Khóa luận: Triển khai áp dụng Luật Thuế Thu nhập cá nhân tại Việt Nam

Trường Đại học Ngoại thương Hà Nội cung cấp chương trình đào tạo chất lượng cao, phát triển kỹ năng và kiến thức cho sinh viên trong lĩnh vực thương mại quốc tế.

Trường đại học

Hanoi Foreign Trade University

Chuyên ngành

Kinh Tế Đối Ngoại

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa Luận Tốt Nghiệp

2009

128
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN VÀ LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN CỦA VIỆT NAM

1.1. SƠ LƯỢC VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN

2. CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN TẠI VIỆT NAM

3. CHƯƠNG III: BIỆN PHÁP NHẰM TRIỂN KHAI HIỆU QUẢ LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN TẠI VIỆT NAM

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về Trường Đại học Ngoại thương Hà Nội

Trường Đại học Ngoại thương Hà Nội, hay còn gọi là Hanoi University of Foreign Trade, là một trong những cơ sở giáo dục hàng đầu tại Việt Nam. Trường được thành lập vào năm 1960 và đã nhanh chóng khẳng định vị thế của mình trong lĩnh vực giáo dục thương mại quốc tế. Với chương trình đào tạo đa dạng và chất lượng, trường đã thu hút hàng ngàn sinh viên trong và ngoài nước.

1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của trường

Trường Đại học Ngoại thương Hà Nội được thành lập với mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho nền kinh tế Việt Nam. Trải qua hơn 60 năm phát triển, trường đã không ngừng mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng đào tạo.

1.2. Chương trình đào tạo và các ngành học

Trường cung cấp nhiều chương trình đào tạo từ cử nhân đến thạc sĩ và tiến sĩ trong các lĩnh vực như kinh tế đối ngoại, quản trị kinh doanh, và quan hệ quốc tế. Các chương trình này được thiết kế để đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động trong nước và quốc tế.

II. Những thách thức trong giáo dục thương mại quốc tế tại Hà Nội

Mặc dù Trường Đại học Ngoại thương Hà Nội đã đạt được nhiều thành tựu, nhưng vẫn còn nhiều thách thức trong việc nâng cao chất lượng giáo dục thương mại quốc tế. Các vấn đề như sự thay đổi nhanh chóng của thị trường và nhu cầu của doanh nghiệp đang đặt ra áp lực lớn cho trường.

2.1. Sự cạnh tranh từ các trường đại học khác

Sự gia tăng số lượng các trường đại học tại Hà Nội đã tạo ra một môi trường cạnh tranh khốc liệt. Trường cần cải thiện chất lượng giảng dạy và nghiên cứu để thu hút sinh viên.

2.2. Thay đổi trong nhu cầu thị trường lao động

Nhu cầu của thị trường lao động đang thay đổi nhanh chóng, đòi hỏi trường phải thường xuyên cập nhật chương trình đào tạo để phù hợp với yêu cầu thực tế.

III. Phương pháp giảng dạy hiệu quả tại Trường Đại học Ngoại thương

Trường Đại học Ngoại thương Hà Nội đã áp dụng nhiều phương pháp giảng dạy hiện đại nhằm nâng cao chất lượng đào tạo. Các phương pháp này bao gồm học tập dựa trên dự án, thực hành thực tế và các chương trình trao đổi sinh viên quốc tế.

3.1. Học tập dựa trên dự án

Phương pháp học tập dựa trên dự án giúp sinh viên áp dụng lý thuyết vào thực tiễn, từ đó nâng cao khả năng giải quyết vấn đề và tư duy phản biện.

3.2. Chương trình trao đổi sinh viên quốc tế

Chương trình trao đổi sinh viên với các trường đại học quốc tế giúp sinh viên mở rộng tầm nhìn và trải nghiệm văn hóa, đồng thời nâng cao kỹ năng giao tiếp và làm việc trong môi trường đa văn hóa.

IV. Ứng dụng thực tiễn của chương trình đào tạo tại Trường

Chương trình đào tạo tại Trường Đại học Ngoại thương Hà Nội không chỉ cung cấp kiến thức lý thuyết mà còn chú trọng đến việc áp dụng thực tiễn. Sinh viên có cơ hội thực tập tại các doanh nghiệp lớn và tham gia vào các dự án thực tế.

4.1. Thực tập tại các doanh nghiệp lớn

Sinh viên được khuyến khích tham gia thực tập tại các công ty đa quốc gia, giúp họ có cái nhìn thực tế về môi trường làm việc và áp dụng kiến thức đã học.

4.2. Các dự án nghiên cứu và phát triển

Trường cũng tổ chức nhiều dự án nghiên cứu và phát triển, cho phép sinh viên tham gia vào các nghiên cứu thực tiễn, từ đó nâng cao kỹ năng nghiên cứu và phân tích.

