Phần mở đầu, Phần nội dung, Phần kết luận. Phần nội dung gồm 3 chƣơng. Cụ thể: Chƣơng 1: Cơ sở khoa học của việc xây dựng hệ thống bài tập chữa lỗi câu cho sinh viên Trƣờng Cao đẳng Kinh tế Kĩ thuật Hải Dƣơng Chƣơng 2: Hệ thống bài tập chữa lỗi câu theo quan điểm giao tiếp cho sinh viên Trƣờng Cao đẳng Kinh tế Kĩ thuật Hải Dƣơng Chƣơng 3: Thể nghiệm sƣ phạm. 21 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP CHỮA LỖI CÂU CHO SINH VIÊN TRƢỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ KĨ THUẬT HẢI DƢƠNG THEO QUAN ĐIỂM GIAO TIẾP 1.
Cơ sở ngôn ngữ học 1.1 Câu trong hệ thống ngôn ngữ 1. Phân biệt câu với phát ngôn Cho đến nay, đã có rất nhiều định nghĩa về câu. Có những định nghĩa nhằm bao quát các đặc trƣng cơ bản của câu, có những định nghĩa chủ yếu nhằm chỉ ra những đặc trƣng quan trọng nhất, giúp ta phân biệt câu với những đơn vị ngôn từ ở cấp độ trên câu và dƣới câu. Hiện tƣợng này cũng dễ hiểu bởi trong đơn vị câu vốn chứa khá nhiều vấn đề khác nhau.
Dƣới đây, chúng tôi xin dẫn một vài định nghĩa về câu: Ngay từ thế kỉ III- II TCN, học phái ngữ pháp Alêchxăngđria đã nêu định nghĩa: “Câu là sự tổng hợp các từ biểu thị một tƣ tƣởng trọn vẹn” [8]. Các tác giả Nguyễn Thiện Giáp – Đoàn Thiện Thuật – Nguyễn Minh Thuyết trong “Dẫn luận ngôn ngữ học” định nghĩa: “Câu là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất có khả năng thông báo một sự việc, một ý kiến, một tình cảm hoặc một cảm xúc”. Trong cuốn “Câu đơn Tiếng Việt” (NXBGD, Hà Nội 1987) tác giả Diệp Quang Ban quan niệm: “Câu là cái tƣơng đối ổn định, nằm trong các phát ngôn cụ thể qua việc nghiên cứu chúng. Chính cái tính ổn định tƣơng đối 22 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com giúp ta “giữ” phát ngôn lại ở cái “thế đứng yên” để mà nghiên cứu, để mà phân tích và phát hiện ra cái gọi là câu”.
Gần đây nhất, trong cuốn “Ngữ pháp tiếng Việt” tác giả Diệp Quang Ban đã đƣa ra cách định nghĩa về câu nhƣ sau: “Câu là đơn vị nghiên cứu của ngôn ngữ có cấu tạo ngữ pháp (bên trong và bên ngoài) tự lập và ngữ điệu kết thúc mang một ý nghĩa tƣơng đối trọn vẹn hay thái độ, sự đánh giá của ngƣời nói, giúp hình thành và biểu hiện, truyền đạt tƣ tƣởng, tình cảm. Câu đồng thời là đơn vị thông báo nhỏ nhất bằng ngôn ngữ”. Tác giả Nguyễn Thị Thìn trong cuốn “Câu Tiếng Việt và nội dung dạy học câu ở trƣờng phổ thông” đã đƣa ra cách hiểu về câu nhƣ sau: “Câu là đơn vị ngôn từ nhỏ nhất có chức năng thông báo nhỏ nhất đƣợc dùng vào việc giao tiếp hàng ngày”. Nhìn chung, các định nghĩa trên đều thể hiện đƣợc một điểm chung: Câu là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất, có chức năng thông báo và là đối tƣợng của ngữ pháp học.
