Chương 1: Giới thiệu tổng quan về vấn đề nghiên cứu. Trình bày tính cấp thiết vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và những đóng góp của đề tài nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết - trình bày cơ sở lý thuyết liên quan vấn đề nghiên cứu: lý thuyết về dịch vụ, chất lượng dịch vụ, sự hài lòng của khách hàng, mô hình nghiên cứu trước đây làm cơ sở xây dựng mô hình nghiên cứu. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu-từ cơ sở lý thuyết trong chương 2 tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu, xây dựng thang đo, trình bày phương pháp phân tích và xử lý số liệu download by : skknchat@gmail.com 7 Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận-trình bày kết quả phân tích số liệu khảo sát được; phân tích thống kê mô tả về mẫu khảo sát, kiểm định độ tin cậy các thang đo lường, phân tích nhân tố khám phá, phân tích tương quan và kiểm định mô hình hồi quy và các giả thuyết nghiên cứu, phân tích và đánh giá các kết quả có được và đưa ra kết luận về giả thuyết nghiên cứu và thảo luận kết quả.
Chương 5: Kết luận và kiến nghị- trình bày ý nghĩa kết quả nghiên cứu, từ đó đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ. Trình bày những hạn chế nghiên cứu và đưa ra định hướng tiếp theo. download by : skknchat@gmail.com 8 CHƢƠNG II: CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chương này tập trung trình bày cơ sở khoa học của nghiên cứu. Đó là khái niệm, lý thuyết và các nghiên cứu trước về dịch vụ, chất lượng dịch vụ, dịch vụ ngân hàng, sự hài lòng của khách hàng, cùng mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng.
Trên cơ sở đó tác giả đưa ra giả thuyết nghiên cứu, xây dựng mô hình lý thuyết sự hài lòng khách hàng cá nhân về chất lượng dịch vụ ngân hàng.1 Những lý luận cơ bản 2.1 Dịch vụ và dịch vụ ngân hàng 2.1 Khái niệm dịch vụ Theo Zeithaml & Bitner (2000) “Dịch vụ là những hành vi, quá trình cách thức thực hiện một việc nào đó nhằm tạo giá trị sử dụng cho khách hàng làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng” Theo Noel Capon (2009), dịch vụ là bất kỳ hành động hay sự thực hiện nào mà một bên cung cấp cho bên khác tồn tại một cách vô hình và không nhất thiết đi đến một quan hệ sở hữu. Tại Việt Nam theo Luật thương mại năm 2005 thì định nghĩa: cung ứng dịch vụ là hoạt động thương mại, theo đó một bên (sau đây gọi là bên cung ứng dịch vụ) có nghĩa vụ thực hiện dịch vụ cho một bên khác và nhận thanh toán, bên sử dụng dịch vụ (sau đây gọi là khách hàng) có nghĩa vụ thanh toán cho bên cung ứng dịch vụ và sử dụng dịch vụ theo thỏa thuận. Như vậy, Dịch vụ là bất kỳ biện pháp hay lợi ích nào mà một bên có thể cung cấp cho bên kia và chủ yếu là không thể sờ thấy được, và không dẫn đến một sự chiếm hữu một cái gì đó. Việc thực hiện dịch vụ có thể có và có thể không liên quan đến hàng hóa dưới dạng vật chất của nó.2 Khái niệm dịch vụ ngân hàng Trong quá trình phát triển kinh tế cho thấy rằng Ngân hàng là một loại hình tổ chức có vai trò đặc biệt quan trọng đối với nền kinh tế.
Ngân hàng vừa là nơi cung download by : skknchat@gmail.com 9 cấp vốn cho nền kinh tế, là cầu nối giữa doanh nghiệp với thị trường vừa là công cụ để Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế cũng như là cầu nối quan trọng giữa tài chính quốc gia với tài chính quốc tế. Trên thế giới cho rằng: dịch vụ ngân hàng được hiểu theo nghĩa rộng là toàn bộ các hoạt động tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối. mà ngân hàng cung cấp cho doanh nghiệp và công chúng. Tại Việt Nam theo điều 4 Luật tổ chức tín dụng 2010 quy định: hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản.
