CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC 1. Vấn đề tự học Một trong những định hướng của đổi mới phương pháp dạy học là phát triển năng lực tự học của học sinh. Vấn đề này được quy định tại Điều 24, khoản 2 của Luật Giáo dục, theo đó nhà trường các cấp hiện nay cần phải hết sức chú trọng đến việc rèn phương pháp tự học cho học sinh, nhằm có thể đáp ứng nhu cầu đào tạo và nhu cầu về con người của xã hội. Tự học có nghĩa là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ và có khi cả cơ bắp cùng các phẩm chất, động cơ, tình cảm, nhân sinh quan, thế giới quan để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình.
Cốt lõi của học là tự học. Có học tập là phải có tự học. Không chỉ là giải pháp để khắc phục nghịch lí giữa cái vô hạn của học vấn và sự hữu hạn của tuổi học đường, tự học cũng là con đường giúp con người giải quyết mâu thuẫn giữa khát vọng cao đẹp về học vấn với hoàn cảnh ngặt nghèo của cuộc sống cá nhân. Tự học cũng là con đường thử thách rèn luyện và hình thành ý chí của mỗi con người trong cuộc sống.
Trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay, tự học cũng chính là một trong những biện pháp hữu hiệu để giải quyết vấn đề quá tải trong trường học. Hệ thống câu hỏi trắc nghiệm nếu được xây dựng một cách khoa học, hợp lý sẽ giúp học sinh có thể tự học, tự ôn tập hiệu quả, tiết kiệm được công sức, thời gian… khi áp lực của các môn học khác, các kỳ thi quan trọng phía trước đang đè nặng lên không chỉ tâm lý học sinh. Vấn đề học sinh là chủ thể tích cực của quá trình dạy học Hiện nay, lý thuyết dạy học hiện đại hết sức chú ý tới vai trò chủ thể của học sinh, coi học sinh là nhân tố tích cực, giữ một vai trò trung tâm của quá trình dạy học. Theo định hướng tích cực hóa hoạt động học của học sinh, mọi thiết kế bài giảng của giáo viên sử dụng trên lớp cũng như nội dung và phương pháp biên soạn sách giáo khoa Ngữ văn trong nhà trường đều phải lấy học sinh làm trung tâm hay nói một cách chính xác hơn là “xem học sinh là một trung tâm của quá trình dạy học”.
Phương pháp dạy học tích cực theo quan điểm hướng vào người học chú ý tới việc cung cấp cách thức để tìm ra chân lý chứ không phải là truyền đạt chân lý. Đó chính là mục đích của dạy học theo tinh thần đổi mới, là “tích cực hóa hoạt động của người học”. Trong việc ôn tập, nếu có một hệ thống câu hỏi trắc nghiệm tiện dụng, học sinh có điều kiện hơn để phát huy tính tích cực chủ động học tập cả khi ở nhả và ở trường. Đa dạng hóa các hình thức và phương pháp dạy học Một trong những vấn đề vô cùng quan trọng mà chúng tôi nhận thức được qua các học phần Lý luận và phương pháp dạy học Ngữ văn là phải đa dạng hóa các hình thức và phương pháp trong quá trình dạy học Ngữ văn ở các trường phổ thông.
Đây là một trong những yêu cầu bắt buộc phải thực hiện nhằm hướng tới đổi mới và nâng cao chất lượng, nâng cao hiệu quả dạy học Ngữ văn ở phổ thông. Phải đa dạng hóa các hình thức và phương pháp trong quá trình dạy học bởi không có phương pháp nào hoàn hảo, tuyệt đối. Mỗi phương pháp có những mặt mạnh, yếu riêng của nó; mỗi bài, mỗi phần của bài đều có những đặc điểm riêng phù hợp với những phương pháp nhất định; mỗi học sinh, mỗi lớp có những đặc điểm riêng về nhiều mặt, trong đó có sự khác nhau về tầm nhận thức; mỗi giáo viên có những sở trường, sở đoản riêng, những điều kiện (cả chủ quan và khách quan) riêng trong quá trình dạy học. Đa dạng hóa các hình thức và phương pháp trong quá trình dạy học còn giúp học sinh tránh sự nhàm chán, đơn điệu, giúp tạo hứng thú học tập, tiếp thu bài học hiệu quả hơn cho học sinh.
