Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp được thực hiện bởi sinh viên ngành Sư phạm Ngữ văn tại Trường Đại học Đồng Nai, xuất phát từ ba lý do chính được trình bày trong phần mở đầu. Thứ nhất, nghiên cứu được triển khai nhằm hoàn tất chương trình đào tạo đại học và thực hiện bài tập tốt nghiệp theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng như Trường Đại học Đồng Nai. Thứ hai, đề tài hình thành từ mối quan tâm và hứng thú chuyên môn của tác giả đối với việc ứng dụng phương pháp trắc nghiệm khách quan vào quá trình giảng dạy bộ môn Ngữ văn. Thứ ba, nghiên cứu hướng đến việc vận dụng lý luận dạy học đã tiếp thu trên giảng đường vào thực tiễn, phục vụ nhu cầu tự học cá nhân, hiện thực hóa nguyên lý lý luận gắn liền với thực tiễn, đồng thời chuẩn bị tư liệu và kinh nghiệm nghề nghiệp cho công tác giảng dạy sau khi tốt nghiệp.

Về lịch sử nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng việc sử dụng trắc nghiệm khách quan trong giáo dục nói chung và môn Ngữ văn nói riêng không phải là vấn đề hoàn toàn mới, song các tài liệu chuyên biệt xây dựng một hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan đồng bộ nhằm mục đích ôn tập cho học sinh trung học phổ thông ở môn học này vẫn còn khan hiếm. Trước đó, trong năm học 2020 – 2021, tác giả đã bước đầu nghiên cứu đề tài "Hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan phục vụ ôn tập truyện ngắn Việt Nam trong chương trình Ngữ văn 12 trung học phổ thông" ở quy mô một bài tập học phần. Khóa luận này là bước phát triển tiếp nối với quy mô toàn diện hơn, bao quát toàn bộ các tác phẩm văn học Việt Nam trong chương trình lớp 12.

Mục đích nghiên cứu của đề tài là xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan phục vụ ôn tập các tác phẩm văn học Việt Nam trong chương trình Ngữ văn lớp 12 trung học phổ thông. Để đạt được mục đích này, tác giả xác định bốn nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Tổng hợp tài liệu, tư liệu và tiến hành khảo sát thực tế nhằm xây dựng cơ sở khoa học tin cậy cho đề tài.
  2. Khảo sát thực trạng hoạt động ôn tập các tác phẩm văn học Việt Nam trong chương trình Ngữ văn lớp 12 của học sinh trung học phổ thông.
  3. Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan về các tác phẩm văn học Việt Nam trong chương trình Ngữ văn lớp 12 bảo đảm tính chính xác và khoa học.
  4. Đo lường tính khả thi của hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan phục vụ ôn tập môn học này cho đối tượng học sinh trung học phổ thông.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là hình thức trắc nghiệm khách quan cùng hoạt động dạy học của giáo viên và học sinh ở bậc trung học phổ thông. Phạm vi nghiên cứu giới hạn ở các tác phẩm văn học Việt Nam được giảng dạy trong chương trình Ngữ văn lớp 12 trung học phổ thông hiện hành tại thời điểm nghiên cứu.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Về cơ sở lý luận và pháp lý, đề tài vận dụng các định hướng đổi mới giáo dục được quy định tại Khoản 2, Điều 24 Luật Giáo dục về việc bồi dưỡng phương pháp tự học và phát triển năng lực người học trong nhà trường các cấp. Tác giả tham chiếu các quan điểm giáo dục hiện đại, trong đó coi học sinh là chủ thể tích cực, giữ vai trò trung tâm của hoạt động dạy học; phương pháp dạy học tích cực tập trung vào việc cung cấp phương thức tìm kiếm chân lý thay vì áp đặt truyền đạt thụ động. Đồng thời, khóa luận dựa trên nguyên tắc đa dạng hóa hình thức và phương pháp dạy học nhằm khắc phục tính đơn điệu, phù hợp với sự khác biệt về nhận thức của học sinh và phát huy sở trường của giáo viên. Về căn cứ thực tiễn điều chỉnh chương trình, đề tài căn cứ vào Công văn số 3280/BGDĐT-GDTrH ngày 27 tháng 8 năm 2020 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về "Hướng dẫn điều chỉnh nội dung dạy học cấp trung học cơ sở và trung học phổ thông môn Ngữ văn".