Ngữ pháp ngôn ngữ học truyền thống khi nghiên cứu câu chủ yếu tìm hiểu những quy tắc cấu tạo câu của một ngôn ngữ. Quy tắc cấu tạo câu phụ thuộc vào bản thân các từ, quan hệ giữa các từ và vai trò của chúng khi phối hợp để tạo câu cũng nhƣ phƣơng thức tổ chức các từ thành nhóm từ để thành câu, đến các kiểu câu xét theo thành phần cấu tạo cũng nhƣ xét theo mục đích phát ngôn. Ngữ pháp văn bản ra đời đƣa ra câu trả lời cho vấn đề: Liệu trên cấp độ câu còn cấp độ ngôn ngữ nào nữa không? Đã có một thời gian dài trong ngôn ngữ học tồn tại một quan niệm cho rằng: Câu là đơn vị cao nhất của ngôn ngữ. Ngữ pháp văn bản ngày càng phát triển đã khẳng định trên câu còn có 23 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Văn bản mới là đơn vị có thể hoàn thành trọn vẹn nhất chức năng tƣ duy và giao tiếp của ngôn ngữ. Câu chỉ là đơn vị thông báo nhỏ nhất của ngôn ngữ, còn những đơn vị khác ngoài câu tự bản thân chúng không có tính thông báo. Ngữ pháp văn bản ra đời đã nảy sinh thuật ngữ mới là phát ngôn. Vậy giữa câu và phát ngôn có gì khác nhau? Ranh giới để phân biệt câu và phát ngôn thật không dễ dàng.
Theo các tác giả Nguyễn Thiện Giáp (chủ biên) – Đoàn Thiện Thuật – Nguyễn Minh Thuyết trong cuốn “Dẫn luận ngôn ngữ” cho rằng: quan hệ giữa câu và phát ngôn cũng tƣơng tự nhƣ quan hệ giữa hình vị và hình tố, giữa từ và các dạng thức cụ thể của từ. Khi nói câu, tức là đặt nó vào cƣơng vị của một đơn vị ngôn ngữ, vừa mang tính cụ thể vừa mang tính khái quát. Mô hình câu tồn tại một cách tĩnh tại và bất biến. Còn khi nói phát ngôn, có nhiều cách hiểu khác nhau.
Ngữ dụng học cho rằng, phát ngôn gắn liền với hành động tƣơng ứng với mục đích, hay phát ngôn là sự cụ thể hoá câu trong văn bản. Theo quan điểm của ngữ pháp chức năng, phát ngôn đƣợc xác định là đơn vị của lời nói, có thể tƣơng đƣơng với câu trong sự phụ thuộc trực tiếp vào ngữ cảnh. Tác giả Diệp Quang Ban trong cuốn “Ngữ pháp tiếng Việt” [6] cho rằng: “Phát ngôn đƣợc hiểu là một khúc đoạn của lời do một ngƣời nói phát ra có quãng im lặng về phía trƣớc và về phía sau trong phần lời nói của ngƣời nói đó, tức là một mẩu trong hành vi ngôn ngữ có một độ dài nào đó, và không xây dựng sự phân tích ngôn ngữ học với nó, mà thƣờng dùng nó làm tài liệu cho sự phân tích đó”. Tác giả Nguyễn Thị Lƣơng trong cuốn “Câu tiếng Việt” [26] quan niệm: “Câu xét trong cách sử dụng, mỗi câu luôn gắn với một tình huống cụ thể, nhằm một mục đích giao tiếp cụ thể, biểu hiện một ý nghĩa cụ thể.
Câu cụ thể đó gọi là phát ngôn. Nói rõ hơn, phát ngôn chính là câu trong hoạt động giao tiếp”. Khi 24 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com bàn về mối quan hệ giữa câu và phát ngôn tác giả Diệp Quang Ban đã đƣa ra những bình diện khác nhau để phân biệt câu và phát ngôn, trong đó đáng chú ý nhất là bình diện: xét mối quan hệ giữa phát ngôn và tình huống giao tiếp. Tác giả khẳng định: Nếu nhƣ câu với tƣ cách là đơn vị cấu trúc lớn nhất của hệ thống ngôn ngữ đƣợc xem xét thoát li hoàn cảnh nói năng.
Tuy nhiên, chẳng ai có khả năng xem xét từng phát ngôn cụ thể gắn với từng tình huống cụ thể mà chỉ nêu đƣợc những tình huống hay. Nhƣ vậy, các quan niệm trên đều thể hiện một điểm chung: phát ngôn là đơn vị thuộc về lời nói. Ở đây phát ngôn đƣợc hiểu là tƣơng đƣơng với câu bởi trong thực tiễn giao tiếp câu thƣờng đƣợc dùng làm một phát ngôn ngắn hay phát ngôn thƣờng có độ dài bằng câu chứ không phải là câu cấu trúc.Vì vậy đối tƣợng xem xét ở đây là câu – phát ngôn hoặc phát ngôn – câu và có thể gói gọn là câu, hiểu là câu trong hiện thực giao tiếp. Nói cách khác, câu xét trong tình huống sử dụng cụ thể, trong hoạt động giao tiếp.
