CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HÀNH VI BẮT NẠT TRỰC TUYẾN CỦA HỌC SINH Ở MỘT SỐ TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TẠI TP. HỒ CHÍ MINH 1. Lịch sử nghiên cứu về HVBNTT của HS THPT 1. Lịch sử nghiên cứu về HVBNTT của HS THPT ở nước ngoài Tâm lí học không chỉ là khoa học chuyên nghiên cứu những hiện tượng tinh thần trong đời sống của con người trên bình diện lí thuyết mà ngày nay, nó còn trở thành một khoa học mang tính ứng dụng cao.
Từ việc nghiên cứu và tìm hiểu bản chất con người, tâm lí học đi sâu ứng dụng các thành tựu của mình trên nhiều lĩnh vực của cuộc sống: kinh tế, chính trị, xã hội… Một trong những khía cạnh nghiên cứu quan trọng của Tâm lí học ngày nay là nghiên cứu hành vi và biểu hiện hành vi ở con người. Đặc biệt, trước những nguy cơ lẫn thách thức mà xã hội đang đặt ra thì những nghiên cứu về hành vi và biểu hiện hành vi của con người trong cuộc sống hiện tại có vai trò quan trọng. Những năm trở lại đây vấn đề HVBNTT bắt đầu được nhiều nhà tâm lý học trên thế giới quan tâm nghiên cứu. Có thể đề cập đến một số đề tài, công trình nghiên cứu liên quan đến HVBNTT ở nước ngoài sau: Đề tài “An Exploratory Study of Cyberbullying with Undergraduate University Students” của Carol M.
Walker, Beth Rajan Sockman and Steven Koehn nghiên cứu khách thể là sinh viên đại học, trong đó tỉ lệ sinh viên nam chiếm 54% thường BNTT qua điện thoại di động, Facebook và tin nhắn là chủ yếu [39]. Nghiên cứu “Provided dat from an anonymous Web – bbased survey (http:// bolt.com; conducted in 2005) to determine the extent of online bullying experienced by youth” của Juvonen and Gross (2008) đã xác định mức độ BNTT độ tuổi từ 12 – 17 tuổi (Tuổi trung bình 15.47) với các chỉ báo: Những lời phỉ báng là 66%, đe dọa là 27%, chia sẻ hình ảnh bôi nhọ, làm nhục người khác là 18%, vi phạm quyền riêng tư là 25%, lấy cắp mật khẩu là 33%. Hầu hết một phần năm khách thể trả lời bị đe dọaN lần, 72% khách thể đã từng bị BNTT ít nhất một lần [39]. 6 Nghiên cứu “Two studies addressed aspects of cyberbullying on the university level” của Finn (2004) đã chỉ ra trong tổng 339 sinh viên của Đại học New Hampshire có đến 15% sinh viên bị đe dọa, bị xúc phạm hoặc quấy nhiễu qua e - mail.
Điều đáng lưu ý là hơn một nữa số sinh viên nhận được sách báo khiêu dâm không mong muốn [39]. Nghiên cứu của Dilmac, B (2009) đã chỉ ra có đến 22.5% HS đã từng bị BNTT và 55.3% HS bị BNTT ít nhất một lần [39]. Nghiên cứu “The prevalence of cyberbullying among adolescents: A case study of middle schools in Serbia” của Branislava Popović-Ćitić, Sladjana Djurić, Vladimir Cvetković với 387 HS trung học từ năm trường ở Belgarde, kết quả nghiên cứu cho thấy trung bình 10% HS từ 11 đến 15 tuổi báo cáo rằng họ đã bị tấn công trực tuyến và 20% trong số đó từng là nạn nhân của BNTT. Hình thức BNTT chủ yếu là HS bị quấy rối [41].
Nghiên cứu “Cyberbullying: An Exploratory Analysis of Factors Related to Offending and Victimization” của Sameer Hinduja và Justin W. Patchin năm 2006 đã đưa ra dữ liệu khảo sát trực tuyến từ 1378 người dùng Internet ở độ tuổi vị thành niên được phân tích nhằm xác định đặc điểm của nạn nhân đe dọa trực tuyến điển hình và người bị BNTT điển hình [42]. Nghiên cứu “Following you home from school: A critical review and synthesis of research on cyberbullying victimization” của Robert S.Tokunaga cho thấy hơn 97% thanh thiếu niên đã sử dụng Internet và điều đáng lưu ý là có đến 20 – 40% thanh thiếu niên trong tổng số đã từng trải qua đe dọa trực tuyến ít nhất một lần. Việc bị đe dọa trực tuyến đã ảnh hưởng không nhỏ đến tâm lý của thanh thiếu niên [43].
