Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIAO DỊCH DÂN SỰ VÔ HIỆU VÀ HẬU QUẢ PHÁP LÝ CỦA GIAO DỊCH DÂN SƯ VÔ HIỆU 1. Khái niệm và đặc điểm của giao dịch dân sự 1. Khái niệm giao dịch dân sự Giao dịch dân sự - một dạng mối quan hệ qua lại, tương tác, trao đổi "giữa người với người" - là phương tiện pháp lý quan trọng để cho các công dân thỏa mãn nhu cầu vật chất, tinh thần trong sản xuất kinh doanh cũng như sinh hoạt tiêu dùng. Đây là một trong những loại quan hệ pháp luật quan trọng được pháp luật điều chỉnh.
Thực tiễn cho thấy, khi xã hội càng phát triển thì giao dịch dân sự càng đa dạng, phong phú, nhu cầu hoàn thiện chế định pháp luật về giao dịch dân sự càng trở nên cần thiết. Ở Việt Nam, chế định giao dịch dân sự được quy định trong chương 8, phần thứ nhất của BLDS nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 2015. 116 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.” Cách giải thích giao dịch dân sự gồm hợp đồng và hành vi pháp lý đơn phương có hệ quả pháp lý là làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự như vậy đã được quy định nhất quán từ Bộ luật dân sự năm 1995 (Điều 130), sau đó được kế thừa trong Bộ luật dân sự năm 2005 (Điều 121). Hợp đồng có thể diễn ra giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với pháp nhân hay giữa các pháp nhân, tổ chức với nhau, được thiết lập trên cơ sở các bên tự do thỏa thuận, tự nguyện, bình đẳng nhằm đạt mục đích nhất định về vật chất hoặc tinh thần nhưng không trái với pháp luật và đạo đức xã hội.
6 Hành vi pháp lý đơn phương là hoạt động thể hiện ý chí của một bên nhằm làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự mà không phụ thuộc vào ý chí của bên kia. Ví dụ, một người trước khi chết lập di chúc hợp pháp để lại cho người khác di sản của mình. Bằng hành vi lập di chúc này, người đó đã thể hiện ý chí cá nhân của mình để định đoạt tài sản mà họ có. Trên thực tế, thông thường hành vi pháp lý đơn phương do một chủ thể thực hiện, nhưng cũng có thể do nhiều chủ thể thực hiện (nhiều cá nhân hay một tổ chức cùng hứa thưởng.
Trong nhiều trường hợp hành vi pháp lý đơn phương chỉ làm phát sinh quyền, nghĩa vụ dân sự theo các điều kiện. Nếu không đáp ứng điều kiện đó thì không thể coi đó là giao dịch dân sự được. Đặc điểm giao dịch dân sự Giao dịch dân sự khi là hành vi pháp lý hợp pháp thể hiện ý chí của một hoặc nhiều người nhằm làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự. Giao dịch dân sự có đặc điểm chung như sau: Thứ nhất: Phải thể hiện được ý chí của của các bên tham gia giao dịch.Giao dịch dân sự đóng một vai trò quan trọng trong cuộc sống của mỗi chủ thể, nó diễn ra hàng ngày, hàng giờ để đáp ứng nhu cầu đa dạng của con người.
Khi tham gia giao dịch, các chủ thể đều có mục đích nhất định nhằm thỏa mãn nhu cầu sản xuất, kinh doanh hoặc sinh hoạt, tiêu dùng. Để đạt được mục đích đó các chủ thể phải thể hiện được ý chí của mình, "sự thể hiện ý chí là hành vi có ý chí nhằm thu một kết quả nhất định và là yếu tố bắt buộc của giao dịch pháp lý" [3, tr. 131Bình luận Bộ luật dân sự]. Thứ hai: Các bên tham gia giao dịch phải tự nguyện.
Đây là sự phản ánh tính thống nhất ý chí của các bên. Đây là một yếu tố quan trọng để thiết lập nên giao dịch. Trong giao dịch dân sự nếu thiếu yếu tố tự nguyện thì không thể coi là tồn tại giao dịch. Bởi lẽ, giao dịch dân sự là giao dịch giữa 7 các chủ thể bình đẳng nhau về địa vị pháp lý.
Các bên này khi tham gia giao dịch đều nhằm hướng đến một mục đích nhất định xuất phát từ nhu cầu về vật chất hay tinh thần của chính bản thân mình. Để có được mục đích đó người tham gia giao dịch phải có năng lực hành vi dân sự, để có thể thể hiện một cách dứt khoát, rõ ràng ý chí, sự tự nguyện của mình. Đối với những người bị hạn chế năng lực hành vi hoặc bị mất năng lực hành vi, họchỉ được tham gia một số giao dịch nhất định. 55-57 Bình luận Bộ luật dân sự].
