Tổng quan nghiên cứu

Sự nghiệp đổi mới được Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng từ năm 1986 đã thúc đẩy toàn diện các lĩnh vực kinh tế, văn hóa và xã hội, tạo nền tảng vững chắc cho quá trình chuyển dịch sang nền kinh tế tri thức. Trong tiến trình đó, ngành Thông tin - Thư viện nói chung và Hệ thống Thư viện Công cộng (HTTVCC) nói riêng giữ vai trò trọng yếu trong việc lưu trữ, bảo tồn và phổ biến tri thức nhân loại tới mọi tầng lớp nhân dân. Mạng lưới thư viện công cộng Việt Nam phát triển sâu rộng với cơ cấu gồm 01 Thư viện Quốc gia, 63 thư viện cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, 608 thư viện cấp quận, huyện, thị xã, 1.503 thư viện cấp xã, phường, thị trấn và 9.087 tủ sách bản, làng, thôn.

Tuy nhiên, trước làn sóng toàn cầu hóa và sự phát triển vượt bậc của công nghệ thông tin vào những thập kỷ đầu thế kỷ XXI, hệ thống này phải đối mặt với nhiều thách thức lớn về cơ sở vật chất, khả năng liên thông dữ liệu và chất lượng nguồn nhân lực. Đề tài tập trung giải quyết vấn đề đánh giá toàn diện thực trạng tổ chức và vận hành của HTTVCC giai đoạn 1986 - 2010. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể là làm rõ cơ sở lý luận về đổi mới và hội nhập thư viện, phân tích các chỉ số tăng trưởng nguồn lực thông tin, khảo sát mức độ chuẩn hóa nghiệp vụ và tin học hóa, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện cơ chế quản lý nhà nước, tối ưu hóa các nguồn lực đầu tư và thúc đẩy văn hóa đọc trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng hệ thống lý thuyết đa ngành để xây dựng mô hình phân tích toàn diện:

  • Lý thuyết phát triển văn hóa và kinh tế tri thức của Chủ nghĩa Mác - Lênin: Đặt con người vào vị trí trung tâm của sự phát triển, coi văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội và là động lực thúc đẩy kinh tế - xã hội. Quan điểm này được cụ thể hóa qua Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII của Đảng về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, khẳng định vai trò của thư viện công cộng như một thiết chế giáo dục ngoài nhà trường phục vụ nhu cầu học tập suốt đời của nhân dân.
  • Lý thuyết hội nhập kinh tế và thể chế (Béla Balassa): Phân tích quá trình mở cửa, gắn kết thể chế và thúc đẩy chuẩn hóa các quy trình kỹ thuật nghiệp vụ thư viện theo chuẩn quốc tế nhằm tạo điều kiện chia sẻ nguồn lực thông tin đa phương tiện giữa các quốc gia.
  • Các khái niệm cốt lõi:
    • Đổi mới thư viện: Quá trình vận động tự thân, chủ động thích ứng và chuyển đổi phương thức hoạt động từ thủ công truyền thống sang tự động hóa, hiện đại hóa.
    • Hội nhập thông tin - thư viện: Quá trình tiếp thu các chuẩn mực nghiệp vụ quốc tế, mở rộng hợp tác trao đổi tài liệu và khai thác cơ sở dữ liệu dùng chung.
    • Hệ thống Thư viện Công cộng: Mạng lưới các thiết chế văn hóa do Nhà nước thành lập và đầu tư, tổ chức theo nguyên tắc hành chính - lãnh thổ từ trung ương đến cơ sở, phục vụ miễn phí hoặc phi lợi nhuận cho toàn thể cộng đồng dân cư.
    • Nguồn lực thông tin: Tập hợp toàn bộ vốn tài liệu truyền thống (sách, báo, tạp chí, luận án) và tài liệu điện tử (cơ sở dữ liệu thư mục, toàn văn, ấn phẩm đa phương tiện) được tổ chức khoa học để phục vụ người dùng tin.

