MỞ ĐẦU 1. Tên đề tài Tên đề tài “Hệ thống Just – In – Time ” 1. Lý do chọn đề tài Ngày nay, nhiều công ty lớn đã áp dụng việc tự động hoá trong quá trình sản xuất của họ như là Toyota, Apple, samsung,… để mà tối ứu hoá các nguyên liệu trong quá trình sản xuất thì các ông lớn ấy đã áp dụng nhiều hệ thống quản lý sản xuất khác nhau nhưng nổi bật ở đây là hệ thống JIT mà các công ty đã và đang áp dụng ngày nay. Và những lý do chính mà nhóm đã tổng hợp để chọn đề tài này: • Tối ưu hóa quá trình sản xuất: JIT là một phương pháp quản lý sản xuất và điều hành quá trình sản xuất nhằm giảm thiểu lãng phí và tăng cường hiệu suất.
Nghiên cứu về JIT có thể giúp bạn hiểu rõ hơn về cách tối ưu hóa hoạt động sản xuất và cải thiện quy trình làm việc. • Giảm thiểu lượng tồn kho: Với JIT, mục tiêu là duy trì lượng tồn kho cần thiết để đáp ứng nhu cầu sản xuất và giao hàng, nhưng đồng thời tránh việc tích trữ hàng tồn đọng. Nghiên cứu về JIT có thể giúp bạn hiểu cách giảm thiểu lượng tồn kho không cần thiết và tối ưu hóa chuỗi cung ứng. • Tăng cường linh hoạt và đáp ứng nhanh: JIT quan tâm đến việc cung cấp hàng hóa và dịch vụ đúng lúc khi khách hàng yêu cầu.
Nghiên cứu về JIT có thể giúp bạn hiểu cách tạo ra một hệ thống linh hoạt và đáp ứng nhanh, từ việc định lượng đơn đặt hàng đến quản lý các yếu tố ảnh hưởng đến thời gian chu kỳ sản xuất. • Tăng cường chất lượng: JIT không chỉ giúp giảm thiểu lãng phí và tăng cường hiệu suất, mà còn đặt mục tiêu tăng cường chất lượng sản phẩm và dịch vụ. Nghiên cứu về JIT có thể giúp bạn hiểu cách tích hợp quản lý chất lượng vào quy trình sản xuất và đạt được chất lượng cao hơn. • Áp dụng rộng rãi: JIT không chỉ được áp dụng trong ngành sản xuất, mà còn có thể được áp dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau như dịch vụ, bán lẻ, y tế và hậu cần.
Nghiên cứu về JIT có thể mang lại những kiến thức phổ quát và được áp dụng trong nhiều ngành công nghiệp. 1 Tóm lại, nghiên cứu về JIT có ý nghĩa quan trọng để tối ưu hóa quá trình sản xuất, giảm thiểu lãng phí, tăng cường linh hoạt và chất lượng, cũng như áp dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực. Mục tiêu nghiên cứu Nghiên cứu về lý thuyết, cách mà các doanh nghiệp lớp áp dụng cho công ty của mình. Mục đích Nhằm hiểu rõ hơn về hệ thống Just – in – time đang được áp dụng ở các công ty lớn như là Toyota, Apple,….
Và làm tư liệu cho những khoá sau. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của nhóm là Toyota. Phương pháp nghiên cứu Tìm kiếm nội dụng bằng công cụ tìm kiếm google, đọc giáo trình,…. 2 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI MÔ HÌNH JIT 2.
Lịch sử Just – in – time Hệ thống Just-In-Time (JIT) đã được áp dụng trong quá trình sản xuất và lắp ráp của công ty ô tô lớn Ford từ những năm 1930. Tuy nhiên, quy trình sản xuất theo mô hình JIT thực sự được hoàn thiện và phổ biến rộng rãi sau khi Toyota Motors áp dụng nó vào những năm 1970. Nhìn chung, JIT được phát triển từ Nhật Bản và sau đó được chuyên gia chất lượng Deming và Juran ở Bắc Mỹ phát triển thêm, từ đó lan rộng trên toàn thế giới. JIT là một triết lý sản xuất nhằm mục tiêu phát hiện và loại bỏ tất cả các nguồn gây lãng phí một cách liên tục và quyết liệt, nhằm nâng cao hiệu suất của hệ thống sản xuất.