Thứ ba: Chế tài trong giao dịch mang tính chất bắt buộc nhưng cũng rất linh hoạt. Đây là nguyên tắc cơ bản của luật dân sự nói chung cũng như về giao dịch dân sự nói riêng. Vấn đề này hiện nay đang có hai xu hướng khác nhau. Xu hướng thứ nhất cho rằng, đơn giản hóa việc quy tắc, giảm bớt số lượng, sự phức tạp các điều luật mang tính chất chung và có kết cấu một cách đơn giản nhưng mạch lạc, dễ hiểu.
Xu hướng thứ hai thì cho rằng, cần quy định nhiều điều khoản chi tiết rõ ràng, sẽ làm cho pháp luật phong phú hơn. Ở nước ta hiện nay tuy đã công nhận án lệ là nguồn của pháp luật giao dịch nhưng việc áp dụng án lệ không hề dễ dàng. Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 02/6/2005 đã xác định “Tòa án nhân dân tối cao có nhiệm vụ tổng kết kinh nghiệm xét xử, hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật, phát triển án lệ và xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm”. Tuy nhiên, thật sự không đơn giản để chúng ta đạt đến hiểu biết chung thống nhất về khái niệm, bản chất cũng như cách thức áp dụng án lệ trong hệ thống pháp luật Việt Nam.
Đặc trưng của hệ thống pháp luật nước ta có đặc điểm một hệ thống dân luật thành văn (the civil law system) và trong đó, trong một thời gian dài trước đây, án lệ không được thừa nhận là nguồn luật chính thức. Thứ tư: Nội dung của giao dịch không được trái với pháp luật và đạo đức xã hội. Trong giao dịch dân sự, khi tham gia giao dịch các chủ thể đều phải nhằm đạt được một mục đích nhất định và mong muốn mục đích của 8 mình trở thành hiện thực. Tuy nhiên, nếu nội dung hoặc mục đích của giao dịch là trái pháp luật và đạo đức xã hội thì tòa án không thể công nhận hiệu lực pháp lý vì khi đó giao dịch sẽ xâm phạm tới trật tự công cộng, xâm phạm lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác.
Các yếu tố xác định hiệu lực pháp lý của giao dịch dân sự Giao dịch dân sự là hành vi pháp lý đơn phương hoặc hợp đồng của cá nhân, pháp nhân và của các chủ thể khác nhằm làm phát sinh thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự" Điều 116 Bộ luật DS năm 2015. Tuy nhiên, không phải bất kỳ hành vi pháp lý nào làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự đều là giao dịch dân sự hợp pháp. Một giao dịch muốn được pháp luật dân sự công nhận và bảo vệ quyền, nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch đó thì hành vi của người tham gia giao dịch phải trong khuôn khổ pháp luật cho phép hoặc công nhận. Theo pháp luật Việt Nam, một giao dịch muốn được pháp luật dân sự công nhận và bảo vệ phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện quy định tại Điều 117 BLDS năm 2015.
Theo đó, iao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây: a) Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập; b) Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện; c) Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định. Khái niệm và đặc điểm của giao dịch dân sự vô hiệu 1. Khái niệm giao dịch dân sự vô hiệu Giao dịch dân sự vô hiệu là giao dịch dân sự mà các chủ thể tham gia giao dịch không tuân thủ theo các điều kiện mà pháp luật quy định đối với 9 giao dịch dân sự có hiệu lực pháp luật.
Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu chính là việc không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia giao dịch. Đối với một giao dịch dân sự vô hiệu, nhìn chung, cho dù các bên tham gia giao kết đã thực hiện hoặc thực hiện một phần quyền và nghĩa vụ theo cam kết của các bên thì việc thực hiện ấy vẫn không được công nhận về mặt pháp lý và các cam kết không có giá trị bắt buộc đối với các bên kể từ thời điểm các bên xác lập giao dịch đó. Đặc điểm chung của giao dịch dân sự vô hiệu là không đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp luật. Khi giao dịch vô hiệu các bên tham gia giao dịch phải gánh chịu hậu quả pháp lý nhất định có thể bất lợi về vật chất và tinh thần, như không đạt được mục đích đã được xác định, nếu chưa thực hiện thì sẽ không được thực hiện giao dịch nữa; nếu đang thực hiện thì phải chấm dứt việc thực hiện đó để quay lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận (Điều 131 BLDS năm 2015).
Giao dịch dân sự vô hiệu thường có những đặc điểm chung như sau: Thứ nhất, giao dịch ấy không đáp ứng một trong các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự mà pháp luật đã quy định. Chẳng hạn, giao dịch dân sự vô hiệu có thể là do giao dịch ấy không đáp ứng điều kiện về năng lực hành vi dân sự của người tham gia giao dịch. Để bảo vệ trật tự xã hội, bảo vệ quyền lợi của người tham gia giao dịch, pháp luật dân sự căn cứ vào khả năng sinh học của con người, địa vị pháp lý của các cá nhân và pháp nhân để đặt ra điều kiện cho phép các tham gia với tư cách là chủ thể của giao dịch dân sự. Khi pháp luật quy định các chủ thể tham gia giao dịch phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự.