Luận văn thạc sĩ về hệ thống bầu cử ở Việt Nam và các quốc gia trên thế giới

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu vnu ls hệ thống bầu cử ở một số quốc gia trên thế giới và ở việt nam hiện nay, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề xuất giải pháp cải thiện

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Luật học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2015

122
18
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG I: Lý luận chung về bầu cử và hệ thống bầu cử

1.1. Khái niệm bầu cử

1.2. Vị trí, vai trò của bầu cử

1.3. Các nguyên tắc bầu cử phổ biến trên thế giới

1.4. Hệ thống bầu cử

1.4.1. Khái niệm hệ thống bầu cử

1.4.2. Bản chất của hệ thống bầu cử

1.4.3. Vị trí, vai trò của hệ thống bầu cử

1.4.4. Tiêu chí đánh giá hệ thống bầu cử

2. CHƯƠNG II: Hệ thống bầu cử trên thế giới

2.1. Các hệ thống bầu cử điển hình

2.1.1. Phân loại các hệ thống bầu cử điển hình

2.1.2. Hệ thống bầu cử đa số

2.1.3. Hệ thống bầu cử đại diện tỉ lệ

2.1.4. Hệ thống bầu cử hỗn hợp

2.1.5. Một số hệ thống bầu cử khác

2.1.6. Ưu điểm, hạn chế của các hệ thống bầu cử

2.2. Hệ thống bầu cử ở một số quốc gia

2.2.1. Hệ thống bầu cử ở Ấn Độ

2.2.2. Hệ thống bầu cử ở Cộng Hòa Ailen

2.2.3. Hệ thống bầu cử ở New Zealand

2.2.4. Xu hướng phát triển của hệ thống bầu cử trên thế giới

3. CHƯƠNG III: Thực trạng và việc hoàn thiện hệ thống bầu cử ở Việt Nam

3.1. Hệ thống bầu cử Việt Nam từ năm 1945 đến nay

3.1.1. Khái quát các giai đoạn phát triển của hệ thống bầu cử Việt Nam từ năm 1945 đến nay

3.1.2. Những điểm mới về hệ thống bầu cử trong Hiến pháp năm 2013 và Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND năm 2015

3.1.3. Thực trạng hệ thống bầu cử ở Việt Nam hiện nay

3.1.4. Những thành tựu cơ bản của hệ thống bầu cử ở Việt Nam hiện nay

3.1.5. Một số bất cập, hạn chế của hệ thống bầu cử ở Việt Nam hiện nay

3.1.6. Quan điểm, giải pháp hoàn thiện hệ thống bầu cử ở nước ta hiện nay

3.1.6.1. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng
3.1.6.2. Đổi mới công tác hiệp thương
3.1.6.3. Đổi mới về tổ chức phụ trách bầu cử
3.1.6.4. Đổi mới về đơn vị bầu cử
3.1.6.5. Đổi mới về công tác tuyên truyền và vận động bầu cử

KẾT LUẬN

Tài liệu tham khảo

Tóm tắt

I. Tổng quan về hệ thống bầu cử ở Việt Nam và thế giới

Hệ thống bầu cử là một phần quan trọng trong việc xây dựng nền dân chủ. Ở Việt Nam, bầu cử được tổ chức theo nguyên tắc bình đẳng, phổ thông và kín. Trong khi đó, trên thế giới, có nhiều mô hình bầu cử khác nhau, từ bầu cử đại diện tỉ lệ đến bầu cử đa số. Việc so sánh các hệ thống này giúp hiểu rõ hơn về ưu điểm và nhược điểm của từng mô hình.

1.1. Khái niệm và vai trò của hệ thống bầu cử

Hệ thống bầu cử được định nghĩa là quy trình mà qua đó cử tri lựa chọn đại diện cho mình. Vai trò của nó không chỉ là lựa chọn người đại diện mà còn là công cụ giám sát quyền lực nhà nước.