Về mặt lý thuyết kiểm tra đánh giá, tác giả phân tích khái niệm trắc nghiệm (với căn nguyên từ Hán - Việt: "trắc" là đo lường, "nghiệm" là suy xét, chứng thực), xác định đây là phép đo lường kết quả học tập nhằm thu thập thông tin phản hồi có độ tin cậy và tính kinh tế cao. Lịch sử trắc nghiệm được tổng thuật qua các mốc: khởi đầu từ tâm lý học thế kỷ XIX tại Mỹ, đến đầu thế kỷ XX E. Thocdaico lần đầu dùng trắc nghiệm đo trình độ môn số học; năm 1961 Mỹ đạt trên 2.000 chương trình trắc nghiệm chuẩn; năm 1963 Ghecberich ứng dụng máy tính điện tử xử lý dữ liệu trắc nghiệm diện rộng; tại Anh có Hội đồng quốc gia quyết định trắc nghiệm chuẩn; tại Liên Xô phương pháp này được thử nghiệm giai đoạn 1926 – 1931 và phục hồi vào năm 1963; tại Việt Nam, các nghiên cứu của Trần Bá Hoành được công bố từ các năm 1971, 1973 trên tạp chí Nghiên cứu giáo dục, cùng việc ứng dụng phổ biến ở miền Nam trước năm 1975. Về hình thức, tác giả phân loại 4 dạng câu hỏi trắc nghiệm khách quan: trắc nghiệm Đúng - Sai, trắc nghiệm nhiều lựa chọn, trắc nghiệm ghép đôi, và trắc nghiệm điền khuyết. Khái niệm ôn tập được khóa luận dẫn giải theo nghiên cứu của Hà Thị Đức và Nguyễn Ngọc Bảo, xác định ôn tập là quá trình củng cố, hệ thống hóa và khắc sâu kiến thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo tư duy.

Các phương pháp nghiên cứu thực tế được tác giả triển khai bao gồm:

  • Phương pháp quan sát, điều tra: Tìm hiểu thái độ học tập của học sinh, thu thập đánh giá của giáo viên và học sinh về tác dụng của trắc nghiệm khách quan và tính khả thi của hệ thống câu hỏi ôn tập.
  • Phương pháp phân tích, tổng hợp: Phân tích các nguồn tài liệu lý luận dạy học, lý thuyết kiểm tra đánh giá, ưu nhược điểm của trắc nghiệm khách quan để xác lập khung khoa học cho đề tài.
  • Phương pháp thống kê, phân loại: Xử lý dữ liệu điều tra thực tiễn, phân loại hệ thống tác phẩm và cấu trúc ngân hàng câu hỏi, sắp xếp phương án trả lời.
  • Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: Tham vấn giảng viên đại học và giáo viên Ngữ văn trung học phổ thông nhằm định hình hướng nghiên cứu và thẩm định chất lượng bộ câu hỏi.

Nguồn dữ liệu của đề tài bao gồm văn bản chương trình, sách giáo khoa Ngữ văn 12, các văn bản hướng dẫn chuyên môn của Bộ Giáo dục và Đào tạo, các công trình lý luận dạy học, cùng số liệu khảo sát ý kiến từ 90 học sinh và các giáo viên bộ môn tại trường trung học phổ thông.

Nội dung chính theo từng chương

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC

Chương này tập trung trình bày các vấn đề cốt lõi của lý luận dạy học đổi mới và khảo sát thực trạng thực tế dạy học Ngữ văn ở trường trung học phổ thông:

  • Vấn đề tự học và phát huy tính tích cực của học sinh: Tự học được khẳng định là giải pháp giải quyết mâu thuẫn giữa giới hạn thời gian học đường và khối lượng tri thức vô hạn, giúp giảm tải áp lực học tập. Hệ thống trắc nghiệm khoa học tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh tự học ở nhà và trên lớp, chủ động nắm giữ kiến thức.
  • Đa dạng hóa hình thức dạy học: Phân tích sự cần thiết của việc linh hoạt kết hợp phương pháp do không có phương pháp dạy học nào là tuyệt đối hoàn hảo, phù hợp với đặc thù đa dạng của đối tượng tiếp nhận.
  • Cơ sở thực tiễn và tác động từ Công văn 3280: Việc giảm tải một số tác phẩm theo Công văn số 3280/BGDĐT-GDTrH tuy giảm áp lực thời gian nhưng nảy sinh nguy cơ khiến học sinh hình thành tâm lý chủ quan, học lệch; do đó việc xây dựng hệ thống ôn tập bao quát tính hệ thống của môn học là đòi hỏi cấp thiết.
  • Khảo sát thực trạng phía học sinh: Tác giả khảo sát mức độ quan tâm của 90 học sinh đối với hệ thống câu hỏi trắc nghiệm ôn tập môn Ngữ văn 12:
STT Mức độ quan tâm Biểu hiện Số lượng Tỷ lệ %
1 Rất quan tâm Nhận thấy rất cần thiết 62/90 68,9%
2 Có quan tâm Có thì tốt, không có cũng được 18/90 20,0%
3 Không quan tâm Không có ý kiến 10/90 11,1%