Phương pháp nghiên cứu

  • Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: Nghiên cứu áp dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp khảo sát toàn diện. Cỡ mẫu bao gồm 01 Thư viện Quốc gia Việt Nam, 52 thư viện cấp tỉnh/thành phố có số liệu thống kê liên tục trong 5 năm (2006 - 2010) và hơn 600 thư viện cấp quận, huyện, thị xã đại diện cho 6 vùng địa lý kinh tế - xã hội: Đồng bằng sông Hồng, Miền núi phía Bắc, Bắc Trung Bộ, Duyên hải Nam Trung Bộ - Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long.
  • Nguồn dữ liệu: Nguồn dữ liệu thứ cấp được trích xuất từ các báo cáo thống kê định kỳ của Vụ Thư viện thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, báo cáo nghiệp vụ của Thư viện Quốc gia Việt Nam, các văn bản pháp quy (Pháp lệnh Thư viện năm 2000, Nghị định số 72/2002/NĐ-CP, Nghị định số 57/2002/NĐ-CP) và cơ sở dữ liệu hoạt động của 52 thư viện tỉnh. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phương pháp quan sát thực địa và phỏng vấn trực tiếp các nhà quản lý, chuyên gia đầu ngành.
  • Phương pháp phân tích và lý do lựa chọn: Tác giả kết hợp phương pháp phân tích - tổng hợp tài liệu với phương pháp thống kê mô tả và so sánh đối chiếu. Việc lựa chọn tổ hợp phương pháp này giúp xử lý khối lượng dữ liệu lịch sử kéo dài hơn 20 năm, vừa phản ánh được bức tranh khái quát đa tầng nấc của hệ thống thư viện, vừa làm nổi bật sự biến động của các chỉ số nghiệp vụ theo từng mốc thời gian.
  • Timeline nghiên cứu: Toàn bộ công tác thu thập, xử lý số liệu và tổng hợp kết quả nghiên cứu được triển khai thực hiện và hoàn thành trong giai đoạn 2009 - 2010.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

  1. Mạng lưới thư viện phát triển rộng khắp và nguồn lực tài liệu truyền thống tăng trưởng ổn định: Hệ thống đã kiện toàn cơ cấu tổ chức với 63 thư viện tỉnh, 608 thư viện huyện, 1.503 thư viện xã và 9.087 tủ sách bản làng. Vốn tài liệu truyền thống tại Thư viện Quốc gia Việt Nam đạt quy mô lớn với hơn 1.000.000 bản sách Việt văn, 67.600 bản sách Đông Dương, 90.000 bản sách ngoại văn, 5.265 bản sách Hán Nôm và 15.600 luận án tiến sĩ tính đến tháng 10 năm 2010. Tổng số bản sách tại 52 thư viện tỉnh được khảo sát tăng trưởng liên tục từ 5,6 triệu bản (năm 2006) lên 6,47 triệu bản (năm 2010).
  2. Đột phá trong công tác tin học hóa và xây dựng cơ sở dữ liệu số: Thư viện Quốc gia đã thiết lập 400.000 biểu ghi cơ sở dữ liệu (CSDL) thư mục, 58.000 biểu ghi bài trích báo - tạp chí, số hóa 9.000 trang luận án tiến sĩ và 2.000 trang bộ sưu tập số đặc biệt. Ở cấp địa phương, 92% thư viện tỉnh đã xây dựng thành công CSDL thư mục riêng. Tổng số biểu ghi tại 52 thư viện tỉnh đã tăng mạnh từ 2.223.956 biểu ghi (năm 2006) lên 3.499.155 biểu ghi (năm 2010), đạt tỷ lệ tăng trưởng trên 57%.
  3. Phân hóa sâu sắc về hạ tầng công nghệ và bất cập lớn tại tuyến huyện, xã: Trong khi các thư viện lớn như Thư viện Khoa học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh đã chủ động mua quyền truy cập CSDL quốc tế (PROQUEST, EBSCO) và tham gia Chương trình PERI Việt Nam do INASP tài trợ, thì các thư viện tuyến huyện gặp khó khăn nghiêm trọng. Thống kê chỉ ra khoảng 70% thư viện cấp huyện chưa phải là đơn vị độc lập (chỉ là bộ phận thuộc Trung tâm Văn hóa), và 80% thư viện huyện chỉ có đúng 01 cán bộ kiêm nhiệm. Cơ sở vật chất tuyến huyện chủ yếu là nhà cấp 4, lượng sách bổ sung hàng năm dao động hạn chế trong khoảng 150.000 đến 245.000 bản trên toàn hệ thống 52 tỉnh, hầu như chưa có tài liệu điện tử.
TĂNG TRƯỞNG NGUỒN LỰC THÔNG TIN TẠI 52 THƯ VIỆN CẤP TỈNH (2006 - 2010)
-----------------------------------------------------------------------
Năm     Tổng số bản sách (Triệu bản)     Tổng số biểu ghi CSDL (Triệu)
2006               5.60                              2.22
2007               5.85                              2.31
2008               6.05                              2.85
2009               6.25                              3.03
2010               6.47                              3.50
-----------------------------------------------------------------------
Tốc độ tăng:       +15.5%                            +57.4%