Theo phương thức quản lý của Toyota, năng lực sản xuất của doanh nghiệp bằng với sản lượng thực tế cộng với lãng phí. Do đó, việc phát hiện và loại bỏ những lãng phí trong hệ thống sản xuất giúp cải thiện năng lực sản xuất hiện tại của doanh nghiệp. Lịch sử phát triển về hệ thống JIT 3 CHƯƠNG 3: LÝ THUYẾT MÔ HÌNH JUST – IN – TIME 3. Khái niệm hệ thống JIT Just In Time (JIT) là một khái niệm trong sản xuất hiện đại.
Tóm lược ngắn gọn nhất của Just In Time là: “Đúng sản phẩm – với đúng số lượng – tại đúng nơi – vào đúng thời điểm cần thiết”. JIT đại diện cho một hệ thống sản xuất tập trung vào việc lên kế hoạch chi tiết cho nguồn nguyên liệu, hàng hóa và sản phẩm trong mỗi bước, nhằm đảm bảo rằng quy trình tiếp theo có thể ngay lập tức thực hiện khi quy trình trước đó hoàn thành. Điều này giúp tránh tình trạng quy trình sản xuất nào cũng hoạt động liên tục, không bị gián đoạn vì chờ đợi nguyên liệu, nhân công hoặc thiết bị. Hệ thống JIT cho phép hệ thống sản xuất hoạt động một cách hiệu quả nhất, loại bỏ lãng phí không cần thiết và đảm bảo rằng mọi quy trình đều diễn ra mà không gặp sự chờ đợi hoặc không hiệu quả.
Mục tiêu của JIT Theo Toyota, mục đích của JIT là rút ngắn Lead time sản xuất là thời gian để sản xuất ra một sản phẩm từ lúc đơn đặt hàng được chấp nhận cho đến lúc xuất hàng (không chỉ bao gồm quá trình gia công sản phẩm mà cả quá trình thông tin). Công thức Lead time sản xuất: Lead time sản sản xuất = A + B + C Trong đó: • A: Thời gian đình trệ của thông tin chỉ thị sản xuất. • B: Thời gian từ lúc gia công nguyên liệu đến lúc thành phẩm. (thời gian gia công + thời gian đình trệ) • C: Là thời gian từ khi có được thành phần đầu tiên cho đến lúc có một số thành phẩm để công đoạn sau kéo sang.
Xưởng dập Mục đích cơ bản của JIT là cân bằng hệ thống, có nghĩa là đảm bảo dòng dịch chuyển đều đặn, liên tục trong suốt hệ thống. Làm thời gian thực hiện càng ngắn và sử dụng nguồn lực càng tốt là cách thức đạt được sự cân bằng với ba mục tiêu chính: [1] • Loại bỏ sự gián đoạn: sự gián đoạn tác động ngược lại đối với hệ thống trong việc làm đều dặn dòng dịch chuyển sản phẩm và vì thế nó cần được loại bỏ. Nguyên nhân chủ yếu gây gián đoạn đó là do các yếu tố hư hỏng thiết bị, thay đổi tiến độ hay cung ứng chậm trễ. • Làm cho hệ thống linh hoạt: tính linh hoạt của hệ thống giúp tăng khả năng sản xuất, đảm bảo sự cân đối của nguồn lực.
Hệ thống cần có những khả năng thích ứng với những thay đổi. • Loại bỏ sự lãng phí: sự lãng phí thể hiện ở việc sử dụng không hiệu quả các nguồn lực. Theo JIT thì có 7 lãng phí sau: Hình 3. 7 loại lãng phí 5 a) Lãng phí sửa chữa lỗi Là lãng phí phát sinh do phải sửa chữa lỗi hàng hỏng, hàng chưa đúng tiêu chuẩn: những chi phí về nguyên, nhiên liêu, thiết bị, nhân công phát sinh khi sửa chữa.