Số liệu cho thấy tỷ lệ học sinh thể hiện sự quan tâm đến công cụ trắc nghiệm ôn tập chiếm khoảng 88,9% (kết hợp mức rất quan tâm và có quan tâm), chứng minh nhu cầu thực tế rất lớn trước kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông.

  • Khảo sát thực trạng phía giáo viên: Phỏng vấn giáo viên và giảng viên cho thấy ở trường phổ thông hiện chưa có hệ thống trắc nghiệm ôn tập hoàn chỉnh cho lớp 12. Giáo viên đánh giá cao vai trò của công cụ này nhưng gặp trở ngại vì quy trình biên soạn và thẩm định đòi hỏi đầu tư quá nhiều thời gian, công sức.

CHƯƠNG 2: TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN VỚI HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC NGỮ VĂN Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG

Chương hai đi sâu làm rõ bản chất, đặc trưng của trắc nghiệm khách quan trong mối tương quan với đặc thù bộ môn Ngữ văn:

  • Phân tích 4 hình thức trắc nghiệm khách quan:
    1. Trắc nghiệm Đúng - Sai: Cấu trúc gồm câu dẫn xác định, học sinh chọn Đúng hoặc Sai; ưu điểm là tiết kiệm thời gian, nhược điểm là độ may rủi cao (50%) và chỉ đo được trí nhớ máy móc.
    2. Trắc nghiệm nhiều lựa chọn: Cấu trúc gồm phần thân (câu hỏi hoặc nhiệm vụ) và phần lựa chọn (1 đáp án đúng và các phương án nhiễu; phổ biến dạng 4 phương án); ưu điểm bao quát chương trình rộng, độ tin cậy cao, xác suất đoán mò thấp (25% đối với 4 lựa chọn), chấm nhanh; nhược điểm mất thời gian biên soạn câu nhiễu và khó đo khả năng diễn đạt, lập luận.
    3. Trắc nghiệm ghép đôi: Gồm hai dãy thông tin đối ứng; ưu điểm độ may rủi thấp, đánh giá tốt khả năng thiết lập mối tương quan; nhược điểm tốn thời gian đọc và làm bài.
    4. Trắc nghiệm điền khuyết: Câu dẫn chừa chỗ trống; ưu điểm ngắn gọn, kích thích tư duy phát hiện; nhược điểm khâu chấm bài phức tạp do có thể phát sinh đáp án đúng ngoài dự kiến.
  • Khả năng ứng dụng và giới hạn trong môn Ngữ văn: Ngữ văn là môn học có tính "lưỡng tính" (vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật), tích hợp ba phân môn Văn học, Tiếng Việt và Làm văn. Trắc nghiệm không có ưu thế trong việc kiểm tra năng lực cảm thụ, tổ chức lập luận và kỹ năng sử dụng ngôn ngữ trình độ cao. Tuy nhiên, trắc nghiệm phát huy hiệu quả nổi bật trong khâu ôn tập, củng cố tri thức, hệ thống hóa sự kiện, tác giả, hoàn cảnh sáng tác, cốt truyện và thi pháp.
  • 5 nguyên tắc lưu ý khi biên soạn câu trắc nghiệm Ngữ văn:
    1. Diễn đạt câu hỏi rõ ràng, từ ngữ chính xác, chuẩn ngữ pháp.
    2. Đưa tối đa các dữ kiện và thông tin cần thiết vào phần câu dẫn.
    3. Tránh việc tăng độ khó nhân tạo bằng cách diễn đạt câu từ phức tạp, rườm rà.
    4. Đọc rà soát nhiều lần để phát hiện, loại bỏ các điểm phi logic.
    5. Tránh các chi tiết làm lộ đáp án, lược bỏ từ ngữ thừa, tránh các câu hỏi đa tầng phụ thuộc lẫn nhau hoặc có tính chất đánh lừa học sinh.

