CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về đánh giá và sử dụng đất vùng gò đồi 1. Khái quát về vùng gò đồi Để có những can thiệp, tác động lên sản xuất nông nghiệp nói chung và hệ thống trồng trọt vùng gò đồi nói riêng phải bắt đầu từ những quan niệm đúng và nghiên cứu sâu hơn về nó. Hiện nay nhiều tác giả nghiên cứu về vùng gò đồi nhưng sự phân bố, ranh giới về điều kiện tự nhiên thậm chí cả tên gọi cũng khác nhau.
Vùng gò đồi có khi được gọi là vùng trung du, vùng bán sơn địa, vùng đồng bằng xen đồi hay vùng đồi xen đồng bằng. Danh từ trung du được dùng trước hết để chỉ vùng chuyển tiếp về địa hình và có thể phân biệt với vùng thượng du (vùng núi) và vùng hạ du (đồng bằng). Như vậy vùng trung du được xác định bởi một dải không gian chuyển tiếp giữa vùng đồng bằng và vùng núi [35]. Lê Bá Thảo (1990) [31] cho rằng “vùng trung du là một bề mặt san bằng cổ tương đối ổn định về mặt kiến tạo, đã bị xâm thực chia cắt từ lâu và hiện đang nằm trung sự đi xuống của địa hình.
Sự phát triển đi xuống đó thể hiện ở chỗ các đỉnh đồi ngày càng bị san bằng hơn, các thung lũng mở rộng hơn”. Theo Vũ Tự Lập (1990) [38] “Đặc điểm chung nhất của đồi là có độ cao tương đồi dưới 500m, do đó tại vùng gò đồi qui luật đai cao chưa có tác dụng quyết định, khiến cho địa hình nói riêng và tự nhiên nói chung mang sắc thái nội chí tuyến, và về cơ bản lãnh thổ Việt Nam mang sắc thái một vùng rộng lớn, trong đó núi là đỉnh nhô cao”. Lưu Đức Hồng và Cs (1994) [35], đã đưa ra tiêu thức xác định về vùng gò đồi: Về vị trí địa lý ở vùng chuyển tiếp giữa đồng bằng và miền núi, về độ cao 25 - 700m so với mặt nước biển, trong đó trên 80% diện tích lãnh thổ dưới 500m. Theo nhà địa mạo Nga I.
Spiridonov (1970) các chỉ tiêu phân chia đồng bằng, đồi, núi chi tiết như bảng 1.1 dưới đây [21]: Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 5 Bảng 1. Các chỉ tiêu phân chia cấp địa hình Ngoại mạo Trắc lượng hình thái Độ chênh Kiểu hình cao địa Độ cao Độ chia Độ chia Độ dốc sườn thái hình (m) tuyệt đối Địa mạo cắt sâu cắt ngang không nghiêng (m) (m) km/km2 (độ) Thấp <10 Bằng phẳng Rất yếu Rất yếu < 30 Đồng <10 Cao bằng Lượn sóng, Yếu 10 Yếu 0,5 Sườn thoải 10- 40 nghiêng Đồi thấp 30 0 – 800 Sườn Bát úp 10 – 150 0,5 – 1 50-150 thoải vừa Đồi cao Trung bình Trung bình Đồi 10- 150 Dãy đồi 8 0 – 150 150 – 200 150 – 400 1 – 1,5 Thấp Sườn rất dốc <1000 30 – 40 0 Rất mạnh Khối,dãy núi Rất mạnh Núi >150 700 Với vách dốc Trung bình 1000-2000 > 40 0 Qua bảng trên, đồi được hiểu là dạng địa hình lồi, kích thước không lớn, đường nét mềm mại ít dốc, độ cao tương đối so với mặt địa hình vây quanh không vượt quá 200 m, dao động độ cao từ 10 – 150 m [21]. Chỉ tiêu độ cao tuyệt đối và hình thái phân chia thành đồi thấp, đồi cao, đồi bát úp dãy đồi. Qua những quan điểm trên chúng ta có thể hiểu rằng gò đồi bản thân nó là một vùng chuyển tiếp giữa đồng bằng và miền núi, ranh giới giữa gò đồi và đồng bằng, gò đồi và miền núi cũng có tính chuyển tiếp.
hai khu vực hoàn toàn khác nhau nằm cạnh nhau bao giờ cũng tồn tại một giải chuyển tiếp. Khu vực chuyển tiếp tùy theo những đặc điểm tự nhiên cụ thể của từng nơi mà có ranh giới rộng hay hẹp. Do đó việc xác định ranh giới không thể vạch theo một đường bình độ nhất định mà phải chú ý đến quá trình hình thành và phát triển tự nhiên của nó, nhất là quá trình hình thành đất, xói mòn, rửa trôi. Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 6 1.
