Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hệ thống thông tin sinh viên trong các cơ sở giáo dục đại học. Chương 2: Thực trạng hoạt động quản lý hệ thống thông tin sinh viên của Khoa Quốc tế, Đại học Quốc gia Hà Nội. Chương 3: Một số biện pháp quản lý hệ thống thông tin sinh viên của Khoa Quốc tế, Đại học Quốc gia Hà Nội. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HỆ THỐNG THÔNG TIN SINH VIÊN TRONG CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC 1.
Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu trên thế giới Ngày nay, thông tin là nguồn lực quý giá trong quá trình phát triển, quản lý kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Ở các nước phát triển hàng đầu thế giới như Mỹ, Canada, Nhật Bản, ngành kinh tế thông tin chiếm hơn 50% giá trị tổng sanr phẩm xã hội. Hoạt động quản lý hệ thống thông tin trở thành chìa khoá giúp các cá nhân, tổ chức quản lý, vận hành có hiệu quả hơn.
Các vấn đề của hệ thống thông tin quản lý được nghiên cứu thông qua các giai đoạn phát triển, cụ thể là: vào đầu những năm 1970, nghiên cứu về các hệ thống quản lý tòa nhà đã được thực hiện. Vào giữa những năm 1970, hệ thống hỗ trợ quyết định, thực hiện và thay đổi cấu trúc tổ chức. Vào đầu những năm 1980, các công cụ năng suất, quản lý cơ sở dữ liệu, ảnh hưởng của công nghệ đến cấu trúc tổ chức, tính toán văn phòng. Những năm đầu của thập niên 90 thế kỷ XX, Chính phủ ở các nước phát triển đưa ra quan điểm tiếp cận mới đối với việc quản lý HTTT, đó là quan điểm tiếp cận tổng thể và tiếp cận hệ thống, cốt lõi của quan điểm này là ý tưởng xây dựng Chính phủ điện tử.
Các nghiên cứu ở nước ngoài đều khẳng định vai trò quan trọng của HTTT trong quản lý và tìm cách quản lý phát triển hệ thống thông tin đó ngày càng hiệu quả phục vụ đắc lực cho hoạt động quản lý. Trong hai thập kỷ qua, các nhà nghiên cứu đã tập trung hơn vào nghiên cứu các hoạt động, hiệu quả của việc ứng dụng CNTT và truyền thông trong các hoạt động quản lý. Các nhà nghiên cứu coi đây là một hướng đi mới cho chuyển giao công nghệ từ phòng thí nghiệm đến các tổ chức thực tế. Năm 1984, UNESCO - Châu Á Thái Bình Dương (UNESCO/PROAP) đã đưa ra một kế hoạch hành động mang tên "Tăng cường Kế hoạch và Quản trị.
Thông 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tin dựa trên giáo dục", thông qua đó hệ thống thông tin quản lý giáo dục khu vực được phát triển. Năm 2002, tổ chức này đã xuất bản "Hệ thống thông tin quản lý giáo dục (EMIS)", đây một tài liệu có giá trị cho nghiên cứu, xây dựng một hệ thống thông tin hoạt động hiệu quả. Các biện pháp được đề xuất tập trung vào việc tiêu chuẩn hóa CSDL cho quản lý giáo dục theo hướng phát triển hệ thống các chỉ số giáo dục phù hợp với thực tế, áp dụng công nghệ thông tin cho địa điểm. Hợp tác và tăng cường hợp tác trong việc chia sẻ thông tin giữa các tổ chức giáo dục.
