mở đầu một bƣớc ngoặt trong việc thực hiện tƣ tƣởng xây dựng một nền tâm lý học khách quan. Tâm lý học hành vi bắt đầu từ tâm lý học hành vi cổ điển của J.Watson, sau phát triển thành tâm lý học hành vi tạo tác của Skinner và hành vi tổng thể của E. * Quan niệm về hành vi của Tâm lý học hành vi cổ điển: Tiếp cận hành vi của Tâm lý học hành vi là một trong những cố gắng rất lớn của tâm lý học đầu thế kỉ XX nhằm khắc phục tính chủ quan trong nghiên cứu. Châm ngôn của nền tâm lý học mà J.Watson chủ trƣơng là: Tâm lý học phải thật sự nghiên cứu cuộc sống thực hàng ngày của con ngƣời.
Tâm lý học hành vi của J.Watson có mấy điểm đáng chú ý sau đây: - Tâm lý học hành vi không mô tả, không giảng giải các trạng thái ý thức, mà quan tâm đến hành vi của tồn tại ngƣời. 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Các sự kiện quan sát thấy đều đƣợc lý giải theo nguyên tắc: khi có một kích thích nào đó tác động vào cơ thể thì sẽ tạo ra một phản ứng nhất định của cơ thể. Do đó, mọi hành vi do cơ thể tạo ra đều đƣợc biểu đạt theo công thức kích thích – phản ứng (S – R), và hành vi chỉ còn lại là các cử động bề ngoài, hoàn toàn không liên quan gì với ý thức đƣợc coi là cái bên trong. - Đi theo những ngƣời nghiên cứu tâm lý học động vật lấy nguyên tắc “thử và lỗi” làm nguyên tắc khởi thúy điều khiển mọi hành vi, J.Watson muốn loại trừ tâm lý học duy tâm với phƣơng pháp nội quan bằng cách nghiên cứu hành vi theo phƣơng pháp lâu nay vẫn dùng trong tâm lý học động vật.Watson đặt ra cho thuyết hành vi mục đích điều khiển đƣợc hành vi.
Toàn bộ việc điều khiển dựa vào chỗ cứ có một trong hai yếu tố thì biết đƣợc yếu tố thứ hai. * Quan niệm về hành vi của các nhà Tâm lý học hành vi mới: Trong luận thuyết của mình, các nhà tâm lý học hành vi mới nhƣ E. Hull đã cố gắng phát triển và phong phú thêm khái niệm hành vi. Hành vi trong học thuyết này đƣợc gọi là hành vi tổng thể.
Họ định nghĩa hành vi tổng thể là hành vi có ý định, có mục đích, hành vi có nhận thức. Các nhà tâm lý học hành vi mới cho rằng trong hành vi ngƣời, giữa kích thích và phản ứng có các thông số trung gian, đó là ý định, nhận thức, là quá trình tƣ tƣởng hóa. Họ nhấn mạnh tính đa tử của hành vi, họ đã đƣa biến số trung gian – O (Object) và giữa S và R để thành công thức S – O – R, nhƣng O lại phụ thuộc chủ yếu vào môi trƣờng bên ngoài. Cho nên khái niệm hành vi của các nhà tâm lý học mới vẫn chỉ nằm ở phạm vi của công thức mà J.
[4; tr 120] * Quan niệm về hành vi trong Tâm lý học hành vi tạo tác của B.Skinner: 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Skinner chủ trƣơng “hành vi chủ nghĩa hóa” tuyệt đối toàn bộ khoa học tâm lý. Từ tƣ tƣởng phải đƣa tâm lý học thành “phòng thực nghiệm của xã hội”, Skinner đi đến lập ra “công nghệ học hành vi”, hi vọng có một quy trình công nghệ để có thể tạo ra hành vi nhƣ sản xuất một sản phẩm công nghiệp. Skinner xây dựng cái gọi là thuyết hành vi xã hội. Thuyết này xây dựng trên nguyên tắc phản ứng, lấy các khái niệm củng cố, thích nghi, cân bằng với môi trƣờng làm các khái niệm cơ bản.