CHƯƠNG 3: XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN PHỤC VỤ ÔN TẬP MÔN NGỮ VĂN 12 CHO HỌC SINH (PHẦN VĂN HỌC VIỆT NAM)

Tác giả thiết kế hệ thống gồm 258 câu hỏi trắc nghiệm, tập trung chủ yếu vào 2 hình thức: câu hỏi nhiều lựa chọn (4 phương án) và câu hỏi điền khuyết; trung bình mỗi bài học được phân bổ 17 câu hỏi. Các câu hỏi được thiết kế bám sát tiến trình thời gian tuyến tính của từng tác phẩm; phương án đúng được in đậm; hạn chế dùng các cụm từ định vị rườm rà trong câu dẫn; các bài học nằm ngoài chương trình chính khóa theo Công văn 3280 được đưa vào phụ lục. Hệ thống được tổ chức thành hai cụm nội dung:

  • Hệ thống câu hỏi ôn tập các tác phẩm văn xuôi (gồm 9 tác phẩm):

    1. Tuyên ngôn độc lập (Hồ Chí Minh): Khai thác quan điểm sáng tác của tác giả; hoàn cảnh ra đời tháng 8/1945; thể loại văn chính luận; đối tượng và mục đích văn bản; các bản tuyên ngôn trong lịch sử dân tộc (Nam quốc sơn hà, Đại cáo bình Ngô); cơ sở pháp lý (trích dẫn Tuyên ngôn của Mỹ năm 1776, Tuyên ngôn của Pháp năm 1791); cơ sở thực tiễn tố cáo tội ác thực dân Pháp và phát xít Nhật; các biện pháp tu từ liệt kê, điệp cấu trúc.
    2. Người lái đò sông Đà (Nguyễn Tuân): Phong cách nghệ thuật trước và sau Cách mạng tháng Tám; xuất xứ tập Sông Đà (1960); cấu trúc lời đề từ; đặc điểm dòng chảy; tính chất hung bạo qua vách đá, ghềnh Hát Loóng, hút nước, âm thanh tiếng thác, ba trùng vi thạch trận; vẻ đẹp trữ tình; hình tượng ông lái đò - người lao động bình dị mang phẩm chất "vàng mười" và tài hoa nghệ sĩ.
    3. Ai đã đặt tên cho dòng sông? (Hoàng Phủ Ngọc Tường): Phong cách bút ký trí tuệ, suy tư triết lý; kết cấu ba phần; ý nghĩa nhan đề; vẻ đẹp dòng sông Hương ở thượng nguồn (trường ca rừng già, cô gái Di-gan); sắc thái trầm mặc qua lăng tẩm; điệu slow khi qua thành phố Huế; góc nhìn văn hóa, lịch sử và sự hiện diện của sông Hương trong thi ca (Tản Đà, Cao Bá Quát, Bà Huyện Thanh Quan, Tố Hữu).
    4. Vợ chồng A Phủ (Tô Hoài): Xuất xứ từ tập Truyện Tây Bắc (1952); bối cảnh Hồng Ngài; nhân vật Mị trước khi làm dâu gạt nợ; cuộc sống bị áp bức thể xác và tinh thần ở nhà thống lý Pá Tra; sự trỗi dậy trong đêm tình mùa xuân; nhân vật A Phủ bị phạt vạ vì đánh A Sử; bước chuyển từ tự phát đến tự giác sang Phiềng Sa tham gia cách mạng.
    5. Vợ nhặt (Kim Lân): Sở trường viết về nông thôn của Kim Lân; xuất xứ tập Con chó xấu xí; tiền thân từ tiểu thuyết Xóm ngụ cư; bối cảnh nạn đói 1945; tình huống Tràng nhặt được vợ; diễn biến tâm trạng nhân vật Tràng, người vợ nhặt, bà cụ Tứ; chi tiết nồi cháo cám (chè khoán) và hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng ở phần kết.
    6. Rừng xà nu (Nguyễn Trung Thành): Khuynh hướng sử thi lãng mạn; bối cảnh làng Xô Man thời chống Mỹ; hình tượng xuyên suốt của cây xà nu; nhân vật cụ Mết với chân lý "Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo"; nhân vật T-nú với bi kịch mất vợ con và mười đầu ngón tay bị giặc đốt; nhân vật Dít và bé Heng.
    7. Những đứa con trong gia đình (Nguyễn Thi): Màu sắc Nam Bộ trong không gian, ngôn ngữ và tính cách nhân vật; điểm nhìn trần thuật theo dòng hồi ức của nhân vật Việt khi bị thương; cuốn sổ gia đình của chú Năm; phẩm chất kiên cường của má Việt; sự tiếp nối truyền thống của hai chị em Chiến và Việt.
    8. Chiếc thuyền ngoài xa (Nguyễn Minh Châu): Phong cách tự sự - triết lý thời kỳ đổi mới; điểm nhìn trần thuật của nghệ sĩ Phùng; hai phát hiện nghệ thuật đối lập (bức tranh thuyền lưới vó trong sương sớm và cảnh tượng bạo lực gia đình khi người chồng dùng dây thắt lưng quật người vợ); câu chuyện người đàn bà hàng chài tại tòa án huyện; bi kịch mưu sinh và chiều sâu nhân đạo.
    9. Hồn Trương Ba, da hàng thịt (Lưu Quang Vũ): Xuất xứ kịch bản văn học (viết năm 1981); đoạn trích cảnh VII và đoạn kết; mâu thuẫn bi kịch giữa linh hồn thanh cao của Trương Ba và thân xác phàm tục của hàng thịt; cuộc đối thoại giữa Trương Ba với xác hàng thịt, với người thân (vợ, con dâu, cháu gái) và với Đế Thích; thông điệp về sự toàn vẹn, hài hòa giữa thể xác và linh hồn.
  • Hệ thống câu hỏi ôn tập các tác phẩm thơ (gồm 4 tác phẩm):

