CHƯƠNG 1. Hành động ngôn từ 1. Lý thuyết hành động ngôn từ (Theory of Speech Acts) J. Austin là người có công đầu trong việc xây dựng lý thuyết HĐNT.
Lý thuyết HĐNT có thể tóm lược thành ba bước cơ bản như sau: B1. Phân biệt câu nhận định (constative) và câu ngôn hành (performative). Tiến đến nhận định: mọi phát ngôn đều là ngôn hành, hoặc tường minh (explicit), hoặc hàm ẩn (implicit). Công nhận sự thất bại của giả thuyết ngôn hành, chỉ ra ba phạm trù của hành động ngôn ngữ.
Ban đầu, những ý tưởng đầu tiên về lý thuyết HĐNT bắt nguồn từ việc Austin chỉ trích Nguỵ thuyết miêu tả và Thẩm định luận bằng cách đưa ra một loạt câu không thể đánh giá theo tiêu chí đúng/ sai, và nêu rõ những câu đó là câu hành động (ngôn hành). Tiếp theo, Austin nhận ra rằng thực chất các phát ngôn nhận định cũng là một loại hành động. Nếu như các phát ngôn chứa những biểu thức có hiệu lực ở lời (cụ thể là các vị từ ngôn hành như hứa, cảm ơn, xin lỗi, ra lệnh…) được gọi là những phát ngôn ngôn hành tường minh, thì các phát ngôn nhận định hoàn toàn có thể trở thành phát ngôn ngôn hành bằng cách khôi phục cấu trúc ở dạng sâu của nó. Hôm nay là thứ hai (2).
Tôi xác nhận hôm nay là thứ hai. Ví dụ (1) vốn là một câu trần thuật. Tuy nhiên, nó có thể là một dạng của (2), một phát ngôn ngôn hành tường minh với VTNH “xác nhận”. Các phát ngôn nhận định khác đều có thể khôi phục để trở thành những câu ngôn hành theo cách tương tự như vậy.
Tuy nhiên, sau này, chính ông thừa nhận có rất nhiều biểu thức ngôn hành hàm ẩn không thể tường minh hoá bằng các vị từ ngôn hành, bởi HĐNT đó không Số hóa bởi Trung tâm Học liệu –12 ĐHTN http://www.vn có các vị từ ngôn hành (Vp) tương ứng. Chẳng hạn, các hành động như rủ, sai, chửi, mắng, cãi. Chỉ ra sự thất bại của giả thiết ngôn hành, Austin quay lại với nhận định ở bước 2: Tất cả các phát ngôn đều là ngôn hành. Nghĩa là khi nói một phát ngôn bất kỳ, ta đã thực hiện một hành động đặc biệt: HĐNT.
Hơn nữa, khi thực hiện thứ hành động đặc biệt này, ta thực hiện không phải một mà là ba hành động đồng thời. Cụ thể: Hành động tạo lời là hành động tạo ra lời nói bằng cách vận động các bộ phận cấu âm (miệng, thanh hầu, vòm họng…) để tạo ra lời nói hoặc các cử động tay/ chân tạo ra chữ viết. Hành động mượn lời là hành động mà người nói, người phát dùng ngôn ngữ nhằm gây một hiệu quả ngoài ngôn ngữ ở người nghe, người nhận. Hiệu quả ngoài ngôn ngữ có thể là trạng thái tâm lý hoặc trạng thái vật lý, nó khá phân tán nên rất khó tìm được cơ chế chung.
Hành động tại lời (hành động ở lời) là hành động mà người nói thực hiện ngay khi nói năng nhằm gây ra những hiệu quả ngôn ngữ, khiến người nghe/ nhận có phản ứng tức thời. Tương ứng với hành động tại lời là lực ngôn trung (illocutionary force)- vốn là ý nghĩa thật sự của phát ngôn, thường trùng với ý muốn của người nói nhưng có trường hợp không hẳn như vậy. Cùng chung quan điểm với Austin, sau này, J. Searle cũng chỉ ra rằng: khi thực hiện một HĐNT, người ta thực hiện đồng thời ba hành động: hành động phát ngôn (utterance act), hành động mệnh đề (propositional act) hành động tại lời (illocutionary act).