1.2. Các nguyên tắc bầu cử phổ biến trên thế giới

Các nguyên tắc bầu cử như bình đẳng, phổ thông và kín được áp dụng rộng rãi. Tuy nhiên, mỗi quốc gia có thể có những điều chỉnh riêng để phù hợp với bối cảnh chính trị và xã hội của mình.

II. Vấn đề và thách thức trong hệ thống bầu cử hiện nay

Hệ thống bầu cử ở nhiều quốc gia đang đối mặt với nhiều thách thức như gian lận bầu cử, thiếu minh bạch và sự tham gia của cử tri. Những vấn đề này không chỉ ảnh hưởng đến tính hợp pháp của cuộc bầu cử mà còn làm giảm niềm tin của người dân vào hệ thống chính trị.

2.1. Gian lận và thiếu minh bạch trong bầu cử

Gian lận bầu cử là một trong những vấn đề nghiêm trọng nhất. Nó có thể xảy ra ở nhiều giai đoạn khác nhau của quy trình bầu cử, từ việc đăng ký cử tri đến việc kiểm phiếu.

2.2. Sự tham gia của cử tri và ý thức chính trị

Sự tham gia của cử tri là yếu tố quyết định đến tính hợp pháp của cuộc bầu cử. Tuy nhiên, nhiều quốc gia vẫn gặp khó khăn trong việc khuyến khích cử tri tham gia, đặc biệt là giới trẻ.

III. Phương pháp bầu cử và quy trình tổ chức

Có nhiều phương pháp bầu cử khác nhau, bao gồm bầu cử đại diện tỉ lệ, bầu cử đa số và bầu cử hỗn hợp. Mỗi phương pháp có những ưu điểm và nhược điểm riêng, ảnh hưởng đến cách thức tổ chức và kết quả bầu cử.

3.1. Hệ thống bầu cử đại diện tỉ lệ

Hệ thống bầu cử đại diện tỉ lệ cho phép các đảng phái chính trị nhận được ghế trong cơ quan lập pháp tương ứng với tỷ lệ phiếu bầu mà họ nhận được. Điều này giúp đảm bảo sự đa dạng trong đại diện.

3.2. Hệ thống bầu cử đa số

Hệ thống bầu cử đa số yêu cầu ứng cử viên phải nhận được nhiều phiếu bầu nhất để thắng cử. Mặc dù đơn giản, nhưng nó có thể dẫn đến sự thiếu đại diện cho các nhóm thiểu số.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về bầu cử

Nghiên cứu về hệ thống bầu cử không chỉ giúp hiểu rõ hơn về các mô hình khác nhau mà còn cung cấp thông tin quý giá cho việc cải cách hệ thống bầu cử ở Việt Nam. Các nghiên cứu cho thấy rằng việc áp dụng công nghệ thông tin trong bầu cử có thể nâng cao tính minh bạch và hiệu quả.

4.1. Công nghệ thông tin trong bầu cử

Việc áp dụng công nghệ thông tin trong quy trình bầu cử đã giúp cải thiện tính minh bạch và giảm thiểu gian lận. Nhiều quốc gia đã áp dụng hệ thống bỏ phiếu điện tử để tăng cường hiệu quả.

4.2. Kinh nghiệm từ các quốc gia khác

Nghiên cứu các hệ thống bầu cử ở các quốc gia khác giúp Việt Nam rút ra bài học quý giá. Những cải cách thành công ở nước ngoài có thể được áp dụng để cải thiện hệ thống bầu cử trong nước.

V. Kết luận và tương lai của hệ thống bầu cử

Hệ thống bầu cử ở Việt Nam cần được cải cách để đáp ứng yêu cầu của thời đại mới. Việc học hỏi từ các mô hình bầu cử trên thế giới sẽ giúp nâng cao tính hiệu quả và minh bạch của hệ thống bầu cử trong nước.

