Chương 1. Giới thiệu chung Chương 2. Tổng quan nghiên cứu Chương 3. Dé xuất mô hình lý thuyết Chương 4.
Kết quả Chương 5. Kết luận 12lPage CHƯƠNG 2. TONG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Hối lộ Hồi lộ (Bribery), hay còn gọi là mãi lộ, lót bi, dân gian thường gọi là đút lót, là hành vi đưa tiền, hoặc vật phẩm có giá trị, hoặc những thứ khác khiến cho người nhận cảm thấy hai long, dé mong muốn người nhận giúp đỡ mình thực hiện hành vi trái pháp luật.
Hồi lộ gồm có hai hình thức chính là hối lộ vật chất và hối lộ phi vật chat. Hối lộ vật chất bao gồm: tiền (phổ thông nhất), vật phẩm, trong một số trường hợp còn có thé là người. Hối lộ phi vật chất gồm có hối lộ tình dục, hối lộ thông tin, hối lộ thành tích. Hành vi hối lộ được giải thích là hành vi trao đổi hai bên cùng có lợi, tạo dựng các môi quan hệ đê tạo được lợi ích lớn nhât.
Theo Ngân hàng thế giới, hối lộ là một trong những công cụ chính sử dụng cho tham nhũng. Hối lộ có thé tác động qua các kênh: e_ Hợp đồng chính phủ: Hối lộ có thé tác động tới sự lựa chọn của chính phủ trong việc cung cấp hàng hóa, dịch vụ và việc làm cũng như các hợp đồng khác. e_ Lợi ích chính phủ: Hối lộ có thé ảnh hưởng đến việc phân bổ lợi ích của chính phủ, cho dù lợi ích tiền tệ hay lợi ích bằng hiện vật. e Giảm thuế: Hối lộ có thé làm giảm lượng thế hoặc phí thu từ doanh nghiệp.
© Giấy phép: Hối lộ dé cấp giấy phép chuyền giao độc quyên, chang hạn như nhượng quyền phát triển đất hoặc khai thác tài nguyên thiên nhiên. e Thời gian: Hối lộ có thé được cung cấp dé day nhanh việc chính phủ cấp phép thực hiện các hoạt động hợp pháp, chăng hạn như đăng ký doanh nghiệp hoặc giấy phép xây dựng. e Đầu ra hợp pháp: Hi lộ có thé thay đổi kết qua của quy trình pháp lý bằng cách khiến chính phủ bỏ qua các hoạt động bất hợp pháp Khi doanh nghiệp phải đối mặt với thủ tục hành chính phức tạp, đồng nghĩa với việc chi phi đi lại, chi phí giao dịch tăng vì thời gian, chi phí giấy tờ,. hoặc phải sử dụng đến chi phí “lót tay” cho cán bộ ngân hàng.
Những khoản chi 1I3lPage phí trên đều gia tăng chi phí thực cho doanh nghiệp. Trong nhiều trường hợp, hối lộ ngoài việc giúp các doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn một cách nhanh chóng, nó còn hỗ trợ giúp loại bỏ những đổi thủ cạnh tranh trong việc nhận được gói cho vay từ phía các ngân hàng và tô chức tài chính khác. Tiếp cận tín dụng ngân hàng Tiếp cận tài chính là khả năng cá nhân hoặc doanh nghiệp có được các dịch vụ tài chính, bao gồm tín dụng, tiền gửi, thanh toán, bảo hiểm và các dịch vụ quản lý rủi ro khác. Bằng chứng tích lity đã chi ra rang tiếp cận tài chính thúc đây tăng trưởng cho doanh nghiệp thông qua việc cung cấp tín dụng cho cả doanh nghiệp mới và doanh nghiệp hiện có.
Nó mang lại lợi ích cho nền kinh tế nói chung bằng cách thúc đầy tăng trưởng kinh tế, tăng cường cạnh tranh, cũng như thúc đây nhu cầu lao động. Thu nhập của những người ở cuối bậc thang thu nhập thường sẽ tăng lên, do đó làm giảm bất bình dang thu nhập và nghèo đói. Trong một nên kinh tế, chính phủ sẽ thường có những gói hỗ trợ tài chính để giúp đỡ cho các doanh nghiệp. Những gói hỗ trợ này có thể được tài trợ trực tiếp đến các doanh nghiệp hoặc thông qua các ngân hàng thương mại (NHTM) phân phối.