Ví dụ: Việc sửa chửa lỗi sơn tại Off line repair của xưởng sơn. b) Lãng phí sản xuất thừa ( lãng phí này cần phải chú ý nhất ) Lãng phí sản xuất thừa chia làm 2 loại sản xuất quá số lượng cần thiết và sản xuất nhanh hơn thời gian yêu cầu, phá vỡ nguyên tắc sản xuất Just-in-time từ đó phát sinh lãng phí. Ví dụ: Kế hoạch sản xuất trong tháng là 200 xe nhưng lại sản xuất 300 xe trong tháng đầy hoặc đến ngày 20 đã hoàn thành 200 xe. c) Lãng phí gia công Là các bước công việc không cần thiết, không phục vụ cho độ chính xác gia công hàng hoá hoặc các bước trong công việc, nhìn chung có khá nhiều thao tác gia công thừa.
Ví dụ: Yêu cầu độ dày lớp PVC gầm xe là 2mm, member bắn thành 4mm. d) Lãng phí vận chuyển Là lãng phí phát sinh khi vận chuyển nhiều hơn lượng yêu cầu của sản xuất Just- in-time. Ví dụ: Kế hoạch xe vào line chỉ có 5 xe nhưng lượng hàng cấp vào lại là 20 bộ. e) Lãng phí lưu kho Lãng phí phát sinh khi nhận vào kho quá nhiều hàng từ nhà cung cấp, lưu kho hàng thừa từ các công đoạn.
Đối với sự cố, lưu kho sẽ làm người ta an tâm nhưng nếu lưu kho càng nhiều thì lãng phí sẽ tăng và như vậy nếu sự cố có xảy ra ở dãy chuyển thì không nhận dạng được vấn đề, nó sẽ bị ẩn đi Lưu kho càng nhiều thì lãng phí càng tăng nếu không cải tiến sẽ có nguy cơ tái phát sự cố. Ví dụ: Trong một tháng nhà máy chỉ dùng 1000 đôi găng tay nhưng kho nhập về 1500 đôi, như vậy phải lưu kho 500 đôi. f) Lãng phí thao tác 6 Lãng phí trong thao tác là loại lãng phí phát sinh từ các thao tác của member, hoạt động của máy móc thiết bị không sinh ra các giá trị phụ thêm trong công đoạn. Lãng phí trong thao tác phát sinh khi cách bố trí thiết bị không hợp lý, máy móc thiết bị để cách xa nhau quá, mất thời gian đi bộ.
Ví dụ: Member phải đi xa hoặc quay người khi lấy part cho công việc lắp xe. g) Lãng phí chờ đợi Lãng phi chờ đợi phát sinh do cách phối hợp công việc không hợp lý, lượng công việc không ổn định nên cứ sau 1 chu kỳ làm việc, member phải dừng lại chờ đợi chứ không thể làm kế tiếp luôn được. Ví dụ: Một Member của xưởng lắp rắp sau khi làm xong xe Corolla phải chở 3 phút đợi xe Hiace lên sau đó mới tiếp tục công việc được. Điều kiện áp dụng JIT • Đối với các doanh nghiệp có quy trình sản xuất lặp đi lặp lại, mô hình Just-In- Time được áp dụng một cách hiệu quả nhất.
• Mô hình này được đặc trưng bởi việc sử dụng lô hàng nhỏ với qui mô sản xuất gần như đồng đều, ưu tiên tiếp nhận vật tư trong suốt quá trình sản xuất thay vì sản xuất lô hàng lớn và để tồn kho, giảm ứng đọng vốn. Nó cũng hỗ trợ kiểm tra chất lượng một cách dễ dàng và giảm thiệt hại khi xảy ra sai sót. • Luồng hàng hóa trong quá trình sản xuất và phân phối được đặc thù chi tiết cho từng bước, đảm bảo rằng công đoạn tiếp theo có thể bắt đầu ngay sau khi công đoạn trước đó hoàn thành. Không có tình trạng đợi chờ và không hiệu quả.
• Mỗi công đoạn chỉ sản xuất một số lượng sản phẩm/bán thành phẩm tương đương với nhu cầu của công đoạn tiếp theo.