Với cách hiểu khái niệm câu – phát ngôn nhƣ vậy, câu sẽ đƣợc xem xét về mặt cấu tạo của câu ở cả hai phƣơng diện cấu trúc lẫn những yếu tố có mặt trong câu nhƣng không thuộc cấu trúc cú pháp của câu. Đồng thời, cần đƣa cả một số vấn đề thuộc mặt ngữ nghĩa và thuộc mặt sử dụng của câu vào xem xét để làm rõ thêm về câu, vì trong thực tế sử dụng ba mặt: kết học, nghĩa học và dụng học tích hợp với nhau, hỗ trợ lẫn nhau tạo cho ta một câu (phát ngôn) tự nhiên, nằm trong cuộc sống tự nhiên của ngôn ngữ. Quá trình tìm hiểu cho thấy những đặc trƣng cơ bản của câu – phát ngôn nhƣ sau: - Về phƣơng diện sử dụng (chức năng giao tiếp), câu đƣợc dùng để thực hiện hành động nói cơ sở (hành động nói đƣợc thực hiện chỉ bằng một câu). Câu đƣợc dùng nhƣ vậy có thể coi là một phát ngôn nhỏ nhất.
25 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Về phƣơng diện nghĩa: Câu có nội dung là sự việc, hiện tƣợng đƣợc nói tới, phản ánh thái độ, cách đánh giá của ngƣời nói đối với sự việc đƣợc nói tới và đối với ngƣời nghe; kiểu nghĩa có quan hệ chặt chẽ với cấu trúc cú pháp hình thức của câu và có quan hệ chặt chẽ với việc sử dụng câu. - Về phƣơng diện hình thức: Câu có một cấu trúc cú pháp và một ngữ điệu kết thúc. Nhƣ vậy để hiểu và phân tích câu trong hoạt động giao tiếp sẽ phải vận dụng ba đặc trƣng nêu trên. Ví dụ: “Sửu ơi! Hình nhƣ Giáp về rồi à? Mình có chút việc muốn gặp Giáp” (Dẫn theo ví dụ của Diệp Quang Ban).
Đoạn lời nói đƣợc gạch chân là một câu – phát ngôn. Các đặc trƣng cơ bản của nó nhƣ sau: + Về chức năng giao tiếp, nó diễn đạt hành động ngôn ngữ hỏi. Ngƣời nói dùng câu này để hỏi, tức là ngƣời nói muốn ngƣời nghe cung cấp cho mình cái tin mà mình chƣa biết. + Về nội dung ý nghĩa, nó chứa ý nghĩa về mặt “Giáp về” và ngƣời nói cho rằng việc này đã xảy ra rồi.
Đồng thời, trong câu còn chứa thái độ của ngƣời nói đối với sự việc này là chƣa tin hẳn, thể hiện qua từ “hình nhƣ”, một cách nói “rào đón” theo quan điểm dụng học. Từ “à” cho biết quan điểm giữa ngƣời nói và ngƣời nghe là quan hệ thân hữu. Hai nội dung này thuộc thành phần nghĩa tình thái của phát ngôn. + Về hình thức, nó là đoạn lời nói có cấu trúc cú pháp gồm chủ ngữ là “Giáp”, vị ngữ là “về rồi” và một ngữ điệu kết thúc.
26 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tóm lại, cách hiểu câu nhƣ trên là hiểu câu – phát ngôn, câu trong hoạt động giao tiếp mà không chỉ giới hạn ở cấu trúc cú pháp hình thức của nó. Các thành phần ngữ pháp của câu tiếng Việt Khi phân tích câu, ta cần phân tích các thành phần ngữ pháp của câu tiếng Việt (gồm cả thành phần chính và thành phần phụ của câu). Trƣớc khi xác định các thành phần ngữ pháp của câu, ta cần phải biết thành phần ngữ pháp của câu là gì?