Chương 1. TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG TRỢ GIÚP QUYẾT ĐỊNH 1. Hệ thống thông tin Hệ thống thông tin (Information System) là một hệ thống mà mục tiêu tồn tại của nó là cung cấp thông tin phục vụ cho hoạt động của con người trong một tổ chức nào đó. Hệ thống thông tin có một vai trò quan trọng cho việc ra quyết định quản lý hệ thống.
Trong thời đại ngày nay sự bùng nổ của công nghệ thông tin làm cho nhu cầu có được thông tin chính xác, đầy đủ kịp thời cho việc ra quyết định quản lý không thể thiếu được. Hỗ trợ quyết định quản lý thuộc phạm trù các công nghệ hỗ trợ quản lý. Do đó tầm quan trọng của việc hỗ trợ quản lý gắn liền với tầm quan trọng của hệ hỗ trợ quyết định. Một quyết định kịp thời, đúng đắn sẽ đẩy công tác quản lý nói chung tiến triển tốt.
Do đó việc nghiên cứu và tìm ra một phương pháp có tính chất tương đối phổ biến cho các dạng quyết định là công việc của hệ hỗ trợ quyết định mà ta sẽ đề cập tới trong đề tài này. Hệ trợ giúp ra quyết định 1. Khái niệm về quyết định Đó là một lựa chọn về “đường lối hành động” (Simon 1960; Costello & Zalkind 1963; Churchman 1968), hay “chiến lược hành động” (Fishburn 1964) dẫn đến một mục tiêu mong muốn (Churchman 1968). “Một quá trình lựa chọn có ý thức giữa hai hay nhiều phương án để chọn ra một phương án tạo ra được kết quả mong muốn trong các điều kiện ràng buộc đã biết”.
Hiểu rõ thêm về ra quyết định 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Việc đưa ra quyết định đối với một vấn đề xuất hiện trong khắp các lĩnh vực, hoạt động của đời sống mà đôi khi chúng ta không nhận ra. Từ những việc đơn giản như chọn một bộ quần áo để đi dự tiệc cho đến các công việc lớn lao như phân bố ngân sách vào các chương trình của quốc gia đều là các công việc đưa ra quyết định. Vậy đưa ra quyết định chính là chọn ra trong các giải pháp khả thi một giải pháp mà theo người đưa ra quyết định là phù hợp nhất. Quá trình ra quyết định 1.
Phân loại quyết định Có thể phân ra bốn loại quyết định như sau: Quyết định có cấu trúc (Structured Decision): Các quyết định mà người ra quyết định biết chắc chắn đúng. Ví dụ: Bài toán quyết định thưởng, phạt Nhân viên. Quyết định không có cấu trúc (NonStructured Decision): Các quyết định mà người ra quyết định biết là có nhiều câu trả lời gần đúng và không có cách nào để tìm ra câu trả lời chính xác nhất. Ví dụ: Bài toán quyết định chiến lược phát triển của Nhà trường.
Quyết định đệ quy (Recurring Decision): Các quyết định lặp đi lặp lại. Quyết định không đệ quy (Nonrecurring Decision): Các quyết định không xảy ra thường xuyên. Các giai đoạn của quá trình ra quyết định Theo Simon, quá trình ra quyết định và quan hệ giữa chúng được giới thiệu ở hình 1.1: Giai đoạn thứ nhất là nhận định (Intelligence): Tìm kiếm các tình huống dẫn đến việc phải ra quyết định, nhận dạng các vấn đề, nhu cầu, cơ hội, rủi ro. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Giai đoạn thứ hai là thiết kế (Design): Phân tích các hướng tiếp cận để giải quyết vấn đề, đáp ứng các nhu cầu, tận dụng các cơ hội, hạn chế các rủi ro.