Đặc trưng chủ yếu của vùng gò đồi ở Việt Nam a. Địa hình Vùng gò đồi là vùng chuyển tiếp giữa đồng bằng và miền núi nên có địa hình chủ yếu là đồi bát úp hay lượn sóng. Xen kẽ giữa các đồi là các thung lũng dọc theo các sông suối tạo thành những cánh đồng nhỏ hẹp từ vài ba đến hàng trăm ha. Nhìn chung như vậy, nhưng trên thực tế do vùng gò đồi nước ta kéo dài từ Bắc chí Nam nên địa hình không đồng nhất mà mang tính đa dạng theo các tiểu vùng khác nhau [35].
Khí hậu Khí hậu vùng gò đồi mang tính chuyển tiếp riêng biệt. Đặc điểm chung so với đồng bằng trong vùng là có biên độ nhiệt lớn hơn do sự giảm tốc độ gió và sự phản chiếu bức xạ của sườn đồi núi. Nhiệt độ về mùa hè thường thường cao hơn 10 và mùa đông thấp hơn 1 - 20. Lượng mưa giảm sút cùng với sự hạ thấp của độ ẩm tương đối.
Gió địa hình mạnh, ít chịu ảnh hưởng của bão. Mỗi tiểu vùng gò đồi nằm trong các miền khí hậu khác nhau vừa mang dấu ấn đặc trưng chung của vùng trung du, vừa mang đặc trưng chung của mỗi vùng. Quá trình hình thành đất vùng gò đồi - Quá trình feralit - laterit hoá Đây là quá trình đặc trưng và phổ biến của đất nhiệt đới ẩm. Quá trình này có thể chia làm hai giai đoạn: + Giai đoạn đầu phong hoá phá huỷ các khoáng nguyên sinh của đá mẹ một cách triệt để trong điều kiện nhiệt ẩm cao, phong hoá hoá học chiếm ưu thế.
Trong giai đoạn này các cation kiềm, kiềm thổ bị giải phóng rửa trôi theo chiều ngang và thẳng đứng. Đồng thời các secquioxyt (R2O3 của Fe, Al, Mn.) được tích luỹ ở tầng B của phẫu diện đất. + Giai đoạn tiếp theo hình thành các khoáng thứ sinh trong môi trường axit, trong đó khoáng caolinit chiếm ưu thế. Tầng B tích luỹ sét màu vàng đỏ được hình thành.
Tầng mùn A mỏng với hàm lượng mùn thấp, axit fulvic chiếm ưu thế. Do phong hoá hoá học triệt để nên các khoáng vật tàn dư nguyên sinh ít. Tỷ số SiO2/R2O3 trong keo sét < 2. Hàm lượng limon trong đất rất thấp, các đoàn lạp có độ bền tương đối cao.
Trong điều kiện có mạch nước ngầm nâng lên hạ xuống xuất hiện trong mùa mưa và mất trong mùa khô như ở các gò đồi thấp hoặc chân núi thì các secquioxyt (R2O3) được tích luỹ tuyệt đối. Các secquioxyt không chỉ hình thành tại chỗ mà còn được đưa tới từ các sườn cao hơn vào trong nước ngầm. Nhiều kết von rời rạc được liên kết với nhau tạo thành sản phẩm đá ong (laterit). Quá trình laterit hoá diễn ra liên Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 7 tục trong nhiều năm có thể tạo thành đá ong ngăn cách quá trình trao đổi vật chất và năng lượng giữa đá mẹ và tầng đất mặt.