Thảo luận kết quả

Khi xem xét dữ liệu qua bảng thống kê tổng số bản sách và biểu đồ tăng trưởng biểu ghi CSDL của 52 thư viện tỉnh, có thể nhận thấy rõ nét sự phân hóa giữa tốc độ tích lũy tài liệu in truyền thống và tài liệu điện tử. Tốc độ tăng trưởng biểu ghi CSDL (tăng 57,4%) vượt trội so với tốc độ tăng trưởng bản sách in (tăng 15,5%) khẳng định nỗ lực hiện đại hóa quy trình biên mục và tra cứu theo chuẩn quốc tế. Việc phân bổ tài liệu đa phương tiện giữa các vùng cũng phản ánh sự chênh lệch kinh tế - xã hội rõ rệt: khu vực Đông Nam Bộ bổ sung 4.073 băng đĩa, khu vực Trung Trung Bộ và Tây Nguyên bổ sung 3.432 đĩa CD-ROM, trong khi khu vực Bắc Trung Bộ chỉ bổ sung được 757 đĩa.

Nguyên nhân chính của thực trạng trên bắt nguồn từ việc thực thi cơ chế tài chính theo Thông tư liên tịch số 97/1990/TTLT-BVHTT-BTC và Thông tư liên tịch số 02/2004/TTLT-BVHTT-BTC tại một số địa phương chưa thực sự đồng bộ. Ngân sách cấp cho hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin còn mang tính dàn trải, chưa có danh mục đầu tư trọng điểm cho tuyến cơ sở. So sánh với các công trình nghiên cứu trước đây của các chuyên gia trong ngành, kết quả nghiên cứu tái khẳng định rằng Pháp lệnh Thư viện năm 2000 đã tạo ra hành lang pháp lý vững chắc thúc đẩy toàn ngành phát triển. Tuy nhiên, nếu không giải quyết triệt để rào cản về cơ cấu tổ chức bộ máy và định biên nhân sự tại 608 thư viện cấp huyện, hệ thống thư viện công cộng sẽ khó tạo nên một chuỗi liên thông dữ liệu hoàn chỉnh để phục vụ bạn đọc một cách công bằng.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Kiện toàn mô hình tổ chức và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực: Tách các bộ phận thư viện cấp huyện ra khỏi Trung tâm Văn hóa để thành lập đơn vị sự nghiệp độc lập, bảo đảm định biên tối thiểu 02 đến 03 cán bộ chuyên trách/thư viện. Tổ chức các khóa đào tạo lại định kỳ về chuẩn biên mục MARC21, khung phân loại DDC và kỹ năng khai thác thông tin số cho 100% cán bộ thư viện cấp huyện trong giai đoạn 2011 - 2015. Chủ thể thực hiện: Bộ Nội vụ, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp cùng Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố.
  2. Tăng cường đầu tư ngân sách hiện đại hóa hạ tầng công nghệ thông tin: Đảm bảo bố trí kinh phí theo Thông tư liên tịch số 02/2004/TTLT-BVHTT-BTC, tập trung đầu tư trang bị hệ thống máy chủ, mạng LAN và phần mềm quản trị thư viện tích hợp cho 100% thư viện cấp tỉnh và tối thiểu 50% thư viện cấp huyện đạt chuẩn tự động hóa đến năm 2015. Chủ thể thực hiện: Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch các địa phương.
  3. Phát triển nguồn lực thông tin số và đẩy mạnh chia sẻ liên thông: Xây dựng cổng thông tin thư mục dùng chung kết nối từ Thư viện Quốc gia đến 63 thư viện tỉnh; mở rộng quy mô tham gia Chương trình PERI Việt Nam để tiếp cận các CSDL quốc tế. Mỗi thư viện cấp tỉnh cần đặt mục tiêu số hóa 10% đến 15% khối lượng tài liệu địa chí quý hiếm mỗi năm. Chủ thể thực hiện: Thư viện Quốc gia Việt Nam chủ trì, phối hợp với các thư viện cấp tỉnh.
  4. Đẩy mạnh công tác xã hội hóa và nâng cao năng lực người dùng tin: Triển khai cơ chế thu phí dịch vụ hợp lý theo Nghị định số 57/2002/NĐ-CP để tái đầu tư cơ sở vật chất. Vận động các nguồn tài trợ xã hội nhằm nhân rộng 9.087 tủ sách cơ sở, đồng thời tổ chức định kỳ 2 đến 4 khóa đào tạo kỹ năng tra cứu trực tuyến miễn phí mỗi năm cho bạn đọc tại mỗi đơn vị thư viện. Chủ thể thực hiện: Ủy ban nhân dân các cấp, các tổ chức đoàn thể xã hội và hệ thống thư viện công cộng.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cán bộ quản lý và hoạch định chính sách ngành văn hóa: Sử dụng làm tài liệu tham chiếu tin cậy để đánh giá hiệu quả thi hành Pháp lệnh Thư viện năm 2000, từ đó xây dựng các đề án quy hoạch tổng thể mạng lưới thư viện và ban hành các chính sách đầu tư ngân sách phù hợp cho từng tuyến hành chính.
  • Lãnh đạo và chuyên viên nghiệp vụ tại các thư viện công cộng: Vận dụng các bài học kinh nghiệm về chuyển đổi cơ sở dữ liệu thư mục, tổ chức kho tài liệu truyền thống song song với phát triển bộ sưu tập số và quản trị hệ thống phần mềm thư viện tích hợp.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên ngành Khoa học Thư viện - Thông tin: Khai thác dữ liệu thứ cấp chi tiết về thực trạng hoạt động giai đoạn 1986 - 2010, đồng thời ứng dụng khung lý thuyết và phương pháp phân tích thực chứng để phục vụ công tác giảng dạy và nghiên cứu chuyên sâu.
  • Các tổ chức phát triển cộng đồng và nhà nghiên cứu văn hóa - xã hội: Tham khảo các số liệu và mô hình tổ chức thư viện cơ sở để xây dựng các chương trình phát triển văn hóa đọc, nâng cao dân trí và phổ biến tri thức khoa học kỹ thuật tại các vùng nông thôn, miền núi.