V. Kết luận và tương lai của Trường Đại học Ngoại thương Hà Nội

Trường Đại học Ngoại thương Hà Nội đang trên đà phát triển mạnh mẽ và có nhiều cơ hội để nâng cao vị thế của mình trong lĩnh vực giáo dục thương mại quốc tế. Với những cải tiến trong chương trình đào tạo và phương pháp giảng dạy, trường sẽ tiếp tục là lựa chọn hàng đầu cho sinh viên trong và ngoài nước.

5.1. Định hướng phát triển trong tương lai

Trường sẽ tiếp tục mở rộng hợp tác quốc tế và cải thiện chất lượng đào tạo để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường lao động.

5.2. Tầm nhìn trở thành trường đại học hàng đầu khu vực

Mục tiêu của trường là trở thành một trong những trường đại học hàng đầu khu vực Đông Nam Á trong lĩnh vực giáo dục thương mại quốc tế.

24/07/2025
Hanoi foreign trade university

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương I: Tổng quan về thuế TNCN và Luật Thuế TNCN tại Việt Nam. Chương II: Thực trạng triển khai Luật Thuế TNCN tại Việt Nam. Chương III: Biện pháp nhằm triển khai hiệu quả Luật Thuế TNCN tại Việt Nam. Em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến cô giáo Tiến sĩ Đào Thị Thu Giang đã hết sức nhiệt tình giúp đỡ và hƣớng dẫn em hoàn thành bản khóa luận này.

Trong quá trình nghiên cứu do còn hạn chế về thời gian và kiến thức bài khóa luận còn có những thiếu sót nhất định, mong thầy cô và các bạn thông cảm và góp ý. Trân trọng cảm ơn! Hà Nội, ngày 10 tháng 5 năm 2009 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG I TỔNG QUAN VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN VÀ LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN CỦA VIỆT NAM 1. SƠ LƢỢC VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN 1. Lịch sử ra đời của thuế TNCN.

Lịch sử thuế TNCN trên thế giới. Thuế TNCN (TNCN) đã đƣợc áp dụng từ rất lâu ở các nƣớc phát triển. Thuế TNCN ra đời lần đầu tiên ở nƣớc Cộng hòa Hà Lan (Dutch Batavian Republic) vào năm 1797. Sau đó là ở Anh vào tháng 12 năm 1798 thuế TNCN đã đƣợc áp dụng nhƣ một hình thức thu tạm thời nhằm mục đích trang trải cho cuộc chiến chống lại Napoleon và đƣợc chính thức ban hành vào năm 1842.

Sau đó thuế TNCN đã nhanh chóng đƣợc lan truyền sang các nƣớc công nghiệp khác nhƣ: Đức (1808), Nhật (1887), Mỹ (1913 - đánh thuế thu nhập với những thu nhập hơn 800 $), Pháp (1914), Liên Xô (1922). Tại Châu á nhƣ Trung Quốc áp dụng năm 1936, Thái Lan năm 1939, Philipin năm 1945, Hàn Quốc năm 1948. Cho đến nay đã có 180 quốc gia áp dụng thuế TNCN.1 Tuy nhiên có thể nói hình thức sơ khai nhất của thuế TNCN lại xuất hiện đầu tiên ở Trung Quốc. Vào những năm 10 sau Công Nguyên, hoàng đế Minh Mạng của Trung Quốc đã ban hành một sắc thuế mới - thuế thu nhập, những chuyên gia và lao động có tay nghề cao phải nộp cho triều đình 10% lợi nhuận mà họ thu đƣợc.

1 Nguồn: website http://en.org/wiki/Income_tax 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hiện nay hầu hết các quốc gia trên thế giới đã áp dụng thuế TNCN. Các quốc gia có nền kinh tế thị trƣờng phát triển đều coi thuế TNCN là một trong những sắc thuế có tầm quan trọng đặc biệt trong việc huy động nguồn thu ngân sách, thực hiện phân phối công bằng xã hội và điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Thuế TNCN ở Việt Nam. Thời kỳ phong kiến: Ở Việt Nam trƣớc đây, trên 90% dân số là nông dân.

Hai sắc thuế chủ yếu với ngƣời nông dân là thuế ruộng (thuế điền) và thuế thân (thuế đinh). Thuế ruộng đã có từ thời nhà Ngô nhƣng đến các thời nhà Lý, Trần, Hồ mới đƣợc quy định rõ ràng, chặt chẽ. Thuế thân thực chất là thuế thu nhập đến thời nhà Trần mới ra đời. Thời nhà Trần: thuế thân mang tính chất là thuế TNCN bắt đầu xuất hiện ở Việt Nam, đƣợc ban hành từ năm 1378.