Theo thời gian tầng đất mặt bị rửa trôi bạc màu nghèo dinh dưỡng, nghèo cả secquioxyt. Tầng đất mặt “bạc màu” rất dễ dàng bị nước xói mòn trong mùa mưa làm trơ lộ lớp đá ong kết von đã hình thành trước đó. Tầng đá ong lộ trên bề mặt sẽ bị khô cứng lại như gạch đá và tạo ra một vùng “đất chết”. Hiện tượng này phổ biến ở vùng thềm đồi, gò chuyển tiếp, nơi tiếp giáp với đồng bằng hoặc ở các bề mặt san bằng trước núi.
Quá trình feralit tạo ra các đất vàng đỏ, đỏ vàng (Ferralsols), hoặc đất xám feralit (Feralic Acrisols). Quá trình laterit hoá tạo ra các đất: Đất xám có tầng loang lổ mạnh (Plinthic Acrisols hay Leptosols). - Quá trình xói mòn, rửa trôi do nước Xói mòn đất là một quá trình phá huỷ lớp phủ thổ nhưỡng (bao gồm cả phá huỷ thành phần cơ, lý, hoá, chất dinh dưỡng.của đất) dưới tác động của các nhân tố tự nhiên và nhân sinh, làm giảm độ phì nhiêu đất, gây ra bạc màu, thoái hoá đất, laterit hoá, trơ sỏi đá., ảnh hưởng trực tiếp đến sự sống và phát triển của thảm thực vật rừng, thảm cây trồng khác [22]. Xói mòn được thể hiện 2 dạng: bào mòn theo lớp và xói mòn khe rãnh.
Dạng đầu phổ biến ở các đỉnh ít dốc và dạng thứ 2 xuất hiện ở các sườn xói mòn và xói mòn ở vùng núi đạt tới hàng trăm tấn/ha/năm. Khu vực đồi núi ở Việt Nam, thường có độ dốc > 250 hoặc từ 150-250, điều kiện địa hình đồi núi, chia cắt mạnh, mạng lưới sông suối phát triển dày đặc, tiết diện dọc dốc, chế độ mưa mùa lại tập trung (lượng mưa trong mùa mưa chiếm 80 - 90% lượng mưa cả năm) do đó xói mòn có điều kiện hoạt động mạnh [22]. Quá trình xói mòn đất không chỉ rửa trôi các cation, các hợp phần vi lượng chất dễ tiêu, mùn ra khỏi tầng đất làm giảm chất dinh dưỡng độ phì nhiêu mà xói mòn còn làm giảm đi độ dày của tầng canh tác một cách rõ rệt. Không gian sinh trưởng của bộ rễ bị thu hẹp, độ ẩm đất giảm… Dẫn đến suy giảm tốc độ sinh trưởng của cây trồng.
Chiều dài của sườn và lượng mưa hình thành dòng chảy mặt là những yếu tố ảnh hưởng mạnh tới xói mòn, rửa trôi do nước của đất đai vùng đồi núi. Vì tại các khu vực địa hình chia cắt mạnh độ dài của sườn lớn, dòng chảy càng mạnh, năng lượng càng lớn và xói mòn đất sẽ tăng, qua nghiên cứu các tác giả cho rằng nếu tăng chiều dài của sườn dốc lên 2 lần thì tổn thất về đất sẽ tăng lên từ 2 - 7,5 lần và xói mòn trên các sườn lồi tăng 2-3 lần so với sườn thẳng, sườn lõm xói mòn yếu, sườn bậc thang xói mòn không đáng kể. Nhìn chung quá trình xói mòn đang xảy ra mạnh mẽ trên các loại đất xám feralit. Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 8 d.
Diện tích và phân bố Vùng đồi núi nước ta phân bố rộng khắp từ Bắc vào Nam đã tạo nên các điều kiện tự nhiên, hình thành nên các loại đất hết sức phong phú và da dạng. Theo bảng phân loại đất Việt Nam năm 1996 của Hội khoa học đất Việt Nam [14], vùng đồi núi Việt Nam có những nhóm đất chính: đất đá bọt, đất đen, đất nâu bán khô hạn, đất tích vôi, đất xám, đất đỏ, đất mùn alit núi cao và đất xói mòn mạnh trơ sỏi đá. Trong đó nhóm đất xám và nhóm đất đỏ có diện tích rất lớn.