CHƯƠNG 1: MỘT SỐ HỌC THUYẾT VỀ ĐỊA - CHÍNH TRỊ 1. Học thuyết sức mạnh biển Alfred Thayer Mahan (1840 - 1914) là một nhà lý thuyết chiến lược hải quân người Mỹ. Năm 1890, ông đã cho sản xuất cuốn sách “Ảnh hưởng của quyền lực đại dương” (The Influence of Sea Power upon History, 1660 - 1783), trong đó ông đề cao vai trò sức mạnh biển trong chiến lược phát triển và thực chất là bành trướng của một quốc gia. Mahan coi vùng biển quốc gia như biên thuỳ, bảo vệ đất nước trước sự xâm lăng từ bên ngoài.
Ông cũng cho rằng, mặc dù biển cả có những mối nguy hiểm nhưng giao thông và buôn bán bằng đường biển vẫn dễ dàng hơn và rẻ hơn so với đường bộ. Cũng theo Mahan, cần phải có một lực lượng hải quân xuất phát từ sự tồn tại của việc vận tải bằng một đội tàu biển thương mại hòa bình. Alfred Mahan chỉ ra 6 điều kiện để một quốc gia có thể trở thành cường quốc biển, đó là: (1) Có vị trí địa lý thuận lợi; (2) Có bờ biển có thể sử dụng được, nhiều tài nguyên thiên nhiên và khí hậu thuận lợi; (3) Có lãnh thổ đủ rộng; (4) Có dân số đủ đông để tự vệ; (5) Có xã hội hướng ra biển và thương mại đường biển; (6) Có một chính phủ đủ năng lực để làm chủ biển.1 Nội dung học thuyết sức mạnh biển: Kiểm soát quyền lực trên biển là nhân tố quyền lực và tiêu chí quan trọng cho sự phồn vinh của quốc gia; những quốc gia có lối vào trên biển sẽ dễ trở thành cường quốc hơn các quốc gia trên lục địa; ai khống chế được biển sẽ trở thành cường quốc thế giới. Vấn đề then chốt để khống chế biển là chiếm các eo biển và các con đường huyết mạch.
Như vậy, Mahan đã có sự đột phá trong tư duy khi cho rằng không phải sức mạnh trên đất liền mà chính sức mạnh trên biển mới giúp các nước trở thành cường quốc. Trong quan điểm của ông, sức mạnh biển của một quốc gia chủ yếu được quy giản thành sức mạnh hải quân. Muốn có sức mạnh biển thì phải có lực lượng hải quân hùng mạnh cùng với mạng lưới các căn cứ địa trên biển. Trung Quốc đang học Mỹ trở thành ‘cường quốc biển’.
Nhận từ https://tuoitre.vn/trung- quoc-dang-hoc-my-tro-thanh-cuong-quoc-bien-1351885.htm, truy cập ngày 22/4/2021. 12 Downloaded by BACH VAN (bachvan12@gmail.com) lOMoARcPSD|38895030 Học thuyết trên đã đưa Mahan trở thành lý thuyết gia lớn về biển của thế giới, có ảnh hưởng sâu sắc đến chiến lược phòng vệ và bành trướng của nhiều nước, trong đó có Hoa Kỳ, Trung Quốc và Nhật Bản. Đáng chú ý nhất có lẽ là Hoa Kỳ. Hoa Kỳ đặc biệt quan tâm đến các lý thuyết địa - chính trị, coi trọng sức mạnh biển.
Trên tinh thần đó, lý thuyết của Alfred Mahan về sức mạnh biển đã nhanh chóng được Hoa Kỳ áp dụng để xây dựng một lực lượng hải quân hùng mạnh nhất thế giới, và bán đảo Triều Tiên là nơi có vị trí thuận lợi để Hoa Kỳ xây dựng các căn cứ quân sự nhằm phát triển lực lượng hải quân của mình. Có thể nói, chính sức mạnh biển đã giúp cho Hoa Kỳ vươn lên thành một siêu cường hàng đầu thế giới. Điều này đã chứng tỏ được vai trò quan trọng của học thuyết về sức mạnh biển trong chiến lược và chính sách phát triển của một quốc gia biển. Học thuyết “vùng rìa” Nicholas John Spykman (1893 - 1943) là một nhà địa - chiến lược người Mỹ gốc Hà Lan, cha đẻ của thuyết bao vây khoanh vùng trong lý luận địa - chính trị.