    1. Tây Tiến (Quang Dũng): Cảm hứng lãng mạn và bi tráng; hoàn cảnh thành lập đoàn binh Tây Tiến (1947 tại Phù Lưu Chanh) và tên gọi ban đầu (Nhớ Tây Tiến); 14 câu đầu về chặng đường hành quân khắc nghiệt qua dốc Sài Khao, Mường Lát, Pha Luông; khổ 2 về đêm liên hoan lửa đuốc và sông nước miền Tây; khổ 3 khắc họa chân dung người lính ốm vì sốt rét nhưng dữ oai hùm; lý tưởng "Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh"; khúc độc hành của sông Mã.
    2. Việt Bắc (Tố Hữu): Thể loại lục bát, phong cách trữ tình - chính trị đậm tính dân tộc; hoàn cảnh lịch sử tháng 10/1954; cấu kết đối đáp theo lối ca dao qua cặp đại từ "mình - ta"; bức tranh tứ bình bốn mùa (đông - xuân - hạ - thu); khung cảnh kháng chiến sôi động (Việt Bắc đánh Tây, chiến dịch Điện Biên Phủ) và tình cảm gắn bó son sắt giữa nhân dân với cán bộ cách mạng.
    3. Đất Nước (trích trường ca Mặt đường khát vọng - Nguyễn Khoa Điềm): Hoàn cảnh sáng tác năm 1971 tại chiến khu Trị - Thiên; cảm nhận đa chiều về Đất Nước trên các bình diện văn hóa, phong tục, địa lý và lịch sử; chất liệu văn hóa dân gian (miếng trầu, truyền thuyết Thánh Gióng, ca dao, hò Bình Trị Thiên); tư tưởng cốt lõi: "Đất Nước của Nhân dân", nhấn mạnh công lao gìn giữ, xây dựng của những con người bình dị, vô danh.
    4. Sóng (Xuân Quỳnh): Hoàn cảnh sáng tác năm 1967 tại vùng biển Diêm Điền (Thái Bình), in trong tập Hoa dọc chiến hào; hai hình tượng sóng đôi "sóng" và "em"; những trạng thái phức tạp, đối lập trong tình yêu ("dữ dội và dịu êm", "ồn ào và lặng lẽ"); khát vọng vươn tới sự bao dung, nỗi nhớ da diết vượt qua không gian, thời gian và ước muốn hóa thân để tình yêu trở nên bất tử.

