Chương 1: Tổng quan về hàng rào phi thuế quan trong thương mại quốc tế Chương 2 Thực trạng áp dụng hàng rào phi thuế quan đến hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa tại Việt Nam Chương 3: Một số vấn đề đặt ra khi áp dụng hàng rào phi thuế quan tại Việt Nam và các khuyến nghị 5 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ HÀNG RÀO PHI THUẾ QUAN TRONG THƢƠNG MẠI QUỐC TẾ Trong thương mại quốc tế, chính sách thương mại quốc tế được coi là hệ thống các quan điểm, nguyên tắc, quy tắc, biện pháp, hay các công cụ mà các quốc gia sử dụng với mục đích điều chỉnh các hoạt động thương mại sao cho phù hợp với lợi thế của từng quốc gia trong từng giai đoạn nhất định với mục đích tối đa hóa lợi ích. Việc hội nhập thành công vào thị trường toàn cầu của các nước đang phát triển được cho là dựa trên cơ sở thực hiện các chính sách kinh tế phù hợp như việc tự do hóa thuế quan cũng như các sáng kiến liên quan đến thuận lợi thương mại và hỗ trợ thương mại. Trong những năm qua, các cuộc đàm phán thương mại đa phương trong khuôn khổ Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại của Tổ chức Thương mại Thế giới (GATT/WTO) cũng như các thỏa thuận song phương và khu vực đã thúc đẩy việc cắt giảm đáng kể thuế quan. Nhưng với các mục đích khác nhau như bảo vệ nền sản xuất, môi trường, sức khỏe con người, động thực vật,.
nhiều quốc gia lựa chọn các biện pháp, chính sách ngoài thuế quan ở mức độ tinh vi hơn. Ngày nay, thương mại có nhiều chuyển biến, thay đổi so với trước: tốc độ tăng trưởng của thương mại quốc tế tăng nhanh hơn so với tốc độ tăng trưởng của thương mại nội địa, tốc độ tăng trưởng của hàng hóa vô hình tăng nhanh so hàng hóa hữu hình, nhu cầu về đời sống vật chất giảm thay vào đó nhu cầu văn hóa tinh thần tăng. Phạm vi, phương thức và cách thức cạnh tranh diễn ra ngày càng phong phú, đa dạng. Chu kỳ sống của sản phẩm dần rút ngắn lại, hàm lượng công nghệ kỹ thuật trong sản phẩm ngày càng tăng.
Quá trình phát triển, đổi mới đòi hỏi phải tự do hóa thương mại, mặt khác vẫn yêu cầu thực hiện bảo hộ với mức độ hợp lý. Hoạt động ngoại thương hiện nay ngày càng phát triển, đóng vai trò quan trọng trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, giúp cải thiện cán cân thanh toán, tạo công ăn việc làm cho người lao động góp phần đưa Việt Nam từng bước hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới. 6 Rào cản trong thương mại quốc tế có thể hiểu là các quy định về thuế quan hoặc phi thuế quan nhằm hạn chế sự di chuyển của hàng hóa qua biên giới giữa các quốc gia. Trong đó được hiện dưới hai hình thức là hàng rào thuế quan và phi thuế quan Hàng rào Thuế quan Trong lịch sử phát triển của thương mại quốc tế, thuế quan là biện pháp sử dụng phổ biến nhất nhằm hạn chế thương mại giữa các quốc gia.
Đây được xem công cụ cơ bản của chính phủ, xuất hiện từ thế kỷ XVI dưới thời La Mã cổ đại. Mặc dù, hiện nay, các quốc gia đều có xu hướng hướng tới tự do hóa nhưng không thể nào xóa bỏ hoàn toàn việc sử dụng hàng rào thuế quan để bảo hộ đối với một số hàng hóa hay nhóm hàng hóa nhất định. Hàng rào thuế quan được hiểu là các biện pháp, quy định đối với mỗi đơn vị khối lượng hay giá trị hàng hóa khi nó được vận chuyển giữa các lãnh thổ hải quan, được thể hiện dưới dạng thuế xuất khẩu và nhập khẩu. Thuế xuất khẩu là loại thuế đánh vào hàng hóa khi xuất khẩu ra lãnh thổ hải quan quốc gia sở tại.