Trong đó, hành động phát ngôn tương đương với hành động tạo lời của Austin- người nói (Sp1) dùng các đơn vị ngôn ngữ để tạo ta lời nói; hành động mệnh đề là nội dung của lời nói và nội dung này có thể đánh giá theo tiêu chí chân trị; hành động tại lời là sự bày tỏ chủ ý, ý định của người nói trong câu. Trở lại với lý thuyết của Austin: ở bước thứ ba, ông đã nhấn mạnh rằng mọi câu nói đều là hành động, những hành động ngôn từ. Tuy nhiên, để đạt hiệu quả giao tiếp, phải tuân thủ những điều kiện căn bản của các hành động ở lời (còn gọi là điều kiện may mắn, điều kiện thuận ngôn). Điều kiện ấy, theo Austin, gồm ba yếu tố sau: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu –13 ĐHTN http://www.vn “A- (i) Phải có thủ tục có tính chất quy ước và thủ tục này phải có hiệu quả cũng có tính quy ước; (ii) Hoàn cảnh và con người phải thích hợp với những điều quy định trong thủ tục.
B- Thủ tục phải được thực hiện (i) một cách đúng đắn và (ii) đầy đủ. C- Thông thường thì (i) những người thực hiện hành vi ở lời (hành động ở lời) phải có ý nghĩ, tình cảm, ý định đúng như đã được đề ra trong thủ tục và (ii) khi hành động diễn ra thì ý nghĩ, tình cảm, ý định đúng như nó đã có. [7;112] Austin lấy một loạt ví dụ để chứng minh rằng, nếu Sp1 vi phạm một trong những điều kiện trên thì hành động sẽ thất bại. Cũng theo hướng nghiên cứu ấy, sau này, qua phân tích cứ liệu, Searle điều chỉnh lại và khái quát thành bốn điều kiện may mắn (hay điều kiện thành công) cho các hành động tại lời như sau: A- Điều kiện nội dung mệnh đề (có thể là một mệnh đề hay hàm mệnh đề).
B- Điều kiện chuẩn bị: gồm những hiểu biết của Sp1 về năng lực, lợi ích, ý định… của Sp2. C- Điều kiện chân thành: Sp1 phải chân thành, tin tưởng, thực sự mong muốn… khi thực hiện hành động. D- Điều kiện căn bản: quy định kiểu trách nhiệm mà Sp1 hoặc Sp2 bị ràng buộc khi hành động nói được thực hiện. Searle gặp nhau chỗ chỉ ra rằng sự chân thành của người thực hiện góp phần làm nên thành công của hành động.
Chỗ khác nhau cơ bản là Austin thiên về phân tích lời nói như thủ tục có tính chất lễ nghi, phân tích tính hiện thực của hành động gắn với hoàn cảnh nói, trong khi Searle gắn nội dung lời nói với các tố chất, trách nhiệm của người nói và người nghe. Nhìn chung, lý thuyết hành động ngôn từ được Austin đặt nền móng và được các học trò của ông sau này kế tục, xây dựng. Chúng tôi trình bày ba giai đoạn nghiên cứu của Austin với những kết quả nổi bật của từng bước, đồng thời dẫn thêm quan điểm của các nhà ngữ dụng học khác để bổ sung cho các kết quả đó, nhằm nhấn mạnh những đóng góp của Austin, đồng thời chỉ ra những điểm nhấn mà lý thuyết HĐNT đã đạt được ở từng khía cạnh. Phân loại các HĐNT 1.