Kết quả và đóng góp

Về kết quả định lượng, đề tài đã thiết kế hoàn chỉnh hệ thống 258 câu hỏi trắc nghiệm khách quan bao quát 13 bài học tiêu biểu về văn học Việt Nam lớp 12 (trung bình 17 câu hỏi mỗi bài), đồng thời xử lý các tác phẩm giảm tải vào phụ lục theo đúng tinh thần điều chỉnh chương trình của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Kết quả điều tra thực trạng ghi nhận 88,9% học sinh lớp 12 (trong tổng số 90 học sinh được khảo sát) thể hiện mức độ quan tâm và nhu cầu tiếp cận công cụ trắc nghiệm ôn tập bộ môn.

Về mặt giải pháp, tác giả xác lập quy trình biên soạn câu hỏi trắc nghiệm bộ môn Ngữ văn bám sát tính logic tuyến tính của tác phẩm; chuẩn hóa phần thân câu hỏi nhằm hạn chế định vị trùng lặp, tối ưu hóa các phương án nhiễu theo dạng trắc nghiệm 4 lựa chọn và điền khuyết; đồng thời đúc kết 5 lưu ý kỹ thuật có giá trị thực hành trực tiếp cho khâu thiết kế câu hỏi kiểm tra đánh giá môn Ngữ văn.

Về mặt đóng góp, đối với phương diện lý luận, khóa luận góp phần chứng minh khả năng và phạm vi ứng dụng hiệu quả của trắc nghiệm khách quan trong việc hỗ trợ ôn tập, củng cố tri thức môn Ngữ văn ở trường phổ thông, phá vỡ định kiến cho rằng môn Ngữ văn hoàn toàn không tương thích với hình thức khảo sát này. Đối với phương diện thực tiễn, đề tài cung cấp một bộ công cụ ôn tập sẵn có giúp học sinh lớp 12 rèn luyện kỹ năng tự học và ghi nhớ kiến thức nền tảng; đồng thời đóng góp nguồn dữ liệu thô phục vụ việc xây dựng ngân hàng câu hỏi dùng trong kiểm tra, đánh giá của các trường trung học phổ thông.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận tự nhìn nhận một số hạn chế nhất định xuất phát từ điều kiện thực hiện. Tác giả là sinh viên chưa có kinh nghiệm giảng dạy thực tế trên lớp, nguồn tư liệu tiếp cận còn giới hạn nên hệ thống câu hỏi có thể chưa đạt đến độ tối ưu tuyệt đối. Về mặt phương pháp, hình thức trắc nghiệm khách quan bộc lộ giới hạn nội tại khi không thể đo lường khả năng cảm thụ sâu sắc, tư duy phân tích lập luận và kỹ năng hành văn của học sinh như phương pháp tự luận truyền thống. Phạm vi khảo sát thực tế mới dừng lại ở quy mô 90 học sinh và một số giảng viên, giáo viên, chưa bao quát trên diện rộng.

Về hướng phát triển tiếp theo, đề tài đề xuất việc tiếp tục thử nghiệm hệ thống câu hỏi trên diện rộng ở các trường phổ thông nhằm đo lường chính xác tính khả thi, phân tích độ phân cách và độ khó của từng câu hỏi bằng các phần mềm chuyên dụng; từ đó chỉnh lý, bổ sung để hoàn thiện một ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm chuẩn hóa dùng cho toàn bộ chương trình Ngữ văn cấp trung học phổ thông.

Giá trị tham khảo

Tài liệu này hữu ích đối với học sinh lớp 12 đang chuẩn bị cho kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông, giáo viên dạy môn Ngữ văn cấp trung học phổ thông, và sinh viên chuyên ngành Sư phạm Ngữ văn đang thực hiện các đề tài nghiên cứu về phương pháp giảng dạy hoặc kiểm tra đánh giá:

  • Đối với học sinh: Cung cấp một nguồn ngữ liệu câu hỏi hệ thống giúp tự kiểm tra nhanh mức độ ghi nhớ các chi tiết tác phẩm, bối cảnh lịch sử, tiểu sử tác giả và các biện pháp nghệ thuật tiêu biểu mà không mất quá nhiều thời gian đọc lại toàn bộ tác phẩm.
  • Đối với giáo viên: Phần đáng tham khảo nhất là Chương 2 với 5 nguyên tắc lưu ý kỹ thuật khi ra đề trắc nghiệm văn học và Chương 3 với hệ thống 258 câu hỏi đã được sắp xếp mạch lạc theo thứ tự tác phẩm, có thể trích xuất trực tiếp làm đề kiểm tra 15 phút, phiếu học tập củng cố bài mới hoặc đề ôn tập trực tuyến.
  • Đối với sinh viên Sư phạm: Khóa luận là tài liệu tham khảo cụ thể về phương pháp nghiên cứu phương pháp dạy học, cách thức khảo sát thực trạng và giải pháp chuyển hóa kiến thức văn học nghệ thuật sang hình thức trắc nghiệm đo lường khách quan.