Thuế áp dụng với mọi công dân là nam giới từ 18 tuổi trở lên và còn đƣợc gọi là thuế đinh (thuế đánh theo đầu ngƣời). Bƣớc đầu thuế thân thu 3 quan tiền/suất đinh, tƣơng đƣơng 54kg thóc. Thuế ruộng tƣ thu từ 42 đến 459kg thóc/ha theo lũy tiến.2 Sau đó là thời nhà Hồ, nhà Lê (năm 1470) và nhà Lê Trịnh (năm 1670) đều áp dụng thuế thân - dạng sơ khai nhất của thuế TNCN ở nƣớc ta, tuy nhiên với những mức thuế suất khác nhau. Và đến năm 1772 thuế thân đƣợc điều chỉnh lại là 40kg thóc/suất (khoảng 3,9% sản lƣợng nông nghiệp/mẫu bắc bộ).

Riêng phần thuế ruộng động viên khoảng 7 - 8% sản lƣợng nông nghiệp.3 Thời nhà Nguyễn và Pháp đô hộ: Về cơ bản thời nhà Nguyễn vẫn giữ nguyên các sắc thuế nhƣ đã có dƣới các triều đại phong kiến trƣớc, trong đó có thuế thân và còn đƣa ra thêm 2 Trích sách Thuế thu nhập cá nhân trên thế giới và định hƣớng vận dụng ở Việt Nam- PGS.TS Lê Văn Ái, TS Đỗ Đức Minh. 3 Nhƣ 2 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com các loại thuế khác. Nhìn chung thuế dƣới triều Nguyễn là nặng nề phức tạp mang tính vơ vét, bóc lột. Ngoài ra còn do hệ thống quan lại tham nhũng từ trên xuống dƣới, thu trực tiếp hoặc qua đấu thầu lạm bổ, sách nhiễu nhân dân, dẫn đến nhiều cuộc nổi dậy chống thuế.

Và dƣới thời Pháp thuộc chế độ thuế thân là một chế độ thuế gian lận và tùy tiện, là thuế lũy tiến ngƣợc với tài sản. Tình trạng này gây ra những lời phê bình, ca thán vô cùng thống thiết dƣới thời Pháp thuộc. Tóm lại, chính sách thuế thân dƣới các triều đại phong kiến và nhất là dƣới thời Pháp thuộc là một mối kinh hoàng của ngƣời nông dân Việt Nam, là một thứ thuế bất công đánh đồng loạt vào ngƣời giàu lẫn ngƣời nghèo, là thứ thuế mà mọi ngƣời mong muốn xóa bỏ. Tuy có nhiều nhƣợc điểm nhƣng một điểm đáng lƣu ý là một dạng của thuế - sơ khai thuế TNCN đã có mặt ở Việt Nam khá lâu dƣới cái tên “thuế đinh” và trong điều kiện xã hội có nền kinh tế chƣa phát triển cũng có thể đặt ra thuế TNCN.

Thời kỳ đấu tranh thống nhất đất nƣớc. Ở miền Bắc: Sau thắng lợi của cách mạng tháng 8/1945, Hồ Chủ Tịch đã ký sắc lệnh 11- SL, trong đó chế độ thuế thân đánh vào đầu ngƣời đã đƣợc bãi bỏ, giải phóng nhân dân khỏi tấm thẻ sƣu đã bao năm ràng buộc ngƣời dân Việt Nam. Ở miền Nam: Dƣới thời chính quyền Sài Gòn trƣớc năm 1975 có thuế lợi tức mang tính chất là một loại thuế đánh vào thu nhập của cả thể nhân và pháp nhân. Trong đó thuế lợi tức đối với thể nhân chính là dạng tƣơng tự của thuế TNCN thể hiện ở: (1) Thu nhập chịu thuế: là thu nhập từ lao động nhƣ lao động từ tiền lƣơng, tiền công, thu nhập về bản quyền phát minh, nhãn hiệu hàng hóa, phụ cấp tiền thƣởng.

(2) Lợi tức chịu thuế (hay thu nhập chịu thuế) cũng đƣợc xác định là thu nhập sau khi đã trừ đi một số khoản chi phí hợp lý nhất định. Đó là tổng thu nhập nhận đƣợc trừ bớt đi các chi phí tạo ra thu nhập, sau đó thu nhập chịu thuế còn đƣợc trừ tiếp một số khoản tùy theo 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com gia cảnh của hộ nộp thuế nhƣ chi phí nuôi dƣỡng con, cha mẹ và một số khoản có tính chất xã hội khác để xác định thu nhập chịu thuế. (3) Phƣơng pháp đánh thuế theo hộ gia đình: đó là thu nhập thuần tính chung của cả gia đình, cũng quy định mức thuế suất, thủ tục hành thu. (4) Thuế suất, biểu thuế suất: Thuế suất đƣợc áp dụng là thuế suất theo tỷ lệ %, biểu thuế lũy tiến theo từng phần gồm 7 bậc từ 10-70% đối với các thể nhân có trụ sở tại Việt Nam.