Thuế xuất khẩu chỉ được sử dụng đối với nhóm ít các hàng hóa mà khi xuất khẩu ảnh hưởng đến an ninh quốc gia hoặc đối với tài nguyên khan hiếm vì việc thu thuế xuất khẩu có tác động tiêu cực tới hoạt động xuất khẩu cũng như giảm khả năng cạnh tranh của hàng hóa trong nước trên thị trường thế giới. Thuế nhập khẩu là thuế đánh vào hàng hóa nhập khẩu với mục đích hạn chế lượng nhập khẩu bảo vệ nền sản xuất trong nước và cũng tạo thên nguồn thu cho Chính phủ. Hiện nay, khi hội nhập kinh tế ngày càng phát triển sâu rộng thì các quốc gia có xu hướng dần tiến tới xóa bỏ hàng rào thuế quan. Tuy nhiên, trong WTO hay trong các FTA hiện nay thì thuế quan vẫn chưa hoàn toàn được dỡ bỏ,.
Hàng rào phi thuế quan Hàng rào phi thuế là những biện pháp mang tính cản trở đối với sự phát triển của hoạt động thương mại. Hàng rào phi thuế được áp dụng đối với cả hàng hóa xuất và nhập khẩu với các mục đích khác nhau. Hình thức của hàng rào phi thuế quan rất phong phú, đa dạng, gồm: Các biện pháp hạn chế định lượng, các rào cản kỹ thuật, các 7 biện pháp liên quan đến đầu tư nước ngoài, các biện pháp quản lý hành chính, các biện pháp bảo vệ thương mại tạm thời,. KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ CỦA HÀNG RÀO PHI THUẾ QUAN 1.
Khái niệm Hiện nay, trên Thế giới có nhiểu định nghĩa khác về hàng rào phi thuế được sử dụng trong thương mại quốc tế như: WTO không đưa ra một định nghĩa chuẩn về hàng rào phi thuế quan trong thương mại quốc tế mà hàng rào thương mại phi thuế quan được hiểu thông qua các quy định cụ thể, có khả năng gây cản trở tới thương mại trong từng Hiệp định đa biên của WTO, như việc đặt ra các áp dụng các tiêu chuẩn kỹ thuật để hạn chế thương mại theo Hiệp định về Tiêu chuẩn kỹ thuật (TBT). Vì vậy, hàng rào phi thuế quan có thể hiểu là những biện pháp phi thuế quan mang tính cản trở đối với thương mại mà không dựa trên cơ sở pháp lý hoặc khoa học cơ bản. Nghiên cứu của Hội đồng Hợp tác kinh tế Thái Bình Dương (PECC) đưa ra định nghĩa về hàng rào phi thuế theo góc độ ảnh hưởng của nó đến nền kinh tế trong nước “Các hàng rào phi thuế quan là mọi công cụ phi thuế quan can thiệp vào thương mại, bằng cách này làm biến dạng sản xuất trong nước”. 4] Tại Việt Nam, một số bài báo hay trang Web cũng sử dụng các định nghĩa khác nhau về hàng rào phi thuế quan, như trên Web của Phòng thương mại và Công nghiệp Việt Nam VCCI định nghĩa: “Hàng rào phi thuế quan là các biện pháp nằm ngoài thuế quan, có liên quan hoặc ảnh hưởng đến luân chuyển hàng hóa giữa các nước với mục tiêu cản trở đối với hàng hóa nhập khẩu mà không dựa trên cơ sở pháp lý khoa học bình đẳng” 5], trên một số tạp chí Tài chính lại sử dụng định nghĩa “Ngoài thuế quan ra, tất cả các biện pháp khác dù theo quy định pháp lý hay tồn tại thực tế mà có ảnh hưởng tới mức độ hoặc hướng quản lý hoạt động xuất nhập khẩu được gọi là các rào cản phi thuế quan” 6] Qua đó, có thể hiểu cơ bản “Hàng rào phi thuế quan là các rào cản không dùng đến các biện pháp thuế quan mà sử dụng các quy định pháp lý, quy định kỹ 8 thuật….được các quốc gia đưa ra với mục đích chủ yếu là bảo vệ nền sản xuất trong nước và có sức ảnh hướng tới định hướng, hoạt động xuất nhập khẩu của các quốc gia liên quan”.