Giai đoạn thứ ba là lựa chọn (Choice): Cân nhắc và đánh giá từng giải pháp và chọn giải pháp tối ưu. Cuối cùng là tiến hành ra quyết định (Implementation): Thực hiện giải pháp được chọn, theo dõi kết quả và điều chỉnh khi thấy cần thiết.1 - Các giai đoạn của quá trình ra quyết định 1. Tìm kiếm và đánh giá các lựa chọn một phần rất quan trọng trong hỗ trợ ra quyết định. Giai đoạn lựa chọn (Choice Phase) là giai đoạn quan trọng nhất của quá trình ra quyết định.
Giai đoạn này bao gồm ba bước chính sau đây: Tìm kiếm lựa chọn Đánh giá lựa chọn Giới thiệu lựa chọn Trong trường hợp này người ra quyết định muốn sử dụng mô hình quy chuẩn (Normative model) để tìm kiếm một lựa chọn tối ưu, thì Hệ hỗ trợ có 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thể sử dụng phương pháp vét cạn (Blind search) để duyệt hết các lựa chọn hay mô hình toán học để phân tích. Đối với mô hình mô tả, ta có thể sử dụng phương pháp kinh nghiệm (Heuristic search) để duyệt các lựa chọn dựa trên các quy luật rút ra từ thử và sai hay kinh nghiệm. Phương pháp đánh giá các lựa chọn được quy định khác nhau trong bài toán một mục tiêu và bài toán đa mục tiêu. Bài toán một mục tiêu có thể được mô hình hóa bằng bảng ra quyết định hay cây quyết định.
Một trong các phương pháp hiệu quả để giải quyết đa mục tiêu là đo lường trọng số của các ưu tiên ra quyết định (Analytical Hierarechy press of Expert choice). Một phương pháp khác là tối ưu hóa dựa trên các mô hình toán học tuyến tính (Lingo…). Một phương pháp khác là lập trình kinh nghiệm sử dụng Heuristics như là tabu search, giải thuật di truyền. Hệ trợ giúp quyết định 1.
Khái niệm hệ hỗ trợ quyết định Hình 1.2 - Ưu điểm của Hệ hỗ trợ ra quyết định Trong thập niên 1970, Scott Norton đưa những khái niệm đầu tiên về hệ trợ giúp quyết định (Decision Support System, DSS). Ông định nghĩa “DSS là 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com các hệ dựa trên máy tính, có tính tương tác, giúp các nhà ra quyết định dùng dữ liệu và mô hình để giải các bài toán phi cấu trúc, những bài toán mờ, phức tạp với lời giải không hoàn chỉnh”. Cho đến nay chưa có một định nghĩa thống nhất về DSS. Tuy nhiên tất cả đều đồng ý mục đích cơ bản nhất của DSS là hỗ trợ và cải tiến việc ra quyết định.
Các thành phần của hệ hỗ trợ quyết định Một hệ hỗ trợ quyết định gồm có ba thành phần chính: Quản lý dữ liệu Quản lý mô hình Quản lý giao diện người dùng Hình 1.3 - Các thành phần của hệ hỗ trợ quyết định 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Quản lý dữ liệu (Data Management): Thực hiện công việc lưu trữ các thông tin của hệ và phục vụ cho việc lưu trữ, cập nhật, truy vấn thông tin. Quản lý mô hình (Model Management) hay còn gọi là hệ quản trị cơ sở mô hình (MBMS, model base management system): bao gồm các mô hình ra quyết định (DSS models) và việc quản lý các mô hình này. Một số ví dụ của các mô hình này bao gồm: mô hình nếu thì (What-If Models), mô hình tối ưu, mô hình tìm kiếm mục đích, mô hình thống kê. Quản lý giao diện người dùng (User Interface Management) quản lý việc giao tiếp giữa người dùng cuối và hệ ra quyết định.
Mô hình ra quyết định Một đặc trưng cơ bản của hệ hỗ trợ ra quyết định là phải có ít nhất một mô hình hỗ trợ ra quyết định. Việc chọn lựa và xây dựng mô hình nằm trong giai đoạn thứ 2 (Design Phase) của quá trình ra quyết định. Mô hình là một khái quát hóa hay trừu tượng hóa các vấn đề thực tế thành các mô hình định tính hay định lượng. Đó là một quy trình kết hợp cả khoa học (sự chính xác, logic) và nghệ thuật (sự sáng tạo).