Skinner quan niệm, trong hệ thống hành vi có một loại hành vi tạo tác. Chẳng hạn, động vật bị rơi vào hoàn cảnh chiếc lồng do ngƣời thực nghiệm tạo ra (gọi là cái lồng Skinner) thì thoạt đầu nó thực hiện một số thao tác (cử động) ngẫu nhiên, có thao tác đúng – tức là đi đúng hƣớng có kích thích đƣợc củng cố.Skinner cho rằng, sự khác biệt đầu tiên giữa hành vi có điều kiện với hành vi tạo tác là hành vi có điều kiện xuất hiện nhằm tiếp cận một kích thích củng cố, còn hành vi tạo tác nhằm tạo ra kích thích củng cố. Vì thế, ngƣời ta gọi hành vi tạo tác là hành vi đƣợc hình thành “trong điều kiện hóa có hiệu lực” nhằm đáp lại kích thích của môi trƣờng một cách tích cực chủ động. Nhờ tiếp nhận các điều kiện hóa có hiệu lực mà có thể kiểm soát đƣợc hành vi, do vậy, nếu kiểm soát đƣợc củng cố thì kiểm soát đƣợc hành vi.
Theo Skinner, cái gọi là các sự kiện tâm lý thực ra chỉ là các sự kiện sinh lý đƣợc dán cho cái nhãn ý thức. Và vì thế, luận thuyết về hành vi tạo tác của Skinner về cơ bản vẫn thể hiện công thức S - R trong Tâm lý học hành vi của J. [20, tr 28] * Quan điểm về hành vi của E.Tolman: Hành vi trong hệ thống của E.Tolman đƣợc gọi là hành vi tổng thể, ông định nghĩa hành vi tổng thể là hành vi có ý định, mục đích, hành vi có nhận thức. Tolman cho rằng có thể định nghĩa tính mục đích một cách hoàn toàn khách quan, tức là theo cách của thuyết hành vi.
Với tƣ cách là một mặt của 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hành vi, tính chủ ý đƣợc vận dụng vào mô tả hành vi. Ngƣời đại diện của thuyết hành vi mới coi tính chủ ý ấy trong mối liên hệ với khách thể mục đích: Tính chủ ý đƣợc hiểu đồng nhất với các chức năng của khách thể, trong đó khách thể mục đích có ý nghĩa quyết định. Tolman cho rằng trong hành vi ngƣời giữa kích thích và phản ứng có thông số trung gian đó là ý định, nhận thức, là quá trình tƣ tƣởng hóa. Xem xét sơ đồ hành vi mà Tolman đã đề ra ta thấy rằng, các thông số trung gian là kết quả của các kích thích bên ngoài tác động vào, trên cơ sở những điều kiện của cơ thể, cũng nhƣ các cử động và phép thử do cơ thể tiến hành.
Tất cả những thứ đó: điều kiện cơ thể, cử động, phép thử đều phải đƣợc xem xét nhƣ là hiệu ứng của các khách thể - kích thích tác động lên cơ thể. Từ đó ta thấy việc Tolman hƣớng vào các lý thuyết tâm lý khác để lấy các khái niệm ý định, ý thức, nhận thức nhằm chỉ các hiện tƣợng tâm lý bên trong làm trung gian cho hành vi. [13] Tóm lại, các tác giả của Tâm lý học hành vi coi hành vi chỉ đơn thuần là phản ứng trả lời kích thích. Tuy có quan niệm hơi khác nhau về các yếu tố và vai trò của chúng trong tác động đến hành vi, nhƣng họ đều nhấn mạnh tính quyết định của kích thích đối với hành vi, không thừa nhận có sự tồn tại tâm lý, ý thức và sự tác động của nó đối với hành vi ngƣời.