5.1. Định hướng cải cách hệ thống bầu cử

Cải cách hệ thống bầu cử cần tập trung vào việc nâng cao tính minh bạch, giảm thiểu gian lận và khuyến khích sự tham gia của cử tri. Các chính sách cần được xây dựng dựa trên nhu cầu thực tiễn của người dân.

5.2. Tương lai của bầu cử ở Việt Nam

Tương lai của hệ thống bầu cử ở Việt Nam phụ thuộc vào khả năng thích ứng với các thay đổi trong xã hội và công nghệ. Việc áp dụng các mô hình bầu cử tiên tiến sẽ giúp nâng cao chất lượng dân chủ.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ vnu ls hệ thống bầu cử ở một số quốc gia trên thế giới và ở việt nam hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẦU CỬ VÀ HỆ THỐNG BẦU CỬ 1. Khái niệm bầu cử Bầu cử được xem là “trái tim của dân chủ” [27, tr.174]; là một chế định trọng tâm của các chính thể dân chủ đại diện. Có nhiều định nghĩa về bầu cử, tuy nhiên, từ góc độ khái quát nhất, có thể hiểu bầu cử là một quy trình chính trị - pháp lý trong đó người dân tự do bỏ phiếu lựa chọn ra những người vào làm việc trong bộ máy nhà nước để thay mặt mình quản lý xã hội [7, tr. Hay nói một cách đơn giản hơn, bầu cử là phương thức để nhân dân lựa chọn người đại diện và ủy thác quyền lực cho người đại diện [20, tr.

Điều này được thể hiện ở các góc độ sau: Thứ nhất, bầu cử là một loại hoạt động xã hội mang tính lựa chọn của con người. Bất cứ một quốc gia nào, một xã hội nào trong giai đoạn nào thì khi nói đến bầu cử là nói đến việc lựa chọn. Mặc dù vậy, đối tượng được lựa chọn có thể không giống nhau. Hiện nay, phổ biến nhất trong hệ thống bầu cử ở nhiều nước là lựa chọn các đại biểu trong cơ quan lập pháp.

Các nước tư sản được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc phân chia quyền lực, vì vậy, bầu cử không những là phương thức thành lập cơ quan lập pháp mà còn được áp dụng để bầu các chức danh trong các nhánh quyền lực khác như Tổng thống, các Thị trưởng và có thể là các chức danh trong các cơ quan tư pháp [2, tr. Đối với các nước xã hội chủ nghĩa, quyền lực nhà nước là thống nhất, thuộc về nhân dân cho nên bầu cử là phương thức để thành lập ra các cơ quan đại diện quyền lực nhà nước. Tóm lại, các đại biểu, các chức danh từ kết quả của 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com bầu cử đều trở thành người đại diện cho nhân dân vì họ do nhân dân trực tiếp bầu ra và trao quyền. Thứ hai, bầu cử là việc ủy thác quyền lực của nhân dân đến người được chọn lựa.

Điều đó có nghĩa là thông qua hành vi bỏ phiếu, người dân lựa chọn và đồng thời trao quyền lực của mình cho người mà mình đã lựa chọn. Chủ thể nào được lựa chọn thông qua bầu cử thì chủ thể đó nhận quyền lực từ nhân dân. Tuy nhiên, mức độ quyền lực mà người đại diện được nhân dân ủy quyền không chỉ đơn thuần là hành vi bỏ phiếu mà còn liên quan đến việc chủ thể nào quy định quyền lực của cơ quan đại diện và quyền hạn, nhiệm vụ đại biểu dân cử. Trong các nền dân chủ đương đại thì vấn đề phân công quyền lực nhà nước và mức độ trao quyền lực thường được quy định trong Hiến pháp của mỗi nước.