Câu hỏi thường gặp

Khóa luận này kế thừa và phát triển từ công trình nghiên cứu nào trước đó của tác giả? Khóa luận được kế thừa và mở rộng từ bài tập học phần năm học 2020 – 2021 của chính tác giả với đề tài "Hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan phục vụ ôn tập truyện ngắn Việt Nam trong chương trình Ngữ văn 12 trung học phổ thông". Khóa luận đã mở rộng phạm vi ra toàn bộ các tác phẩm văn xuôi và thơ thuộc mảng văn học Việt Nam lớp 12.

Số liệu khảo sát 90 học sinh trung học phổ thông trong khóa luận cho thấy điều gì về nhu cầu trắc nghiệm môn Ngữ văn? Kết quả khảo sát cho thấy có 62/90 học sinh (68,9%) đánh giá rất cần thiết (rất quan tâm), 18/90 học sinh (20,0%) đánh giá có thì tốt (có quan tâm), và 10/90 học sinh (11,1%) không có ý kiến (không quan tâm). Tổng cộng có khoảng 88,9% học sinh quan tâm và mong muốn có một hệ thống trắc nghiệm phục vụ ôn tập kiến thức trước kỳ thi tốt nghiệp.

Hệ thống câu hỏi trắc nghiệm trong Chương 3 bao gồm bao nhiêu câu và bao quát những thể loại nào? Chương 3 xây dựng tổng cộng 258 câu hỏi trắc nghiệm (trung bình 17 câu mỗi bài), bao quát 13 bài học chia thành hai nhóm: nhóm văn xuôi gồm 9 tác phẩm (Tuyên ngôn độc lập, Người lái đò sông Đà, Ai đã đặt tên cho dòng sông?, Vợ chồng A Phủ, Vợ nhặt, Rừng xà nu, Những đứa con trong gia đình, Chiếc thuyền ngoài xa, Hồn Trương Ba, da hàng thịt) và nhóm thơ gồm 4 tác phẩm (Tây Tiến, Việt Bắc, Đất Nước, Sóng).

Tác giả xử lý những tác phẩm được giảm tải theo Công văn số 3280/BGDĐT-GDTrH như thế nào? Đối với các tác phẩm được Bộ Giáo dục và Đào tạo đưa ra khỏi danh sách bài học bắt buộc chính khóa theo Công văn 3280, tác giả không đưa các câu hỏi về những tác phẩm đó vào chính văn của Chương 3 mà chuyển toàn bộ vào phần phụ lục của khóa luận nhằm bảo đảm tính liên tục và cung cấp tư liệu mở rộng cho người học.

Khóa luận chỉ ra những điểm hạn chế lớn nhất của hình thức trắc nghiệm khách quan trong dạy học Ngữ văn là gì? Tác giả xác định trắc nghiệm khách quan không thể đo lường và đánh giá được năng lực cảm thụ thẩm mỹ, kỹ năng diễn đạt ngôn ngữ, khả năng lập luận và cách thức giải quyết vấn đề của học sinh - những yếu tố vốn là mục tiêu cốt lõi của môn học tích hợp gồm Văn học, Tiếng Việt và Làm văn.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Trường Đại học Đồng Nai đã hoàn thành mục tiêu xây dựng hệ thống 258 câu hỏi trắc nghiệm khách quan phục vụ ôn tập phần văn học Việt Nam trong chương trình Ngữ văn 12. Công trình đã làm rõ cơ sở lý thuyết, cơ sở pháp lý và điều tra thực tiễn nhu cầu học tập của học sinh, đồng thời phân tích thấu đáo cả thế mạnh lẫn hạn chế của trắc nghiệm khách quan trong môi trường giáo dục đặc thù môn Ngữ văn. Mặc dù còn hạn chế nhất định về kinh nghiệm giảng dạy thực tế của tác giả, hệ thống câu hỏi được biên soạn mang giá trị thực tiễn cao, đóng góp một công cụ tự học tiện ích cho học sinh và nguồn ngữ liệu tham khảo hữu ích cho giáo viên phổ thông.