mở đầu tiên ở Việt Nam được ra đời từ Quyết định số 108/2003/QĐ-TTg ngày 5/6/2003 của Thủ tướng Chính phủ.Kể từ đó, các khu kinh tế mở, mà hiện nay thường được gọi là các KKT ven biển, liên tục ra đời.Cho đến nay, Chính phủ đã quy hoạch tổng cộng 18 KKT ven biển. Bên cạnh đó, 4 KKT khác cũng đang chờ để được đưa vào quy hoạch, bao gồm KKT Móng Cái - Hải Hà (Quảng Ninh), Kim Sơn (Ninh Bình), Trần Đề (Sóc Trăng), và Gành Hào (Bạc Liêu) Bảng 1: Danh sách các khu kinh tế ven biển ở Việt Nam Địa phươngthành Thời điểm Diện tích TT Khu kinh tế lập thành lập (ha) 1 Chu Lai Quảng Nam 5/06/2003 27.040 2 Dung Quất Quảng Ngãi 21/03/2005 10.300 3 Nhơn Hội Bình Định 14/06/2005 12.000 4 Chân Mây–Lăng Cô Thừa Thiên Huế 05/01/2006 27.108 5 Phú Quốc–Nam An Thới Kiên Giang 14/02/2006 56.100 6 Vũng Án Hà Tĩnh 03/04/2006 22.718 7 Vân Phong Khánh Hòa 25/04/2006 150.000 3 z Địa phươngthành Thời điểm Diện tích TT Khu kinh tế lập thành lập (ha) 8 Nghi Sơn Thanh Hóa 15/05/2006 18.612 9 Vân Đồn Quảng Ninh 31/05/2006 217.133 10 Đông Nam Nghệ An Nghệ An 11/06/2007 18.826 11 Đình Vũ – Cát Hải Hải Phòng 10/01/2008 21.600 12 Nam Phú Yên Phú Yên 29/04/2008 20.730 13 Hòn La Quảng Bình 10/06/2008 10.000 14 Định An Trà Vinh 27/04/2009 39.460 16 Đông Nam Quảng Trị Quảng Trị 27/02/2010 30.583 17 Ven Biển Thái Bình Thái Bình 09/02/2011 30.583 18 Ninh Cơ Nam Định 25/02/2011 13.243 (Nguồn: Báo cáo đánh giá mô hình khu kinh tế ven biển ở Việt Nam, thực tiễn ở Việt Nam và kinh nghiệm quốc tế) Các KKT ven biển này sẽ là những hạt nhân góp phần hình thành các KKT năng động, thúc đầy sự phát triển chung, nhất là đối với các vùng nghèo ở các vùng ven biển Việt Nam. Đồng thời tạo tiền đề thu hút mạnh mẽ các nguồn vốn đầu tư, đặc biệt là vốn đầu tư nước ngoài để phát triển kinh tế biển. Như vậy sứ mệnh của các KKT ven biển này chủ yếu là cùng với các thành phố lớn ven biển hiện có tạo thành những trung tâm kinh tế biển mạnh, vươn ra biển xa.
4 z Hình 1: Các khu kinh tế được lựa chọn đưa vào quy hoạch phát triển đến năm 2020 Giống như nhiều KKT trên thế giới, ngay từ đầu và cho đến hiện nay, mục tiêu quan trọng nhất của việc xây dựng các KKT ở Việt Nam là để thử nghiệm các mô hình, thể chế, và chính sách mới nhằm tạo ra các động lực phát triển có tính đột phá, nhờ đó đem lại sức sống mới, nâng cao năng lực cạnh tranh, và đẩy mạnh xuất khẩu cho toàn nền kinh tế. Trong khoảng 6 năm trở lại đây, trong tiến trình vận động chung của nền kinh tế cũng như của tư duy quản lý kinh tế, quan điểm phát triển KKT được bổ sung thêm một số nội hàm mới, trong đó quan trọng nhất là về chuyển đổi cơ cấu kinh tế, liên kết vùng, phát triển bền vững, và phát huy kinh tế biển. Theo Quyết định 1353/QĐ-TTg ngày 23/9/2008 phê duyệt đề án “Quy hoạch phát triển các Khu kinh tế ven biển của Việt Nam đến năm 2020” việc phát triển các KKT ven biển 5 z phải gắn liền với chuyển dịch cơ cấu kinh tế không chỉ của địa phương mà còn là của vùng và cả nước. Bên cạnh đó, sự phát triển của các KKT ven biển đều phải gắn kết chặt chẽ với chiến lược phát triển vùng và chú trọng tới yêu cầu bảo vệ môi trường.