Vì vậy, hàng rào phi thuế quan và các biện pháp phi thuế quan không đồng nhất mà nên coi hàng rào phi thuế quan chỉ là một phần của các biện pháp phi thuế quan. Tất cả các hàng rào phi thuế đều là các biện pháp phi thuế quan nhưng không phải tất cả các biện pháp phi thuế quan đều là hàng rào phi thuế. Các biện pháp phi thuế quan có thể là các biện pháp góp phần thúc đẩy thương mại phát triển, không phải rào cản thương mại nếu chúng được đưa ra ở mức độ hợp lý. Tuy nhiên, trong thực tế thì rất khó để phân biệt giữa hàng rào phi thuế và biện pháp phi thuế vì phải xét trên mục đích của biện pháp được đưa ra, vì đôi khi các biện pháp phi thuế được đưa ra với mục đích chính đáng như bảo vệ sức khỏe, môi trường,.
nhưng đối với các quốc gia liên quan nó được coi là rào cản. Như vậy chúng ta có thể thấy rằng, thuật ngữ hàng rào phi thuế hay các biện pháp phi thuế quan được sử dụng khá phổ biến nhưng chưa có một khái niệm thống nhất được công nhận trên phạm vi toàn thế giới và khó khăn để phân biệt. Để thuận tiện thì trong bài sẽ sử dụng khái niệm “hàng rào phi thuế quan là bất kỳ biện pháp, hành động ngoài thuế quan tác động tiêu cực đến hoạt động thương mại quốc tế” 1. Mục đích sử dụng các hàng rào phi thuế Trong thương mại quốc tế nói chung và trong chính sách thương mại của các nước nói riêng, quốc gia nào cũng có nhu cầu phải bảo hộ một số ngành sản xuất trong nước của mình.
Tuy nhiên, mục đích bảo hộ của các nước lại khác nhau tùy theo từng giai đoạn phát triển của nền kinh tế. Về cơ bản, các quốc gia xây dựng hàng rào phi thuế vì các mục đích chính như kinh tế, chính trị và xã hội. Vì mục đích chính trị Đối với một số nước có tiềm lực kinh tế thường sử dụng các biện pháp kinh tế để đạt được các mục tiêu về chính trị. Các quốc gia này có thể sử dụng các cách thức 9 khác nhau như cấm vận toàn bộ hoặc cấm vận từng phần đối với hoạt động thương mại quốc tế của nước khác, ngược lại họ cũng thể dành các ưu đãi đặc biệt cho một quốc gia nào đó để đạt được các mục đích chính trị.
Vì vậy, không có một quy chuẩn chung áp dụng cho các quốc gia, nguyên tắc dành ưu đãi cũng có sự khác biệt giữa các nước phát triển và đang phát triển. Bảo hộ ngành công nghiệp non trẻ Nhằm phát triển các ngành nghề mới, chưa phát triển trong nước, các quốc gia trước đây thường dùng các biện pháp thuế quan như việc áp đặt mức thuế cao để giảm lượng nhập khẩu vào quốc gia. Tuy nhiên, thuế quan dần được dỡ bỏ,Chính phủ các quốc gia chuyển sang tăng cường xây dựng các hàng rào phi thuế nhằm mục đích hạn chế lượng nhập khẩu, đảm bảo phát triển các ngành công nghiệp non trẻ, tăng khả năng cạnh tranh.