Nghiên cứu “Risk factors for involvement in Cyber bullying: Victims, bullies and bully – victims” của FayeMishna, MonaKhoury - Kassabri, TahanyGadalla, JoanneDaciuk đã nghiên cứu trên 2186 HS trung học phổ thông. Kết quả nghiên cứu cho thấy trên 30% HS trong nghiên cứu này có liên quan đến BNTT. Nghiên cứu này cũng chỉ ra một số yếu tố ảnh hưởng đến việc BNTT là giới tính, độ tuổi và độ an toàn. Nghiên cứu “Cyber Bullying Behavior Among Middle and High School Students” của Faye Mishna, Charlene Cook, Tahany Gadalla, Joanne Daciuk and 7 Steven Solomon.
Nghiên cứu này đã đưa ra kết quả khoảng 1/2 (49.5%) HS cho biết đã bị BNTT và 33.7% cho biết mình BNTT người khác. Hầu hết các hành vi bắt nạt đều được gây ra trong mối quan hệ bạn bè và nạn nhân không dám nói cho người khác biết mình bị BNTT. Những người đã từng bị BNTT cho biết họ cảm thấy tức giận, buồn và chán nản khi bị BNTT. Một số người tham gia BNTT người khác cho biết họ có cảm thấy vui, thoải mái, số còn lại cảm thấy hối lỗi sau đó [44].
Nghiên cứu “School Bullying Among Adolescents in the United States: Physical, Verbal, Relational and Cyber” của Jing Wang Ph.D thu số liệu từ cuộc khảo sát tình hình sức khỏe ở độ tuổi đi học năm 2005, lấy mẫu đại diện từ lớp 6 – 10 (N= 7. Kết quả cho thấy tỉ lệ HS bắt nạt người khác hoặc bị bắt nạt tại trường ít nhất một lần trong 2 tháng là 20.8% về thể chất, 53.4% về mặt xã hội hoặc 13.6% về điện tử. Một kết quả đáng báo động [45]. Số liệu thống kê của Trung tâm quốc gia phòng chống tội phạm, I – Safe inc, Trung tâm Nghiên cứu “Cyber bullying”, Knowthenet.uk, The Harford Quận Examiner, Cyberbullying.us, Hiệp hội Osteopathic Mỹ, Ipson (công ty nghiên cứu toàn cầu Reuters) tin tức, Bitdefender đưa ra: Hơn một nữa số thanh thiếu niên và thiếu niên đã bị BNTT và một bộ phận không nhỏ thanh thiếu niên, thiếu niên tham gia BNTT.
- Trong số những người thừa nhận họ đã bị bắt nạt, 87% cho biết họ bị BNTT qua Facebook, 19% qua Twitter và 13% qua BlackBerry Mesenger. - Một trong sáu bậc cha mẹ biết con mình đã bị bắt nạt qua một trang wed mạng xã hội. Hơn một trong ba thanh niên đã bị đe dọa trực tuyến. - Trên 25% thanh thiếu niên và thiếu niên đã bị bắt nạt nhiều lần qua điện thoại di động hoặc internet - Cứ một trong mười phụ huynh sử dụng Internet (12%) trên toàn thế giới nói con mình đã trải qua hăm dọa trên mạng.
- 60% thanh thiếu niên cho biết họ không dám tố cáo, lên án các HVBNTT. - Chỉ 1% nạn nhân nói cho giáo viên hoặc người lớn về việc họ đi đe dọa, BNTT. 8 - Hơn một nữa số người trẻ tuổi không nói với cha mẹ của họ khi bị BNTT. - 13% thanh thiếu niên sử dụng mạng xã hội (từ 12 -17 tuổi) cho biết họ đã bị BNTT, họ cảm thấy lo lắng về việc đi học vào ngày hôm sau.
- Chỉ một trong mười thanh thiếu niên nói với cha mẹ về việc mình bị BNTT. - Một trong năm sự cố, mâu thuẫn của BNTT được báo cáo để thực thi pháp luật. - Một trong mười thanh niên, thanh thiếu niên bị đăng những hình ảnh xấu hổ chụp bằng điện thoại mà không được sự cho phép của họ, gây tổn hại đến danh dự, nhân phẩm của họ. - Khoảng 1 trong 5 thanh thiếu niên đã đăng tải hoặc gửi hình ảnh gợi cảm, khỏa thân của mình cho người khác.
- Các bạn nữ thường là đối tượng bị BNTTN hơn nam - Hơn 80% thanh thiếu niên sử dụng điện thoại di động thường xuyên, khiến nó trở thành phương tiện phổ biến nhất để BNTT. - Hình thực BNTT phổ biến nhất là bình luận ác ý, lan rộng tin đồn, gây tổn thương tâm lý cho người bị bắt nạt. - Nạn nhân của BNTT bị hạ thấp lòng tự trọng, thậm chí có nhiều nạn nhân có ý định tự tử hoặc tự tử. - Những người dành thời gian sử dụng mạng xã hội nhiều có nguy cơ bị BNTT cao hơn những người không dành nhiều thời gian cho mạng xã hội.
- 10% những đứa trẻ bị BNTT nói với cha mẹ về vụ việc và trong đó chỉ có 18% các trường hợp được báo cáo cho cơ quan chức năng. Trong báo cáo này, cũng chỉ ra theo một nghiên cứu gần đây có đến 58% HS lớp 8 cho biết họ bị BNTT bằng những lời lẽ xúc phạm, tàn nhẫn, gây tổn thương. 53% cho biết họ đã từng nói những điều gây tổn thương người khác khi online trực tuyến. 42% số người nghiên cứu cho biết rằng họ đã bị BNTT, nhưng hầu như 60% chưa bao giờ nói với cha mẹ về vụ việc.
Máy ảnh điện thoại di động, máy ảnh kĩ thuật số là hai phương tiện BNTT. Trong cuộc khảo sát này cho thấy 10% của 770 khách thể khảo sát cảm thấy “bị đe dọa, xấu hổ hoặc không thoải mái” với ít nhất một bức hình họ chụp từ điện thoại di động. 9 Một số hình thức BNTT mà HS trung học cơ sở đã thực hiện là: - Ăn cắp tên, mật khẩu của một các nhân, sau đó dùng hồ sơ của họ để gửi tin đồn, thông tin sai lệch gây tổn hại đến danh dự, nhân phẩm của người khác. - Thay đổi hình ảnh của người khác bằng các phần mềm Photoshop hay các phần mềm chỉnh sửa hình ảnh để bêu xấu họ.
- Ghi âm cuộc nói chuyện mà nạn nhân không hề biết hoặc không được sự đồng ý của họ, sau đó đăng tải nội dung cuộc nói chuyện lên mạng xã hội. - Tạo các cuộc thăm dò trực tuyến tạo lượt không thích, phẫn nộ nhằm gây tổn thương tinh thần của người khác và đăng chúng lên các trang mạng khác nhau. - Sử dụng các trang wed, fanpage, blog để viết những điều gây tổn thương, đưa những thông tin xấu, hình ảnh xấu hổ về người khác. Một nghiên cứu của Pediatrics, cho thấy rằng BNTT đã tăng lên 50% trong năm năm qua khi thanh thiếu niên ngày càng ghi lại cuộc sống của họ trên nhật kí web, blog và việc truy cập trực tuyến thông qua phòng chat, tin nhắn, các trang mạng như facebook.
Nhà nghiên cứu y tế cộng đồng Michele Ybarra của Internet Solutions for Kids và nhà tâm lý học Kimberly Mitchell của Trung tâm nghiên cứu tội ác chống lại trẻ em thuộc trường Đại học New Hampshire đã trình bày những phát hiện từ một cuộc khảo sát của 1.500 thanh thiếu niên từ 10 – 17 tuổi tại APA Công ước hàng năm 2006. Thanh thiếu niên là khách thể cho biết họ đã từng bị quấy rối qua Internet (BNTT) trong 12 tháng qua.