Theo cách hiểu tổng quát, dịch vụ được sản xuất ra là để thỏa mãn một nhu cầu nhất định cho khách hàng. Trong lĩnh vực ngân hàng, có thể x t đến các nhu cầu sau xuất phát từ phía khách hàng: nhu cầu về thu nhập, nhu cầu tài trợ, nhu cầu quản lý rủi ro, nhu cầu thanh toán và chuyển dịch tiền tệ, nhu cầu tư vấn và nhu cầu thông tin. Như vậy, chúng ta có thể định nghĩa dịch vụ ngân hàng là tập hợp các đặc điểm, tính năng, công dụng do ngân hàng tạo ra nhằm thỏa mãn nhu cầu và mong muốn nhất định cho khách hàng trên thị trường tài chính (Trương Quang Thông, 2012).3 Đặc điểm của dịch vụ Theo Trương Quang Thông (2012) cho rằng: dịch vụ có những đặc điểm chính khác với loại hàng hóa khác như: tính vô hình, tính không đồng nhất, tính không thể tách rời và tính không thể cất trữ. Chính những đặc điểm này làm cho dịch vụ trở nên khó định lượng trở thành loại hàng hóa đặc biệt.
Tính vô hình (intangible): Tính chất này xuất phát từ bản chất của dịch vụ. Đối với sản phẩm hữu hình, người mua có thể nhìn thấy, sờ và chạm cảm nhận trước khi quyết định mua và sử dụng chúng. Trong khi đó, dịch vụ không thể cảm nhận được trước khi mua, quyết định người mua thường chủ quan hơn là khách quan. Đây là đặc điểm cơ bản của dịch vụ, dịch vụ không tồn tại dưới dạng vật thể, không thể sờ mó, cân, đong, đo, đếm được một cách cụ thể như đối với các sản phẩm vật chất hữu hình khác.
Do download by : skknchat@gmail.com 10 tính chất vô hình, dịch vụ không có mẫu và cũng không có hàng dùng thử như sản phẩm vật chất. Chỉ thông qua việc sử dụng dịch vụ, khách hàng mới có thể cảm nhận và đánh giá chất lượng dịch vụ một cách đúng đắn nhất. Tính không đồng nhất (heterogeneous): Sản phẩm dịch vụ không thể tiêu chuẩn hóa được. Khách hàng tiêu dùng là người quyết định chất lượng dịch vụ dựa vào những cảm nhận của họ.
Những khách hàng khác nhau có những sự cảm nhận khác nhau, chất lượng dịch vụ cũng có giá trị thỏa mãn tùy theo nhu cầu riêng biệt của mỗi khách hàng. Vì vậy, việc đánh giá chất lượng dịch vụ hoàn hảo hay yếu kém khó có thể xác định dựa vảo một thước đo chuẩn mà phải xét đến nhiều yếu tố liên quan khác trong trường hợp cụ thể như cách thức phục vụ, lĩnh vực phục vụ, đối tượng phục vụ, thời gian và địa điểm phục vụ. Tính không thể tách rời (inseparable): Sản phẩm dịch vụ gắn liền với hoạt động cung cấp dịch vụ nên khó có thể phân chia rõ ràng giai đoạn sản xuất và giai đoạn sử dụng dịch vụ. Sự tạo thành và sử dụng dịch vụ thông thường diễn ra đồng thời cùng lúc với nhau.