Ông cũng là một trong những nhà sáng lập trường phái chủ nghĩa hiện thực cổ điển trong chính sách đối ngoại của Mỹ. Trong tác phẩm “Chiến lược của Mỹ trong nền chính trị thế giới” (America’s Stategy in World Politics - 1942), ông cho rằng chủ nghĩa biệt lập dựa vào đại dương để bảo vệ nước Mỹ đã kết thúc, đến lúc Mỹ phải chỉ huy việc ngăn chặn bá quyền. Cân bằng quyền lực ở châu Âu đã ảnh hưởng đến an ninh nước Mỹ, do đó Mỹ cần ngăn chặn châu Âu, thiết lập quyền lãnh đạo quanh vùng rìa châu Âu. Dựa trên học thuyết về sức mạnh đại dương của Mahan và thuyết về “vùng đất trái tim” của Mackinder, Spykman đã đưa ra học thuyết “Vành đai đất vùng ven” trong tác phẩm “Địa lý của hòa bình”, xuất bản năm 1944 (The Geography of the Peace - 1944).
Bên cạnh đó, tác phẩm này cũng nhấn mạnh đến mối quan hệ giữa địa lý với lịch sử và chính trị trong tương tác quyền lực ở khu vực ngoại vi và trung tâm. Về lý thuyết “vùng rìa” của Spykman: Vùng rìa là vùng đệm giữa sức mạnh vùng trung tâm với sức mạnh đại dương. An ninh vùng rìa phụ thuộc vào sự chống đỡ của hai luồng sức mạnh đó. Vùng rìa được chia thành 3 khu vực: vùng đất ven biển ở châu Âu; 13 Downloaded by BACH VAN (bachvan12@gmail.com) lOMoARcPSD|38895030 vùng sa mạc Ả Rập - Trung Đông; vùng chịu ảnh hưởng gió mùa châu Á (châu Á - Thái Bình Dương).2 Vùng rìa có vai trò quyết định trong việc kiềm chế vùng trung tâm, vì thế nếu như kiểm soát được vùng rìa châu Âu, vùng Trung Đông, vùng Châu Á - Thái Bình Dương, thì các nước lớn như Mỹ có thể hạn chế được sức mạnh ở vùng trung tâm Âu - Á.
Spykman đã nhận xét rằng sự tồn tại của vùng rìa sẽ đem đến một uy quyền toàn cầu, dựa vào đó, ông kết luận “Ai kiểm soát vùng rìa sẽ khống chế được lục địa Âu - Á, ai khống chế được lục địa Âu - Á sẽ làm chủ vận mệnh của thế giới”. Ngoài ra, tầm quan trọng của vùng rìa còn căn cứ vào số lượng nhân khẩu, tài nguyên thiên nhiên và sự phát triển công nghiệp. Vai trò quan trọng của vùng rìa cũng chính là lý do bán đảo Triều Tiên trở thành một phần không thể thiếu trong chiến lược địa - chính trị của các quốc gia. Như vậy, cùng với quan điểm của Mahan về sức mạnh biển, tư tưởng địa - chính trị, địa - chiến lược của Spykman cũng đã ảnh hưởng sâu sắc đến sự hình thành các chính sách của các nước lớn, đặc biệt là Hoa Kỳ, Trung Quốc và Nhật Bản.
Tìm hiểu một số lý thuyết về địa - chính trị. Nhận từ https://tcttv.vn/1462/39939/69623/621143/nghien-cuu-trao-doi/tim-hieu-mot-so-ly-thuyet-ve-dia- chinh-tri, truy cập ngày 23/4/2021. 14 Downloaded by BACH VAN (bachvan12@gmail.com) lOMoARcPSD|38895030 CHƯƠNG 2: KHÁI QUÁT VỀ VẤN ĐỀ HẠT NHÂN TRÊN BÁN ĐẢO TRIỀU TIÊN 2. Lịch sử chương trình phát triển vũ khí hạt nhân của Bắc Triều Tiên Sau khi chiến tranh Triều Tiên (1950 - 1953) kết thúc, Bắc Hàn bắt đầu quan tâm đến việc nghiên cứu và sở hữu vũ khí hạt nhân.
Năm 1958, Liên Xô giúp Triều Tiên xây dựng Trung tâm hạt nhân Yongbyon. Sự trợ giúp này xuất phát từ mục tiêu hòa bình và dân sinh mà Liên Xô muốn nhắm đến. Sau khi nhận được sự giúp đỡ của Liên Xô, năm 1965, Triều Tiên đã cho ra đời và hoạt động một trung tâm nghiên cứu hạt nhân với quy mô nhỏ. Kể từ cuối năm 1980, Triều Tiên đã có thể độc lập xây dựng những cơ sở hạt nhân bí mật, phát triển vũ khí hạt nhân, tên lửa đạn đạo và phổ biến những năng lực này.
