đỏ Badan rất thuần lợi cho phát triển các cây công nghiệp dài ngày, cây ăn quả và chăn nuôi đại gia súc.
Phân loại Theo tài liệu mới nhât của sở địa chính tỉnh Nghệ An thì Nghĩa Đàn có 14 loại đất chính thuộc hai nhóm lớn được phân theo nguồn gốc phát sinh: Đất thuỷ thành và đất địa thành.1> Nhóm đất thuỷ thành Nhóm đất này có diện tích khoảng 17.400 ha (chiếm 25% diện tích đất tự nhiên của huyện ) gồm 6 loại đất sau: - Đất phù sa ven sông đước bồi đắp hàng năm:1407 ha(1,9% diện tích đất tự nhiên của toàn huyện) chủ yếu nằm dọc sông Hiếu, các chi lưu, phụ lưu sông Hiếu. - Đất phù sa không được bồi chua, không glây hoặc glây yếu : 3. - Đất phù sa có nhiều sản phẩm feralit: 4680 ha (6,3%). - Đất nâu vàng phát triển trên đất phù sa cổ và lũ tích : 3.
Loại đất này được phân bố ở các xã: Nghĩa Minh, Nghĩa Mai, Nghĩa Lâm, hiện nay đang trồng cây lương thực và cây ăn quả. - Đất dốc tụ ( đất firalit biến đổi do trồng lúa): loại đất này có diện tích là 3.811 ha (5,2%) phân bố ở các xã: Nghĩa Liên, Nghĩa Đức, Nghĩa Lâm, Nghĩa Mai, Nghĩa Mỹ, Nghĩa Hội, Nghĩa Lợi, Nghĩa Hồng. Đất thuỷ thành được hình thành chủ yếu do phù sa sông suối bồi đắp. Đất thuỷ thành có độ phì cao, tỉ lệ đạm trung bình, có độ PH cao, thành phần cơ giới nhẹ đến nặng, thuận lợi cho trồng cây lương thực, cây công nghiệp ngắn ngày, cây ăn quả.2> Nhóm đất địa thành Có diện tích là 54.114 ha chiếm 73,55% diện tích đất tự nhiên của huyện, gồm 8 loại đất chính sau: - Đất feralit đỏ vàng phát triển trên đá phiến sét: 34.440 ha (18,2%) phân bố tập trung ở các xã: Nghĩa An, Nghĩa Liên, Nghĩa Tiến, Nghĩa Đức và các nông trường.