Câu hỏi thường gặp

  • Pháp lệnh Thư viện năm 2000 có tác động cụ thể nào đến hoạt động của hệ thống thư viện công cộng?
    Pháp lệnh Thư viện năm 2000 cùng Nghị định số 72/2002/NĐ-CP là văn bản pháp lý cao nhất xác lập cơ chế đầu tư ngân sách nhà nước, quy định thẩm quyền quản lý của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cùng Ủy ban nhân dân các cấp, đồng thời tạo hành lang cho các thư viện thực hiện quyền tự chủ thu phí dịch vụ theo Nghị định số 57/2002/NĐ-CP.
  • Quy mô nguồn tài liệu tại Thư viện Quốc gia Việt Nam phát triển ra sao trong giai đoạn đổi mới?
    Đến tháng 10 năm 2010, Thư viện Quốc gia đã lưu trữ hơn 1.000.000 bản sách tiếng Việt, 67.600 bản sách Đông Dương, 15.600 đề tài luận án tiến sĩ và 8.677 tên báo - tạp chí. Đơn vị đã xây dựng 400.000 biểu ghi CSDL thư mục và số hóa 9.000 trang luận án toàn văn phục vụ tra cứu.
  • Nguyên nhân nào dẫn đến tình trạng yếu kém tại hệ thống thư viện cấp huyện?
    Thực trạng yếu kém bắt nguồn từ việc 70% thư viện huyện chưa có tư cách độc lập, 80% chỉ có 1 cán bộ kiêm nhiệm. Cơ sở vật chất phần lớn là nhà cấp 4 thiếu thiết bị chuyên dùng, trong khi kinh phí bổ sung sách báo hàng năm rất thấp, khiến nguồn tài liệu nghèo nàn và thiếu hụt tài liệu số.
  • Tốc độ tin học hóa tại 52 thư viện cấp tỉnh giai đoạn 2006 - 2010 đạt kết quả như thế nào?
    Công tác tin học hóa ghi nhận bước tiến lớn khi 92% thư viện tỉnh xây dựng được CSDL thư mục. Tổng số biểu ghi điện tử tại 52 tỉnh thành tăng liên tục từ 2.223.956 biểu ghi (năm 2006) lên 3.499.155 biểu ghi (năm 2010), tiêu biểu như Thư viện Hà Nội xây dựng 13 CSDL và Thư viện Ninh Thuận có 11 CSDL.
  • Mô hình phối hợp khai thác cơ sở dữ liệu quốc tế được triển khai như thế nào?
    Thư viện Quốc gia Việt Nam và Thư viện Khoa học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh đã tiên phong tham gia Chương trình PERI Việt Nam do tổ chức quốc tế INASP tài trợ. Nhờ đó, người dùng tin có thể truy cập chi phí thấp vào các CSDL toàn văn học thuật danh tiếng như EBSCO, PROQUEST, Emerald và Wilson OmniFile.

Kết luận

  • Hệ thống Thư viện Công cộng Việt Nam đã xây dựng được mạng lưới quy mô gồm 01 Thư viện Quốc gia, 63 thư viện tỉnh, 608 thư viện huyện, 1.503 thư viện xã và 9.087 tủ sách cơ sở, đóng vai trò trụ cột lưu giữ và truyền bá tri thức trong 24 năm đổi mới (1986 - 2010).
  • Nguồn lực thông tin được nâng cấp toàn diện cả về tài liệu in truyền thống (hơn 1.000.000 bản sách Việt văn tại Thư viện Quốc gia, 6,47 triệu bản sách tại 52 thư viện tỉnh) và tài liệu điện tử (tăng trưởng 57,4% biểu ghi CSDL thư mục).
  • Nghiên cứu đã làm rõ các điểm nghẽn nghiêm trọng về hạ tầng công nghệ và biên chế tại tuyến huyện, nơi có 80% đơn vị chỉ có 01 cán bộ phụ trách và thiếu vắng hoàn toàn nguồn tài liệu số hóa.
  • Luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp có tính khả thi cao: kiện toàn tổ chức bộ máy, tăng cường ngân sách công nghệ thông tin, liên thông chia sẻ CSDL dùng chung và đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động thư viện.
  • Các nhà quản lý và cơ quan nghiên cứu cần tiếp tục phối hợp triển khai các giải pháp chuyển đổi số đồng bộ, tạo tiền đề vững chắc cho việc xây dựng Luật Thư viện và đáp ứng toàn diện yêu cầu của nền kinh tế tri thức trong giai đoạn tiếp theo.