Thậm chí trong một số trường hợp việc phát triển KKT còn đi ngược lại các quan điểm chỉ đạo của Chính phủ, đặc biệt là về liên kết vùng, bảo vệ môi trường, và bền vững về tài chính. Các biện pháp ưu đãi đầu tư ở các khu kinh tế a) Nhà đầu tư có dự án đầu tư vào KKT, kể cả dự án đầu tư mở rộng, được hưởng chính sách ưu đãi áp dụng đối với địa bàn thuộc danh mục địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và các chính sách ưu đãi khác theo quy định. b) Các dự án đầu tư sau đây được hưởng ưu đãi cao nhất theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp: - Dự án đầu tư vào ngành nghề, lĩnh vực thuộc Danh mục lĩnh vực đặc biệt ưu đãi đầu tư và thực hiện tại KKT hoặc tại khu công nghiệp được thành lập tại địa bàn thuộc Danh mục địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. - Dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh hạ tầng khu phi thuế quan trong KKT.
- Dự án đầu tư thuộc lĩnh vực công nghệ cao tại KCN, KKT. - Dự án đầu tư có quy mô lớn và có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển ngành, lĩnh vực hoặc phát triển kinh tế - xã hội của khu vực tại KCN, KKT sau khi được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận. c) Giảm 50% thuế thu nhập đối với người có thu nhập thuộc diện chịu thuế thu nhập, kể cả người Việt Nam và người nước ngoài làm việc tại KKT. d) Chi phí đầu tư xây dựng, vận hành hoặc thuê nhà chung cư và các công trình kết cấu hạ tầng xã hội phục vụ cho công nhân làm việc tại KCN, KKT là chi phí hợp lý được khấu trừ để tính thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp có dự án đầu tư trong KCN, KKT.
Việc đưa ra nhiều ưu đãi hấp dẫn để thu hút các nhà đầu tư cơ sở hạ tầng cũng như các nhà đầu tư sản xuất và kinh doanh dịch vụ là điều cần thiết và là thông 6 z lệ phổ biến trên thế giới. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng rất nhiều nghiên cứu ở nhiều nước khác nhau đã chỉ ra rằng nếu không có những yếu tố căn bản (Ví dụ: chất lượng của nguồn nhân lực, cơ sở hạ tầng cứng và cơ sở hạ tầng mềm), thì bản thân các ưu đãi đầu tư không có tác dụng. Những lợi ích và chi phí của khu kinh tế ven biển Những lợi ích kinh tế từ việc phát triển KKT bao gồm những lợi ích tĩnh và lợi ích động. Những lợi ích tĩnh a) Trực tiếp tạo việc làm và thu nhập cho người lao động Kinh nghiệm cho thấy các tác động tạo ra việc làm trực tiếp của khu kinh tế khá hạn chế.
Tỷ trọng lao động trong các KKT ở các quốc gia rất khác nhau, có thể chỉ ở mức 4,6% như ở Honduras; 6,2% ở Cộng hòa Dominican; 8% ở Tunisia; 10% ở Fiji; 12 % ở Seychelles; 24% ở Mauritius và 25% ở Các tiểu Vương quốc Ả Rập Thống nhất. Cũng cần lưu ý rằng tác động tạo việc làm gián tiếp của khu kinh tế có thể rất đáng kể. Chẳng hạn như tỷ lệ giữa lao động gián tiếp và lao động trực tiếp có thể từ 0,25 ở Mauritius tới 0,7 ở Madagascar và thậm chí 2. - Số lượng laođộng mới tạo ra được.