Triều Tiên còn xây dựng mối quan hệ với các quốc gia ở khu vực Trung Đông để phục vụ cho việc nghiên cứu, chế tạo. Năm 1984, Triều Tiên chế tạo thành công và phóng thử tên lửa Scud-B. Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề, các nước lớn bao gồm cả Mỹ và Liên Xô đã buộc Triều Tiên phải tham gia Hiệp ước Không phổ biến vũ khí hạt nhân (Nuclear Non- proliferation Treaty - NPT). Đến cuối năm 1985, Triều Tiên chính thức gia nhập NPT nhưng vẫn âm thầm nghiên cứu và hoàn thiện cách chế tạo loại vũ khí hủy diệt hàng loạt này.
Vào khoảng đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, các vệ tinh trinh sát của Mỹ đã phát hiện Bắc Triều Tiên bí mật sản xuất vũ khí hạt nhân ở căn cứ quân sự Yongbyon. Mỹ viện lý do Bắc Triều Tiên đã ký Hiệp ước Không phổ biến vũ khí hạt nhân để yêu cầu tiến hành kiểm tra, nhưng bị phía Bắc Triều Tiên từ chối. Đến năm 1992, Triều Tiên mới cho phép một nhóm chuyên gia của Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (International Atomic Energy Agency - IAEA) đến Trung tâm hạt nhân Yongbyon để kiểm tra. Tháng 10/1994, Mỹ và Triều Tiên ký thỏa thuận Hiệp định khung tại Geneve (Thụy Sĩ).
Nhờ vào cuộc thương lượng này, Triều Tiên chấp nhận tạm dừng thí nghiệm các tên lửa đạn đạo tầm xa. Tuy nhiên việc thực hiện các điều khoản trong hiệp định lại bị trì hoãn, một số điều khoản chưa được thực hiện và Triều Tiên bắt đầu bí mật khôi phục kế hoạch hạt nhân của mình. 15 Downloaded by BACH VAN (bachvan12@gmail.com) lOMoARcPSD|38895030 Ngày 31/8/1998, Triều Tiên bất ngờ phóng tên lửa Paektusan-1, Mỹ cho rằng đây là một cuộc thử nghiệm tên lửa liên lục địa. Họ tăng cường dò thám và phát hiện ra Triều Tiên có một cơ sở lớn nằm dưới lòng đất nên đã yêu cầu thanh sát nhưng bị phía Triều Tiên từ chối.
Ngày 17/11/2002, Triều Tiên tuyên bố họ đang sở hữu vũ khí hạt nhân và vũ khí hủy diệt. Ngày 25/12/2002, Triều Tiên rút hết toàn bộ thiết bị giám sát của IAEA trên các thiết bị hạt nhân của họ, trục xuất các thanh sát viên hạt nhân. Đến ngày 10/1/2003, Triều Tiên tuyên bố rút khỏi NPT, đồng thời tuyên bố nếu Mỹ dùng vũ lực với họ thì họ sẽ trả đũa bằng một cuộc tấn công hủy diệt với các nước xung quanh. Trước tình cảnh này, Mỹ đã phối hợp với Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc cô lập và gây sức ép về kinh tế, ngừng viện trợ, cự tuyệt yêu cầu của Triều Tiên để ép buộc Triều Tiên từ bỏ kế hoạch này.
Ngày 4/7/2006, Triều Tiên đã phóng thử nghiệm 6 tên lửa. Triều Tiên cũng tiếp tục thực hiện các cuộc thử hạt nhân lần lượt vào tháng 10/2006, tháng 5/2009, tháng 2/2013, tháng 1/2016, tháng 9/2016 và tháng 9/2017. Trải qua nhiều năm, vấn đề hạt nhân ở Triều Tiên vẫn chưa được giải quyết triệt để và trở thành mối đe doạ tiềm tàng đối với an ninh khu vực và thế giới. Kể từ khi Tổng thống Donald Trump nhậm chức, tần suất và mức độ các hành vi khiêu khích đến từ Triều Tiên tăng lên nhanh chóng.
Triều Tiên thường chủ động thử tên lửa vào những dịp quan trọng để gửi đi thông điệp của họ.