Xây dựng một hệ thống câu hỏi trắc nghiệm cho học sinh ôn tập môn Ngữ văn trong tình hình dạy học hiện nay là một hình thức tương đối mới và có hiệu quả. Cơ sở thực tiễn Hiên nay, chương trình môn Ngữ văn ở các bậc phổ thông liên tục có những thay đổi. Đó có thể là những thay đổi cần thiết cho sự đổi mới, hoàn thiện chương trình giáo dục phổ thông của ngành giáo dục nước nhà. Trong những thay đổi đó, chúng tôi thấy bên cạnh việc các cơ sở giáo dục được chủ động xây dựng phương án, hình thức thực hiện chương trình, công tác kiểm tra đánh giá… còn có việc Bộ Giáo dục & Đào tạo ban hành “Hướng dẫn điều chỉnh nội dung dạy học cấp trung học cơ sở và trung học phổ thông môn Ngữ văn” (Kèm theo Công văn số 3280/BGDĐT-GDTrH ngày 27 tháng 8 năm 2020 của Bộ trưởng Bộ GD-ĐT) đưa một số tác phẩm văn học trong sách Giáo khoa Ngữ văn ra khỏi danh sách những bài học bắt buộc chính khóa (xem phụ lục).
Việc này góp phần đáng kể trong việc giảm bớt áp lực thời gian cho giáo viên và học sinh trong việc thực hiện chương trình nhưng từ một góc nhìn khác, chúng tôi cho rằng nó cũng tạo ra cho học sinh một tâm lý chủ quan , thiếu tích cực sự trong nhận thức về tầm quan trọng của những kiến thức bộ môn. Học tốt môn văn không chỉ là đọc, nhớ hay hiểu một tác phẩm nào đó. Tính hệ thông trong kiến thức bộ môn là vô cùng quan trong không chỉ với riêng Ngữ văn. Bởi vậy, theo chúng tôi, việc xây dựng một hệ thống câu hỏi có tầm bao quát kiến thức cho học sinh ôn tập là rất cần thiết.
Thực trạng nhìn từ phía học sinh Chúng tôi đã tiến hành khảo sát, thăm dò ý kiến 90 học sinh về sự cần thiết của một hệ thống câu hỏi trắc nghiệm phục vụ ôn tập kiến thức môn Ngữ văn 12. Kết quả thu được cụ thể như sau: STT Mức độ quan tâm Biểu hiện Số lượng Tỷ lệ % 1 Rất quan tâm Nhận thấy rất cần thiết 62/90 68,9 2 Có quan tâm Có thì tốt, không có cũng được 18/90 20 3 Không quan tâm Không có ý kiến 10/90 11,1 Những con số thống kê mang tính cơ học nêu trên có thể chưa phản ánh hết và hoàn toàn chính xác về vấn đề, nhưng nó cũng đã cho thấy một phần khá rõ nhu cầu về một hệ thống câu hỏi trắc nghiệm phục vụ ôn tập kiến thức môn Ngữ văn 12 của học sinh trước khi bước vào một kỳ thi có tính chất bước ngoặt của cuộc đời. Ngữ văn là một trong những môn thi bắt buộc của kỳ thi tốt nghiệp bậc trung học phổ thông nên ý thức học tập và sự quan tâm của các em đối về một hệ thống câu hỏi trắc nghiệm phục vụ ôn tập kiến thức.là khá lớn (khoảng 89%). Đây cũng là một nhu cầu thực tế cần được nghiên cứu, đáp ứng một cách nghiêm túc cho học sinh.
Thực trạng nhìn từ phía giáo viên Sử dụng phương pháp điều tra, khảo sát và lấy ý kiến chuyên gia, chúng tôi nhận thấy hiện nay ở các trường trung học phổ thông chưa có một hệ thống câu hỏi trắc nghiệm phục vụ ôn tập kiến thức môn Ngữ văn 12. Qua trao đổi, hầu hết giảng viên, giáo viên Ngữ văn đều cho rằng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm phục vụ ôn tập kiến thức môn Ngữ văn 12 là rất quan trọng và cần thiết cho cả thầy và trò. Tuy nhiên, việc biên soạn và thẩm định sẽ mất rất nhiều thời gian, công sức nên ít người bắt tay vào thực hiện. Nếu có một hệ thống câu hỏi trắc nghiệm phục vụ ôn tập kiến thức môn Ngữ văn 12 có chất lượng thì đó sẽ là một công cụ hỗ trợ đắc lực cho hoạt động dạy học môn Ngữ văn ở trường phổ thông.
7 Tiểu kết Do khuôn khổ của khóa luận có hạn, nên trên đây là phần trình bày vắn tắt một số vấn đề về lý luận dạy học và phương pháp dạy học được chúng tôi tổng hợp, xây dựng lại làm cơ sở lý luận, định hướng cho mình trong suốt quá trình thực hiện đề tài khóa luận. Một số bình diện của thực tế hoạt động dạy học Ngữ văn ở các trường trung học phông thông cũng được chúng tôi khảo sát, tìm hiểu kỹ lưỡng và xem đây là cơ sở thực tiễn trong quá trình thực hiện đề tài. 8 CHƯƠNG 2 TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN VỚI HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC NGỮ VĂN Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG 2. Vài nét về trắc nghiệm khách quan 2.
Khái niệm Trắc nghiệm là một xu hướng mạnh và phổ biến trong dạy học hiện đại. Nó một phép thử để nhận dạng, xác định, thu thập những thông tin phản hồi về những khả năng, thuộc tính, đặc tính, tính chất của một sự vật hiện, tượng nào đó. Trong tiếng Hán, trắc nghiệm (测验) thì "trắc có nghĩa là đo lường, nghiệm có nghĩa là suy xét, chứng thực" [4, tr. Trong dạy học, trắc nghiệm cũng là một phương pháp kiểm tra nhằm đánh giá trình độ, năng lực, kết quả học tập của người học trước, trong và khi kết thúc một giai đoạn, một quá trình học tập nhất định.
Dù không phải là một phương pháp đánh giá trực tiếp, nhưng trắc nghiệm đã được sử dụng từ rất lâu và rất rộng rãi trong lịch sử giáo dục và dạy học bởi tính kinh tế, sự thuận tiện, dễ dàng can thiệp bằng các kỹ thuật phù hợp để tăng tính chính xác, độ tin cậy của thông tin về người học mà trắc nghiệm đem lại. Sơ lược lịch sử trắc nghiệm Trắc nghiệm đã xuất hiện từ khá lâu trên thế giới. Ở Mỹ, từ đầu thế kỷ XIX người ta đã dùng phương pháp này trong nghiên cứu Tâm lý học để phát hiện hay chẩn đoán các đặc điểm tâm lý người như trí tuệ, các đặc điểm nhân cách, năng khiếu, xu hướng nghề nghiệp của học sinh. Sang đầu thế kỷ XX, E.Thocdaico là người đầu tiên đã dùng trắc nghiệm như một số phương pháp “khách quan và nhanh chóng” để đo trình độ kiến thức học sinh, bắt đầu dùng với môn số học và sau đó là đối với một số loại kiến thức khác.
Đến năm 1940 ở Hoa Kỳ đã xuất bản nhiều hệ thống trắc nghiệm dùng để đánh giá thành tích học tập của học sinh. Năm 1961 Hoa Kỳ đã có hơn 2000 chương trình trắc nghiệm chuẩn.