- Tỷ trọng trong tổng lượng lao động quốc gia. - Thu nhập so với mức trung bình của các doanh nghiệp ngoài KKT. b) Tăng trưởng và đa dạng hóa xuất khẩu - Tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp trong KKT. - Tỷ trọng trong tổng kim ngạch xuất khẩu (đặc biệt là CN chế biến) của quốc gia.
- Tỷ trọng xuất khẩu hàng cơ bản, hàng tài nguyên, công nghệ thấp, trung bình, và cao. c) Tăng nguồn thu ngoại hối - Xuất khẩu thuần (xuất khẩu – nhập khẩu). - Giá trị hợp đồng với các nhà cung ứng hay thầu phụ nội địa. d) Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài 7 z - Tỷ trọng trong tổng FDI của quốc gia.
- Sự tích hợp của doanh nghiệp FDI với nền kinh tế nội địa (qua liên kết xuôi và ngược). Rõ ràng là những lợi ích này càng trở nên quan trọng ở những nước đang phát triển nghèo với sức ép tăng dân số và việc làm, trong khi ngân sách hạn chế và thiếu nguồn đầu tư. Những lợi ích động Các lợi ích động, tuy khó đo lường nhưng có thể còn quan trọng hơn các lợi ích tĩnh, nhất là trong dài hạn. a) Tạo việc làm gián tiếp - Tỷ lệ giữa số việc làm gián tiếp và trực tiếp.
b) Nâng cấp nền công nghiệp - Sự đa dạng hóa mặt hàng xuất khẩu. - Tỷ trọng xuất khẩu hàng công nghệ cao. - Số lượng bằng phát minh sáng chế của các doanh nghiệp trong KKT. c) Chuyển giao công nghệ - Mức độ áp dụng các công nghệ tiên tiến của các doanh nghiệp trong KKT.
d) Nâng cấp kỹ năng quản lý và lao động - Tỷ trọng lao động trình độ cao và có kỹ năng. - Tỷ trọng lao động phổ thông. e) Là nơi thử nghiệm các mô hình, thể chế chính sách mới. f) Liên kết và phát triển vùng Việc phát triển các KKT cũng đòi hỏi một loạt các chi phí tài chính và kinh tế, bao gồm: - Lương nhân viên nhà nước và các chi phí hoạt động khác.
- Kinh phí đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng. - Các khoản miễn, giảm thuế. 8 z Nhưng cần lưu ý rằng chi phí của việc phát triển KKT không chỉ bao gồm những chi phí trực tiếp liệt kê ở trên, mà còn bao gồm những chi phí gián tiếp như trợ cấp của chính phủ (trong tiền thuê đất, tín dụng ưu đãi, hay năng lượng…), thất thoát thuế và cạnh tranh không bình đẳng khi hàng hóa từ bên trong khu phi thuế quan bị tuồn ra ngoài, giảm nguồn thu thuế do sự di chuyển của các công ty từ bên ngoài vào bên trong KKT để hưởng ưu đãi thuế lớn hơn, các tác động tiêu cực về xã hội từ thu hồi đất và chuyển đổi cuộc sống của người dân bị ảnh hưởng, sự suy giảm chất lượng môi trường (do chính sách thu hút FDI bằng mọi giá), sự chen lấn nguồn lực đối với khu vực kinh tế nội địa (do quá ưu tiên đầu tư vào các KKT cũng như ưu đãi cho các doanh nghiệp trong KKT). Lưu ý rằng đây là những chi phí của đất nước nhưng lại không thể thu hồi từ việc cung ứng dịch vụ cho các doanh nghiệp bên trong KKT, vì vậy đã đặt thêm gánh nặng đối với ngân sách nhà nước cũng như nguồn lực quốc gia.
Một vấn đề quan trọng liên quan đến việc phát triển các KKT là tác động đến ngân sách. Nếu thành công thì các KKT sẽ góp phần cải thiện nguồn thu cho chính phủ, nhưng nếu thất bại thì chúng sẽ trở thành một gánh nặng rất lớn cho ngân sách. Như vậy, các KKT có thể là nguồn nuôi dưỡng nhưng cũng có thể là gánh nặng đối với nền kinh tế.