Theo một số tài liệu nghiên cứu, trong giai đoạn hiện nay các nước đều khẳng định vai trò mũi nhọn, có tính đột phá của CNTT trong GD&ĐT nói chung và trong quản dạy và học nói riêng.Tác giả Christ Abbott cho rằng: “CNTT và truyền thông đang thay đổi bộ mặt của Giáo dục” [20, tr. Theo Saverius Kaka, Hiệu trưởng trường SMA Tarsissius thi các nhà quản lý giáo dục cần phải khôn ngoan trong việc thực hiện các chiến lược để ứng dụng CNTT vào trong giảng dạy và học tập. Ông cho rằng: “Ngày nay CNTT đã và đang phát triển rất nhanh chóng; vì thế toàn bộ hệ thống giáo dục cần được cải cách và CNTT nên được tích hợp vào các hoạt động giáo dục” [36, tr. Tác giả John Mcbeath and Kate Myer, thuộc bộ phận quản lý và chính sách đào tạo trường đại học Oregon Australia, khi nghiên cứu về thúc đẩy phát triển ứng dụng CNTT trong giáo dục, đã đưa ra nhận xét: “Lĩnh vực CNTT đang thay đổi nhanh chóng đến mức nó vượt quá khả năng cập nhật của đa số nhà lãnh đạo khiến họ ngần ngại” [27].
Điều đó có nghĩa là một trong những trở ngại lớn của việc ứng dụng CNTT là kiến thức về CNTT của các nhà quản lý giáo dục thường đi sau sự phát triển. Thêm vào đó John Mcbeath and Kate Myer cũng khẳng định: “Những tư tưởng chủ đạo cơ bản về việc sử dụng CNTT trong giáo dục tuy đã thay đổi nhưng thay đổi rất chậm” [ 22, tr. Trên thế giới, những nghiên cứu về hệ thống thông tin quản lý trước đây thường tập trung vào xây dựng lí thuyết hoặc phương pháp. Hiện nay các nhà quản lý, các nhà hoạch định chính sách, chiến lược quan tâm nhiều đến các 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com yếu tố kỹ thuật, kỹ năng và văn hoá trong một tổ chức.
Các vấn đề về hệ thống thông tin quản lý được nghiên cứu qua các giai đoạn phát triển. Sơ lược quá trình phát triển và cải cách giáo dục của một số nước ở khu vực châu Á, có thể dễ dàng nhận thấy vấn đề phát triển hệ thống thông tin quản lý nói chung và hệ thống thông tin quản lý giáo dục nói riêng đã được hết sức chú trọng. Những cải cách giáo dục trong thời kỳ hiện đại hóa ở Trung Quốc có thể kể đến là thiết lập một hệ thống thông tin để phát triển giáo dục và nguồn nhân lực quốc gia [21]. Tại Hàn Quốc: hệ thống thông tin giáo dục quốc gia (NEIS – National Educational Information System) được xây dựng để hỗ trợ các điện tử hóa các nhiệm vụ quản lý như quản lý học sinh, sinh viên, giáo viên và tài chính ở các cơ sở giáo dục.
Hệ thống này sử dụng tích cực công cụ Internet và công nghệ thông tin, viễn thông để tăng tính hiệu quả và minh bạch của hệ thống quản lý giáo dục. NEIS được xây dựng dựa trên chính sách nhà nước về một chính phủ điện tử hóa. Tại Singapore, khi xem xét các giai đoạn cải cách giáo dục ở đất nước này, cho thấy rằng chính phủ Singapore đã nhấn mạnh việc quản lý nhà trường, trong đó có quản lý hệ thống thông tin nhà trường là môt trong những yếu tố then chốt thúc đẩy hiệu quả của nhà trường tại tất cả các bậc học. Tại Malaysia, từ 1999, Malaysia đã xây dựng tầm nhìn phát triển Trường học Tương lai, ý tưởng này, còn gọi là Trường học thông minh, chứa đựng những sáng kiến về CNTT và truyền thông.