Tin dụng là một phạm trù kinh tế và nó là sản phẩm của nền kinh tế hàng hóa. Sau khi chế độ công xã nguyên thủy bắt đầu tan rã thì tín dụng ra đời và tồn tai qua nhiều hình thái kinh tế - xã hội. Tin dụng là quan hệ sử dụng vốn lẫn nhau dựa trên nguyên tắc hoàn trả cả vốn và lãi được thực hiện dưới hình thái tiền hay là hàng hóa. Tín dụng biểu hiện cho mối quan hệ giữa người đi vay và người cho vay thực hiện bằng những cam kết do 2 bên thỏa thuận với nhau.
Tin dụng ngân hàng là một hình thức phổ biến với vai trò là một kênh dé dẫn vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu do trong nền kinh tế thị trường thì các chủ thể luôn luôn ở trong hai trạng thái là tạm thời thừa vốn hay là tạm thời thiếu vốn. Tín dụng ngân hàng là quan hệ vay mượn giữa bên đi vay là các doanh nghiệp, tô chức, cá nhân và bên ngân hàng theo nguyên tắc sử dụng vốn đi vay đúng mục đích, hoàn trả đúng hạn cả gốc lẫn lãi. Tín dụng ngân hàng đóng vai trò hết sức quan trọng đối với khả năng hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, đặc biệt với các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Việc sử dụng nguồn vốn nội bộ doanh nghiệp giúp các doanh nghiệp chủ động hơn trong việc sử dụng vốn, tiết kiệm chỉ phí và kiểm soát được doanh 14lPage nghiệp của mình.
Tuy nhiên, việc sử dụng nguồn vốn nội bộ doanh nghiệp lại có hiệu quả sử dụng thấp hơn so với sử dụng vốn huy động ngoài doanh nghiệp do các doanh nghiệp không phải chịu áp lực về các khoản vay nên sẽ không cân nhắc kỹ lưỡng như việc đi vay ngoài. Ngoài ra, sử dụng vốn nội bộ doanh nghiệp chỉ có giới hạn trong phạm vi nhỏ nên không thê đáp ứng nhu cầu dài hạn của các doanh nghiệp. Vì vậy việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng từ ngân hàng là rất cân thiệt. Nghiên cứu lý thuyết thực nghiệm 2.
Hoi lộ và tiếp cận tín dụng Hối lộ có nhiều khả năng xảy ra hơn ở những quốc gia có sự can thiệp của chính phủ vào nền kinh tế về giấy phép, quy trình, thủ tục pháp lý hoặc luật pháp, điều này hóa ra lại tạo điều kiện gia tăng quyên lực của các giới quan chức trong các quy định hành nghề (Klitgaard, 1988). Ngoài ra, hệ thống tài chính cứng nhắc có thể tạo ra nhiều thách thức cho doanh nghiệp trong việc đáp ứng các điều kiện của các tô chức tài chính dé phát hành các khoản vay (Liu và cộng sự, 2020). Trước tình hình đó, các doanh nghiệp cần lựa chọn các chiến lược phù hợp dé duy tri mối quan hệ với các quan chức nhằm khắc phục những khó khan này. Theo lập luận của Cai và cộng sự (2011), hối lộ đã giúp các doanh nghiệp đạt được những mục tiêu đó.
Tác giả kỳ vọng rằng việc thực hiện hối lộ sẽ làm tăng khả năng tiếp cận tín dụng của các doanh nghiệp bởi những lý do sau: Thứ nhất, chính phủ đóng vai trò hỗ trợ các tô chức tài chính nhằm giảm thiểu các vấn đề về rủi ro đạo đức doanh nghiệp (La Porta và cộng sự, 2002; Faccio và cộng sự, 2006); do đó, chính phủ có tác động mạnh đến các khoản vay của ngân hàng. Vì vậy, các doanh nghiệp có thể sử dụng các hành vi như hối lộ để tác động tới các quan chức nhà nước dựa vào việc lợi dụng danh tiếng của họ và các cơ quan chức năng dé kiểm soát các tác động có lợi cho cá nhân (Martin, 2007). Ví dụ, các doanh nghiệp sử dụng hành vi hối lộ quan chức nhà nước với mục đích có thể loại bỏ được các đối thủ cạnh tranh cũng đang hướng tới khoản vay giống họ (Beck và Maher, 1986; Martin, 2007). Cuộc thảo luận này ngụ ý rằng hối lộ có thể được coi như nhận được sự chấp nhận từ phía các quan chức nhà nước hoặc loại bỏ các rào cản ngăn cản các doanh nghiệp tiếp cận tín dụng (Rose-Ackerman, 1998).
15lPage Thứ hai, sự khó khăn trong việc tiếp cận tài chính tăng lên do thông tin bất đối xứng, có thé dẫn đến việc phân bổ tín dụng không hiệu quả va chi phí giao dịch cao hơn (Liu và cộng sự, 2020). Đưa hối lộ có thể giúp các doanh nghiệp giảm thiểu hậu quả của sự khó khăn đó và cải thiện khả năng tiếp cận tín dụng (Fungacova và cộng sự, 2015). Ngoài ra, Lui (1985) và Levine và cộng sự (2000) cho rang sự cứng nhắc của hệ thống tài chính có thể được giảm bớt, các thủ tục tín dụng rườm rà có thé được đơn giản hóa, thời gian chờ phê duyệt khoản vay có thé được giảm lược đối với các doanh nghiệp thực hiện hành vi hồi lộ. Ngược lại, một số học giả cho rằng hồi lộ có thể là trở ngại trong khả năng tiếp cận tín dụng của doanh nghiệp.
Có thê thấy rằng các cán bộ ngân hàng do thông tin bất đối xứng trong quá trình cho vay nên họ thường có quyền trong việc xác định các điều khoản tín dụng như các loại tài sản thế chấp hoặc lãi suất (Barth và cộng sự, 2009). Khi đó các doanh nghiệp buộc phải hối lộ để phá bỏ rào cản hoặc tránh các điều khoản khó. Trái lại, điều này có thé tạo điều kiện thúc đây các quan chức tạo ra nhiều điều khoản tín dụng phức tạp hơn để có được nhiều hối lộ hơn (Guriev, 2004). Ngoài ra, các điều khoản tín dụng khắt khe của các ngân hàng dé tránh vỡ nợ như lãi suất cao cũng khiến doanh nghiệp khó có được tín dụng hơn do chỉ phí đi vay cao hơn và nhiều ràng buộc tài chính hơn (Beck và cộng sự, 2006; Firth và cộng sự, 2009).
Do đó, các doanh nghiệp sẽ khó tiếp cận tín dụng hơn. Nhìn chung, có khả năng hối lộ làm giảm các ràng buộc tín dụng và giúp các doanh nghiệp có được các khoản vay ngân hàng trong khi mối quan hệ giữa ngân hàng và doanh nghiệp được thúc đây bởi tham nhũng. Theo đó, đề xuất giả thuyết sau: HI: Hành vì hồi lộ của các doanh nghiệp đổi với quan chức nhà nước có mới liên hệ tích cực đến khả năng tiếp cận tín dung cua doanh nghiệp. Tác động của sức mạnh dam phan Các học giả trước đây như Bliss va Tella (1997) và Fisman va Svensson (2007) cho rằng sức mạnh đàm phán của các doanh nghiệp quyết định tác động của hối lộ.
Theo đó, có thể thấy rằng sức mạnh đàm phán của các doanh nghiệp ảnh hưởng đến khả năng giảm chi phí thanh toán và thương lượng dé có lợi hơn (Rose-Ackerman (1978)), do đó điều chỉnh mối quan hệ giữa hối lộ và tiếp cận tín dụng. Tác giả sử dụng quy mô và tình trạng đăng ký kinh doanh của doanh 16|Page nghiệp (chính thức và không chính thức) để nắm bắt sức mạnh đàm phán của họ đôi với các quan chức nhà nước.