Môi trƣờng có vai trò khơi dậy hành vi, cứ có kích thích là có các hành vi theo công thức S - R. Tâm lý, ý thức là một cái gì đó vu vơ, vô ích đối với hành vi (J. Môi trƣờng có vai trò chọn lọc hành vi, các yếu tố củng cố và cách thức củng cố từ môi trƣờng quyết định hoàn toàn hành vi tạo tác. Các sự kiện tâm lý thực ra chỉ là các sự kiện sinh lý đƣợc dán cho cái nhãn ý thức (Skinner).
Thêm biến số trung gian O vào giữa công thức S - R thành công thức S – O – R, nhƣng O lại phụ thuộc chủ yếu vào môi trƣờng bên ngoài (E. 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ▪ Quan niệm về hành vi của trường phái Phân tâm học: Ngƣời khởi xƣớng trƣờng phái phân tâm học là S. Theo Freud thì bên cạnh ý thức giúp cái tôi có khả năng làm chủ đƣợc cuộc sống của mình thì con ngƣời còn cảm thấy hình nhƣ có một cái gì đó không thuộc về cái tôi, đôi khi nó làm cho cái tôi không còn là chính mình nữa. Những hiện tƣợng tinh thần đó ông gọi là cái vô thức, cái vô thức này nó nhƣ là nguyên nhân của những hành vi vô cớ, không logic.
Những hành vi này vẫn thƣờng diễn ra ở bất cứ con ngƣời bình thƣờng nào và có nhiều khi ngƣời ta không lý giải đƣợc tại sao mình lại làm nhƣ vậy. Freud, ở con ngƣời lành mạnh cả về thể chất lẫn tinh thần đều có những “hành vi sai lạc” bao gồm: những hành động lỡ, lỡ lời, những câu chữ viết lỡ tay, những câu đọc lỡ miệng, những sự quên và đãng trí. Những hành vi sai lạc này xuất hiện thay thế cho hành vi mà ngƣời ta mong muốn hay đang chờ đợi. Những hành vi sai lạc là những hành vi có ý nghĩa [11, tr 30], chúng đều có nguyên nhân từ cái vô thức.
Học Thuyết của S. Freud đã làm sáng tỏ một thực tế trong hành vi mua của ngƣời tiêu dùng. Con ngƣời không chỉ mua theo lý trí (nhu cầu chủ động) mà còn có nhiều nhu cầu mới, nảy sinh ngay trong quá trình lựa chọn hàng hóa. Nếu nắm bắt đƣợc quy luật này, ngƣời thiết kế sản phẩm, ngƣời bán hàng có thể khêu gợi thêm nhu cầu hình thành những động cơ mới để bán đƣợc nhiều sản phẩm.
▪ Quan niệm về hành vi của Tâm lý học nhân văn: A.Maslow đƣợc coi là “ngƣời cha tinh thần” của Tâm lý học nhân văn. Trong lý thuyết của ông, nhu cầu của con ngƣời đƣợc sắp xếp theo một thứ bậc nhất định từ thấp đến cao. Nhu cầu bậc thấp đƣợc thỏa mãn trƣớc và khi những nhu cầu này đƣợc thỏa mãn thì những nhu cầu bậc cao hơn sẽ xuất hiện và thúc đẩy con ngƣời hoạt động để thỏa mãn nó. Theo trƣờng phái này, 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hành vi của con ngƣời không chỉ bao gồm hành vi mở (phản ứng quan sát đƣợc) mà còn bao gồm những hành vi kín (là những phản ứng không quan sát đƣợc – những trải nghiệm chủ quan của con ngƣời).
Hai phần này ít gắn bó với nhau. Các quan điểm của trƣờng phái Tâm lý học nhân văn có khuynh hƣớng đối lập với cách giải thích của Tâm lý học hành vi và Phân tâm học về hành vi. Tâm lý học nhân văn cho rằng: Con ngƣời có thể nhận thức và kiểm soát đƣợc hành vi của mình, chứ không phải do vô thức quyết định và con ngƣời có thể độc lập quyết định hành vi của mình chứ không phải hoàn toàn do tác động bên ngoài.