Như vậy, phạm vi thẩm quyền của người đại diện không do cử tri trực tiếp quyết định trong bầu cử mà do Hiến pháp quy định. Nói cách khác, trong bầu cử, cử tri chỉ trao quyền cho người đại diện. Ai được cử tri lựa chọn thì người đó sẽ nhận được quyền lực từ nhân dân còn vấn đề nhận được bao nhiêu quyền lực sẽ do Hiến pháp quy định. Như vậy, nếu Hiến pháp – văn bản phân công quyền lực là do nhân dân thông qua thì nhân dân không những trực tiếp lựa chọn, trực tiếp trao quyền mà còn trực tiếp quy định về phạm vi thẩm quyền cho người đại diện.

Trong trường hợp nhân dân không thông qua Hiến pháp thì nhân dân chỉ trao quyền cho người đại diện thông qua bầu cử. Phạm vi thẩm quyền bao nhiêu, “nhiều” hay “ít” là do Hiến pháp ấn định [20, tr. Tuy thẩm quyền của người đại diện được quy định trong Hiến pháp, nhưng nếu không được người dân chọn qua bầu cử thì không thể tồn tại quyền lực của người đại diện. Do vậy, ngay cả trong trường hợp nhân dân không trực tiếp thông qua Hiến pháp thì vẫn có thể khẳng định rằng hành vi bỏ phiếu của cử tri đồng nghĩa với việc cử tri trao quyền lực của mình cho người mình chọn.

8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tóm lại, bầu cử trước hết là một loại hoạt động xã hội mang tính lựa chọn của con người. Nó phát triển cùng với quá trình phát triển của con người và bầu cử ngày càng mang tính chính trị - pháp lý sâu sắc. Thông qua bầu cử, ý chí của người dân được “chuyển hóa” sang cơ quan đại diện. Có thể nói, bầu cử không những quyết định ứng cử viên, đảng phái chính trị, lực lượng xã hội nào được bầu chọn mà nó còn quyết định cách thức chuyển hóa quyền lực từ nhân dân sang người đại diện.

Kết quả của bầu cử phản ánh tỷ lệ “thu phục” niềm tin đối với cử tri của các đảng phái chính trị, lực lượng chính trị và “biến” tương quan đó thành “ghế” trong cơ quan đại diện [2, tr. Vị trí, vai trò của bầu cử Thứ nhất, bầu cử là nền tảng của dân chủ, có vai trò đặc biệt quan trọng đối với việc kiến tạo chế độ dân chủ [38, tr. Một chế độ chỉ được coi là dân chủ khi và chỉ khi có các cuộc bầu cử. Đó là bởi bầu cử cho phép người dân không chỉ trao quyền cho những người đại diện thay mặt mình quản lý xã hội mà còn là công cụ quan trọng để nhân dân giám sát quyền lực nhà nước, chế ngự sự tha hóa, lạm quyền của bộ máy nhà nước.

UNESCO cũng đã khẳng định có bốn yếu tố cấu thành căn bản của một nền dân chủ, đó là: 1) Các quyền và tự do cơ bản của con người; 2) Các cuộc bầu cử tự do và công bằng; 3) Chính quyền công khai và chịu trách nhiệm giải trình; 4) Có sự hiện hữu của một xã hội dân chủ, hay nói cách khác là một xã hội “dân sự” [40]. Thông qua bầu cử, người dân có thể tự do lựa chọn những người thay mặt mình thực hiện quyền lực nhà nước và cũng chỉ những người được chọn lựa qua bầu cử mới trở thành đại diện cho nhân dân để thực thi quyền lực thay cho nhân dân. Nếu các nguyên tắc bầu cử được tuân thủ, bầu cử cho phép người dân chọn ra những đại diện tốt nhất về năng lực và tư cách theo ý nguyện của mình để ủy quyền điều hành đất nước. Mặt khác, việc tổ chức bầu cử định kỳ, có sự cạnh tranh giữa các ứng cử viên sẽ cho công chúng khả 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com năng phế truất những chính khách tha hóa, yếu kém và giám sát hành động của những chính khách khi đương chức thông qua kế hoạch, ý định điều hành đất nước mà họ nêu ra trong quá trình tranh cử.