Một mô hình gồm ba thành phần cơ bản: Decision Variables: Đây là các lựa chọn xác định bởi người ra quyết định. Chẳng hạn trong bài toán quyết định hỗ trợ cho cán bộ viên chức đi học tiễn sĩ, thạc sĩ, số tiền hỗ trợ, cán bộ viên chức nào được cử đi học… Uncontrollable Variables: Đây là các biến không nằm trong sự kiểm soát của người ra quyết định (bị tác động bởi các yếu tố bên ngoài). Chẳng hạn trong bài toán trên thì đây là tốc độ lạm phát, ngân sách cấp… Result Variables: Đây là biến kết quả của mô hình. Chẳng hạn trong bài toán trên đây là đưa nhà trường ngày càng phát triển.
15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Các biến không điều khiển UnControllable Variables Các biến quyết định Mối quan hệ Biến kết quả giữa các biến Decision Variables Result Variables Mathematical relationShips Hình 1.4 - Cấu trúc tổng quát của một mô hình Khi lựa chọn quyết định cuối cùng, người ra quyết định có thể muốn có một quyết định tối ưu hay một quyết định thỏa đáng, gần tối ưu. Do vậy có thể chia ra hai loại mô hình hỗ trợ ra quyết định. Mô hình quy chuẩn (Normative Model): Mô hình này xem xét tất cả các phương án và chọn ra phương án tối ưu. Mô hình mô tả (Desscriptive Model): Mô hình xem xét một tập hợp các điều kiện theo ý người dùng và xem xét các phương án theo các điều kiện này và đưa ra một kết quả thỏa đáng.
Vì mô hình này không xem xét hết tất cả các phương án nên kết quả cuối cùng chỉ gần tối ưu. Mô hình quy chuẩn thường được sử dụng trong bài toán tối ưu hóa một mục tiêu. Mô hình mô tả thường được sử dụng trong bài toán tối ưu hóa đa mục tiêu khi các mục tiêu này có thể mâu thuẫn nhau. Phân loại hệ hỗ trợ ra quyết định Hệ hỗ trợ ra quyết định được phân loại dựa trên nhiều tiêu chí.
Hiện nay, vẫn chưa có cách phân loại thống nhất. Sau đây là hai cách phổ biến nhất. 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com C¸c hÖ thèng kh¸c dùa trªn m¸y tÝnh C¬ së d÷ liÖu riªng Qu¶n trÞ d÷ liÖu Qu¶n trÞ m« h×nh C¬ së d÷ liÖu trong Qu¶n trÞ tri thøc C¬ së d÷ liÖu Qu¶n trÞ héi tho¹i ngoµi Ng-êi dïng H×nh 4. M« h×nh kh¸i niÖm trong DSS Hình 1.5 - Mô hình khái niệm của DSS Theo [4] có tất cả năm loại hệ hỗ trợ ra quyết định Hướng giao tiếp (Communication, Driven DSS) Hướng dữ liệu (Data, Driven DSS) Hướng tài liệu (Document, Driven DSS) Hướng Trí thức (Knowledge, Driven DSS) Hướng mô hình (Model, Driven DSS) Hướng giao tiếp, Hệ hỗ trợ ra quyết định sử dụng mạng và công nghệ viễn thông để liên lạc và cộng tác.
Công nghệ viễn thông bao gồm mạng cục bộ (LAN), mạng diện rộng (WAN), Internet, ISDN, mạng riêng ảo…. là then chốt trong việc hỗ trợ ra quyết định. Các ứng dụng của Hệ hỗ trợ ra quyết định hướng giao tiếp là Phần mềm nhóm (Group ware), hội thảo từ xa (Videoconferencing), bản tin (Bulletin Boards)… Hướng dữ liệu, Hệ hỗ trợ ra quyết định dựa trên truy xuất và xử lý dữ liệu.