Mục đích của những sáng kiến này là đưa 10.000 trường trên toàn quốc trở thành trường "thông minh" vào năm 2010. Trong năm 2006, Bộ Giáo dục Malaysia đã tiến hành nghiên cứu đánh giá tác động về "Giải pháp tích hợp trường thông minh" (SSIS). Nghiên cứu đưa ra kết luận rằng việc sử dụng CNTT và truyền thông trong nhà trường không còn là một xu hướng nên theo mà là sự cấp thiết. Để làm được điều này, đòi hỏi: Sử dụng CNTT và truyền thông trong dạy học và tích hợp CNTT vào các phương pháp dạy và học, bao gồm các công cụ đánh giá bằng CNTT, quản lý sự thay đổi và xây dựng cơ chế của hệ thống thông tin quản lý,… Tại Anh, trong hai thập kỷ vừa qua, đã có những báo cáo và yêu cầu phải cải 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cách giáo dục do những mối quan ngại về hiệu quả hoạt động của nhà trường ngày càng thấp.
Một vài báo cáo đã phê bình các trường vì các chuẩn thấp và ngày càng yếu kém. Nhiều người cũng xem kết quả hoạt động yếu kém của nền kinh tế so với các quốc gia khác, là một phần do những bất cập trong yếu tổ quản trị nhà trường. Cải cách được tiến hành trên diện rộng với việc xây dựng tài liệu cấp quốc gia, đào tạo nhân lực theo tầng bậc, sử dụng hệ thống quản trị thông tin nhà trường để đưa ra những kết quả và thanh tra trường học để đảm bảo rằng việc áp dụng những hoạt động đổi mới có hiệu quả hơn [35]. Trong hai thập kỷ trở lại đây, các công trình nghiên cứu tập trung nhiều vào hoạt động thông tin và hiệu quả của các hoạt động này trong tổ chức.
Các nhà nghiên cứu coi đây là một hướng công nghệ mới chuyển từ phòng thí nghiệm sang các tổ chức thực tiễn. Năm 2002 tài liệu “Hệ thống thông tin quản lý giáo dục (Education Management Information System - EMIS)”được xuất bản, đây được coi là một tài liệu giá trị nhằm định hướng cho các nghiên cứu, xây dựng một hệ thống thông tin hoạt động có hiệu quả. Các biện pháp được khuyến nghị tập trung vào việc chuẩn hoá các cơ sở dữ liệu cho công tác quản lý giáo dục theo hướng xây dựng một hệ thống chỉ số giáo dục phù hợp với thực tiễn, áp dụng CNTT vào những nơi có đủ điều kiện và tăng cường sự hợp tác trong chia sẻ thông tin giữa các tổ chức giáo dục.Tổng quan về vấn đề nghiên cứu ở Việt Nam Vấn đề quản lý hệ thống thông tin cũng đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm ở Việt Nam. Ở Việt Nam, việc ứng dụng CNTT trong công tác quản lý, đặc biệt trong QLGD muộn hơn so với nhiều nước trên thế giới.
Vào thập niên 90, sau nghiên cứu đánh giá tổng thể về GD&ĐT và nguồn nhân lực ngành GD&ĐT (VIE 89/022) nước ta đã nhận thức được tầm quan trọng của thông tin QLGD và đã có những bước tiến đáng khích lệ về mặt này. Đã có một số hội thảo đề cập đến vấn đề này trong toàn quốc như: Hội thảo về thông tin quản lý và điều hànhtrong giáo dục cho mọi người do Viện Khoa học Giáo dục tổ chức (1993); Hội thảo về HTTTQL giáo dục đại học do Viện Nghiên 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cứu Phát triển Giáo dục tổ chức (1995) và Hội thảo về xây dựng HTTT phổ cập giáo dục tiểu học do Vụ Tiểu học - Bộ tổ chức (1997). Về mặt lý luận, một số công trình nghiên cứu đã đề cập đến vấn đề này như chuyên đề về "Hệ thống thông tin QLGD và văn hoá" do trường Cán bộ quản lý giáo dục trung ương I (nay là Học viện Quản lý giáo dục) dùng trong giảng dạy cao học và các khoá bồi dưỡng tại trường.