Như vậy, bầu cử tạo điều kiện để người dân tạo dựng và kiểm soát bộ máy nhà nước hoạt động theo các tiêu chuẩn pháp quyền và dân chủ [7, tr. Thứ hai, bầu cử có vai trò hợp pháp hóa chính quyền, bảo đảm tính “chính danh” và sự ổn định của chính quyền. Bầu cử là cách thức lựa chọn những người thực thi quyền lực nhà nước thông qua bỏ phiếu phổ thông theo các thủ tục quy định trong Hiến pháp và pháp luật, trong đó mọi công dân đủ điều kiện đều có quyền tham gia, vì thế quyền lực của những người được lựa chọn có tính hợp pháp, từ đó tạo cơ sở cho cho sự ổn định của bộ máy chính quyền. Hội nghị an ninh và hợp tác châu Âu (Organization for Security and Co-operation in Europe - CSCE) đã khẳng định “ý chí của nhân dân thông qua bầu cử định kỳ và chân thực là nền tảng cho thẩm quyền và tính hợp pháp của quyền lực nhà nước” [39].

Trong thế giới hiện đại, chính quyền thành lập không qua bầu cử, như bằng đảo chính quân sự, bất luận dù nhằm mục đích gì (kể cả được coi là chính đáng, như chính quyền quá “thối nát”), thường không được các quốc gia, các tổ chức quốc tế công nhận, hoặc có chăng thì sự thừa nhận hết sức dè dặt. Ngược lại, một chính quyền do người dân thành lập thông qua bầu cử theo những nguyên tắc tiến bộ: tự do, công bằng và trung thực, thì về nguyên tắc, chính quyền đó được coi là hợp pháp và được sự thừa nhận của cộng đồng quốc tế [20, tr. Chỉ khi một chính quyền được thiết lập nên bằng bầu cử thực chất, chính quyền đó mới được người dân trong nước và cộng đồng quốc tế công nhận, do đó mới có thể tồn tại, hoạt động ổn định, lâu dài. Thứ ba, bầu cử là phương thức nhằm bảo đảm các quyền tự do dân chủ của nhân dân, gồm quyền bỏ phiếu, quyền ứng cử, quyền vận động tranh cử, 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quyền tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, lập hội.

và cao nhất là quyền được lựa chọn và thay đổi chính quyền. Những quyền này thuộc nhóm quyền về chính trị, dân sự đã được ghi nhận trong luật nhân quyền quốc tế và Hiến pháp của hầu hết các quốc gia trên thế giới. Một số trong các quyền này không thể thực hiện được nếu không có bầu cử (ví dụ: quyền bỏ phiếu, quyền ứng cử, quyền vận động tranh cử.); số khác (ví dụ: quyền tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, lập hội.) tuy có thể thực hiện trong nhiều bối cảnh, song bầu cử vẫn là cơ hội cho phép các quyền này được thể hiện một cách tập trung, mạnh mẽ và sâu đậm nhất [7, tr. Các nguyên tắc bầu cử phổ biến trên thế giới Các nguyên tắc bầu cử là yếu tố quyết định chế độ bầu cử của một nước có tiến bộ, minh bạch và hiệu quả hay không.

Năm nguyên tắc bầu cử phổ biến hiện nay được nhiều nước trên thế giới áp dụng là nguyên tắc tự do, phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. Các nguyên tắc này không những thống nhất mà còn có mối quan hệ biện chứng chặt chẽ với nhau, là yếu tố bảo đảm cho các cuộc bầu cử khách quan, dân chủ và tiến bộ. Thứ nhất, nguyên tắc bầu cử tự do. Bầu cử tự do là một nguyên tắc được ghi nhận trong Hiến pháp của nhiều quốc gia.

Tuy nhiên, nội hàm của nguyên tắc này cũng được hiểu ít nhiều khác nhau. Cách hiểu thứ nhất đề cập đến ý chí tự nguyện của người dân khi tham gia vào tiến trình bầu cử.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