Nếu hàng hóa thông thường trải qua bốn giai đoạn sản xuất, lưu kho, phân phối và tiêu thụ thì dịch vụ được tạo ra và sử dụng ngay trong suốt quá trình tạo ra nó, dịch vụ không thể tách rời nguồn gốc của nó Tính không thể cất trữ (unstored): Chính bởi đặc tính cơ bản của dịch vụ là tính vô hình không thể cân đong đo đếm được nên dịch vụ không thể tồn kho, bảo quản, cất trữ và vận chuyển từ khu vực này đến khu vực khác được. Dịch vụ là sản phẩm được sử dụng khi tạo thành và kết thúc ngay sau đó.2 Chất lƣợng dịch vụ và chất lƣợng dịch vụ ngân hàng 2.1 Khái niệm Chất lượng dịch vụ ngày càng trở thành yếu tố quan trọng mang tính cạnh tranh và là chìa khóa thành công trong chiến lược kinh doanh của mỗi doanh nghiệp. Chất lượng dịch vụ là một phạm trù rất rộng lớn và phức tạp phản ánh tổng download by : skknchat@gmail.com 11 hợp các nội dung kinh tế, kỹ thuật, xã hội nên có rất nhiều quan niệm khác nhau về chất lượng, tùy vào đối tượng tiếp cận mà khái niệm chất lượng được hiểu theo các cách khác nhau. Theo Advardsson, Thomasson và Ovretveit (1994) cho rằng chất lượng dịch vụ là dịch vụ đáp ứng được sự mong đợi của khách hàng và là nhận thức của họ khi đã sử dụng dịch vụ.
Theo Lewis &Michell (1990) và Dotchin & Oakland (1994) thì chất lượng dịch vụ liên quan đến khả năng dịch vụ đó đáp ứng nhu cầu hoặc kỳ vọng của khách hàng. Parasuraman và cộng sự (1985) cho rằng “Chất lượng dịch vụ là khoảng cách giữa sự mong đợi của khách hàng và nhận thức của họ khi sử dụng qua dịch vụ”. Còn Caruana (2000) cũng khẳng định: “ Chất lượng dịch vụ là kết quả đánh giá chất lượng lượng dịch vụ của khách hàng dựa trên nhứng tiêu chí thông qua kinh nghiệm và mong đợi của họ và những ảnh hưởng từ hình ảnh doanh nghiệp”. Zeithaml & Bitner (2000) thì cho rằng: “ Chất lượng dịch vụ là sự chuyển giao hoàn hảo hoặc là những dịch vụ hướng đến khách hàng tốt hơn là những kỳ vọng của họ”.
Chất lượng dịch vụ ngân hàng là một khái niệm để chỉ mức độ các đặc tính của sản phẩm dịch vụ ngân hàng nhằm thỏa mãn những nhu cầu khác nhau của khách hàng. Việc đánh giá chất lượng dịch vụ ngân hàng cũng phụ thuộc vào sự cảm nhận riêng biệt mỗi khách hàng, phụ thuộc vào mục đích tiêu dùng dịch vụ , thu nhập, trình độ nhận thức và hiểu biết mỗi khách hàng. Đặc tính của từng loại hình dịch vụ ngân hàng cần thỏa mãn được yêu cầu của khách hàng, cung cấp kịp thời và đảm bảo an toàn cho hoạt động của ngân hàng và khách hàng. Như vậy, chất lượng dịch vụ ngân hàng là năng lượng dịch vụ ngân hàng được ngân hàng cung ứng và thể hiện qua mức độ thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của khách hàng mục tiêu.2 Thành phần chất lƣợng dịch vụ Chất lượng dịch vụ ngày càng chứng tỏ vai trò quan trọng trong chiến lược kinh doanh của mỗi doanh nghiệp khi nó trở thành lợi thế cạnh tranh, là chìa khóa download by : skknchat@gmail.com 12 thành công của doanh nghiệp.
Chất lượng dịch vụ trở thành đề tài hấp dẫn đối với nhà nghiên cứu: Nghiên cứu Gronroos (1984) cho rằng: chất lượng dịch vụ được đánh giá bằng cách so sánh giữa giá trị mà khách hàng mong đợi trước khi sử dụng dịch vụ và giá trị mà khách hàng nhận được khi sử dụng dịch vụ.