Đối với các thể nhân không có trụ sở tại Việt Nam áp dụng một thuế suất duy nhất là 40%. Sau khi thống nhất đất nƣớc, nhà nƣớc ta đã bãi bỏ chế độ thuế TNCN của chính quyền Sài Gòn cũ. Tuy nhiên phải đánh giá rằng luật thuế TNCN của chính quyền Sài Gòn cũ là luật thuế TNCN khá chặt chẽ, phù hợp với chế độ thuế TNCN của các nƣớc có nền kinh tế vận động theo cơ chế thị trƣờng nhƣng mới chỉ đáp ứng đƣợc một phần của một luật thuế TNCN hoàn chỉnh. Sau năm 1975 Vào ngày 01/4/1991 Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao đã đƣợc ban hành và áp dụng nhƣ luật thuế TNCN hoàn chỉnh, đầu tiên ở Việt Nam.

Pháp lệnh tồn tại khá lâu (có hiệu lực trong thời gian 18 năm từ năm 1991 đến hết năm 2008), đã có sửa đổi bổ sung 7 lần cho hoàn chỉnh hơn vào các năm 1992, 1993, 1994, 1997, 1999, 2001 và 2004. Tuy còn một số điểm bất hợp lý nhƣng Pháp lệnh thuế thu nhập đối với ngƣời có thu nhập cao đã có những đóng góp vô cùng quan trọng trong quá trình bƣớc đầu tiến hành áp dụng thuế TNCN tại Việt Nam. Sau 18 năm tồn tại, Pháp lệnh thuế thu nhập đối với ngƣời có thu nhập cao đã bị thay thế bởi Luật thuế TNCN đƣợc Quốc hội khoá 12 thông qua ngày 21/11/2007 và đã có hiệu lực thi hành vào ngày 01/01/2009 vừa qua. Đây đƣợc đánh giá là Luật về thuế TNCN hoàn chỉnh nhất ở Việt Nam từ trƣớc đến nay, và đƣa luật thuế TNCN của Việt Nam gần với xu hƣớng thuế TNCN trên thế giới hơn.

Tuy luật thuế TNCN đƣợc đánh giá là có nhiều điểm 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tiến bộ nhƣng thực tế quá trình triển khai áp dụng Luật thuế này vẫn gặp khá nhiều vấn đề khó khăn cần đƣợc khắc phục. Khái niệm thu nhập và thuế TNCN Định nghĩa Thuế TNCN. Về nguyên tắc bất cứ một cá nhân hay pháp nhân nào khi nhận đƣợc thu nhập dƣới bất cứ hình thái nào (hiện vật hay giá trị) và bất kể từ nguồn nào (do lao động hay đầu tƣ…) đều phải trích một phần từ thu nhập đó để nộp cho nhà nƣớc dƣới dạng thuế thu nhập. Có thể chia thuế thu nhập thành 2 loại chính đó là: Thuế đánh vào thu nhập của cá nhân, đƣợc gọi là thuế TNCN và thuế đánh vào thu nhập của pháp nhân thì đƣợc gọi là thuế doanh nghiệp, thuế sự nghiệp, thuế lợi nhuận… Ở Việt Nam hiện nay tồn tại 2 loại thuế thu nhập đó là: thuế TNCN và thuế TNDN.

Thuế TNCN là loại thuế trực thu đánh vào thu nhập của mỗi cá nhân trong xã hội trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm).4 Thuế TNCN là thuế trực thu vì ngƣời nộp thuế và ngƣời phải chi tiền đóng thuế là một (hay không có sự chuyển dịch đối tƣợng nộp thuế). Ở nhiều nƣớc, bất cứ cá nhân nào cũng phải đóng thuế TNCN. Đứng từ góc độ lý thuyết chuẩn tắc của kinh tế học công cộng thì hễ chủ thể kinh tế nào tiêu dung hàng hóa công cộng thì đều phải nộp thuế bất kể thu nhập của anh ta dù nhiều hay ít (đánh thuế theo lợi ích). Song thực tế việc thu thuế từ những ngƣời có thu nhập thấp hơn một ngƣỡng nhất định có thể không đem lại nhiều lợi ích so với chi phí kỹ thuật cho việc thu thuế.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