Phân loại của J. L Austin, có năm nhóm HĐNT lớn: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu –14 ĐHTN http://www.vn Thứ nhất, nhóm phán xử (verditives) gồm những hành động “đưa ra lời phán xét về một sự kiện hoặc một giá trị dựa trên những chứng cớ hiển nhiên hoặc dựa vào những lý lẽ vững chắc như: xử trắng án, xem là, tính toán, miêu tả, phân tích…” Thứ hai, nhóm hành xử (exercitives) gồm những hành động “đưa ra những quyết định thuận lợi hay chống lại một chuỗi hành động nào đó: ra lệnh, chỉ huy, biện hộ, khẩn cầu, giới thiệu.” Thứ ba, nhóm cam kết (commissives) bao gồm những hành động “ràng buộc Sp1 vào một chuỗi những hành động nhất định: hứa hẹn, bày tỏ lòng mong muốn, giao ước, bảo đảm…” Thứ tư, nhóm trình bày (expositives) bao gồm những hành động “trình bày quan niệm, lập luận, dẫn dắt, giải thích các từ như khẳng định, phủ định, từ chối, trả lời, phản bác.” Thứ năm, nhóm ứng xử (behabitives) bao gồm những hành động “phản ứng với cách xử sự của người khác, đối với các sự kiện có liên quan, chúng cũng là cách xử sự của người khác đối với các sự kiện có liên quan, chúng cũng là cách biểu hiện thái độ đối với hành vi hay số phận của người khác: xin lỗi, cám ơn, khen ngợi, chào mừng, phê phán, ban phước.”[7, 120] Việc phân loại này có ý nghĩa nhất định đối với việc nhận diện các HĐNT. Tuy nhiên, chỗ thiếu sót của Austin là tuy phân loại các HĐNT, nhưng thực chất việc này được thực hiện trên cơ sở các động từ. Thêm vào đó, Austin không đưa ra một tiêu chí phân loại nào cụ thể, do vậy, kết quả tuy khá thuyết phục nhưng vẫn mang màu sắc cảm tính.
Ngoài ra, việc xác định phạm vi từng nhóm không rõ ràng, khiến các hành động bị chồng chéo- vừa ở nhóm này vừa thuộc nhóm khác, hoặc bỏ sót- nhất là các trường hợp hành động trung gian giữa các nhóm. Phân loại của J. Searle Khắc phục những thiếu sót của Austin, J. Searle đã đưa ra 12 điểm khác biệt, có thể quy thành bốn tiêu chí chủ yếu là: đích ở lời (the point of the illocution); hướng khớp ghép lời với hiện thực (direction of fit); trạng thái tâm lý được thể hiện (expressed psychological states) và nội dung mệnh đề.
Với bốn tiêu chí này, ông đưa ra bảng xác lập năm nhóm HĐNT lớn như sau: Nhóm thứ nhất, tái hiện (biểu kiến- representatives) có “đích ở lời là miêu tả lại một sự tình đang được nói đến. Hướng khớp ghép là lời- hiện thực, trạng thái Số hóa bởi Trung tâm Học liệu –15 ĐHTN http://www.vn tâm lý là niềm tin vào điều mình xác tín, nội dung mệnh đề là một mệnh đề. Các mệnh đề này có thể đánh giá theo tiêu chí đúng/ sai logic”. Nhóm thứ hai, điều khiển hay cầu khiến (directives) có “đích ở lời là đặt Sp2 vào trách nhiệm thực hiện một hành động tương lai; hướng khớp ghép hiện thực- lời; trạng thái tâm lý là sự mong muốn của Sp1 và nội dung mệnh đề là hành động tương lai của Sp2”.
Nhóm này bao gồm những hành động tiêu biểu như ra lệnh, yêu cầu, hỏi, cho phép. Nhóm thứ ba, cam kết (commissives) có “đích ở lời là trách nhiệm phải thực hiện hành động tương lai mà Sp1 bị ràng buộc; hướng khớp ghép hiện thực- lời; trạng thái tâm lý là ý định của Sp1 và nội dung mệnh đề là hành động tương lai của Sp1”. Các hành động tiêu biểu của nhóm này là cam kết, hứa hẹn, bảo đảm… Nhóm thứ tư, biểu cảm (expressives) có “đích ở lời là bày tỏ trạng thái tâm lý phù hợp với hành vi ở lời (vui thích/ khó chịu, mong muốn/ rẫy bỏ…); trạng thái tâm lý thay đổi tuỳ theo từng loại hành vi; nội dung mệnh đề là một hành động hay tính chất nào đó của Sp1 hay Sp2”.