Chương 1: Tổng quan - Chương 2: Tổng quan về kế toán CCTC và nghiên cứu hài hòa kế toán. - Chương 3: Thực trạng công cụ tài chính và cơ sở pháp lý về kế toán công cụ tài chính của hệ thống NHTM tại Việt Nam. - Chương 4: Phương pháp nghiên cứu - Chương 5: Kết quả nghiên cứu và kiến nghị TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN CÔNG CỤ TÀI CHÍNH VÀ NGHIÊN CỨU HÀI HÒA KẾ TOÁN 2. Tổng quan về công cụ tài chính Theo IAS 32 đoạn 11: “ Công cụ tài chính là bất kỳ hợp đồng nào làm phát sinh tài sản tài chính đối với đơn vị này, đồng thời phát sinh nợ phải trả tài chính hay công cụ vốn chủ sở hữu của đơn vị khác”.1 – Đối chiếu các loại tài sản tài chính và nợ phải trả tài chính sẽ làm rõ hơn về khái niệm công cụ tài chính ở trên.
Đối chiếu các loại tài sản tài chính với nợ phải trả tài chính Tài sản tài chính Nợ phải trả tài chính Tiền, tiền mặt hay tiền gửi ngân hàng Quyền theo hợp đồng nhằm: Nghĩa vụ bắt buộc theo hợp đồng nhằm: Nhận tiền hoặc tài sản tài chính khác Giao tiền hoặc tài sản tài chính khác từ các đơn vị khác, hoặc cho tổ chức khác, hoặc Trao đổi các tài sản tài chính hoặc các Trao đổi các tài sản tài chính hoặc khoản nợ tài chính với các đơn vị khác các khoản nợ tài chính với tổ chức khác dưới các điều kiện có lợi cho đơn vị. dưới các điều kiện bất lợi cho tổ chức. Hợp đồng (sẽ hoặc có thể) được thanh Hợp đồng (sẽ hoặc có thể) được thanh toán bằng các công cụ vốn chủ sở hữu toán bằng các công cụ vốn chủ sở hữu của chính đơn vị. của chính đơn vị.
Nguồn: chuẩn mực kế toán quốc tế IAS 32 Theo IAS 32 đoạn 11, công cụ vốn chủ sở hữu là bất kỳ hợp đồng nào chứng minh quyền sở hữu đối với phần lợi ích còn lại trong các tài sản của đơn vị sau khi trừ đi tất cả các khoản nợ của đơn vị đó. Chuẩn mực quốc tế về công cụ tài chính 2. Lịch sử hình thành và phát triển chuẩn mực quốc tế về công cụ tài chính Tháng 10/1984, IASC bắt đầu nghiên cứu về công cụ tài chính là các khoản đầu tư. Đến tháng 3/1986 IAS 25 “Kế toán các khoản đầu tư” ra đời.
Đây là IAS TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 đầu tiên về công cụ tài chính, nhưng chỉ tập trung vào giải quyết các công cụ tài chính chủ yếu là trái phiếu và cổ phiếu. Vào những thập niên cuối Thế kỷ 20, thị trường tài chính phát triển làm xuất hiện nhiều loại công cụ tài chính và đặc biệt là công cụ tài chính phái sinh. Điều này khiến IAS 25 trở nên không còn theo kịp thị trường tài chính vì không thể giải quyết được các vấn đề về ghi nhận, đo lường, trình bày và công bố và các vấn đề khác liên quan đến các công cụ tài chính ngày càng phức tạp. Chính vì lẽ đó mà vào năm 1988, IASC bắt đầu xây dựng chuẩn mực mới về công cụ tài chính.
Đến tháng 9/1991 IASC công bố bản dự thảo 40 “Công cụ tài chính” (ED 40: Exposure draft 40). Đầu năm 1994, ED 48 thay thế cho ED 40 và theo đó, IASC chia dự án về công cụ tài chính thành hai giai đoạn: - Giai đoạn một: trình bày và công bố công cụ tài chính. Giai đoạn này hoàn thành năm 1995 với sự ra đời của IAS 32 “Công cụ tài chính: trình bày và công bố”. - Giai đoạn hai: ghi nhận và đo lường công cụ tài chính.
Trước khi chuẩn mực chính thức hoàn tất, vào tháng 6/1998 IASC công bố ED 62 “Ghi nhận và đo lường công cụ tài chính”. Đến tháng 12/1998, giai đoạn này hoàn thành với sự ra đời của IAS 39 “Công cụ tài chính: ghi nhận và đo lường”. Khi đó, IAS 32 (phiên bản 1995) được chỉnh sửa cho phù hợp với IAS 39. Năm 2000, IAS 25 hết hiệu lực.
Năm 2003, IASB (thay thế vai trò IASC từ năm 2001) chỉnh sửa IAS 32, bổ sung “Kế toán phòng ngừa giá trị hợp lý cho danh mục phòng ngừa rủi ro lãi suất”. Năm 2004, IASB bổ sung “Điều kiện và ghi nhận ban đầu của lãi hoặc lỗ” trong IAS 39. Tháng 8/2005, IASB ban hành IFRS 7 “Công cụ tài chính: công bố”. IFRS 7 đã thay thế một số điều khoản về công bố trong IAS 32 và chính thức đổi tên IAS 32 thành “Công cụ tài chính: trình bày”.
Cùng thời điểm đó, IASB hiểu chỉnh IAS 39 về phòng ngừa rủi ro dòng tiền, giá trị hợp lý quyền chọn và hợp đồng bảo lãnh tài chính. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 Năm 2008, IAS 32 và IAS 39 tiếp tục được hiệu chỉnh về công cụ quyền chọn bán lại cho người phát hành và trách nhiệm thanh toán, về tái phân loại tài sản tài chính. Năm 2009, IAS 39 tiếp tục được hiệu chỉnh về công cụ phái sinh chìm và được thay thế một phần bởi IFRS 9. Tháng 4/2009, IASB bắt đầu tiến hành xây dựng IFRS mới về công cụ tài chính.
Kế hoạch xây dựng IFRS này bao gồm ba giai đoạn: - Giai đoạn một: Phân loại và đo lường công cụ tài chính - Giai đoạn hai: Tổn thất tài sản tài chính - Giai đoạn ba: Kế toán phòng ngừa rủi ro Mục tiêu của IASB là IFRS 9 sẽ thay thế hoàn toàn cho IAS 32 khi hoàn tất dự án Tháng 11/2009, IFRS 9 ra đời thay thế cho IAS 39 về việc cung cấp các nguyên tắc kế toán về phân loại và đo lường tài sản tài chính. Tháng 10/2010 IASB bổ sung IFRS 9 các yêu cầu liên quan đến việc phân loại và đo lường nợ phải trả tài chính và xóa bỏ ghi nhận công cụ tài chính. Tháng 8/2011 IASB công bố bản dự thảo đề xuất đẩy lùi ngày có hiệu lực bắt buộc của IFRS 9 từ ngày 01/01/2013 sang ngày 01/01/2015. Tháng 12/2011 IASB công bố chính thức ngày áp dụng IFRS 9 là ngày 01/01/2015.
Nội dung cơ bản của chuẩn mực kế toán quốc tế về công cụ tài chính Tính đến thời điểm hiện tại, chuẩn mực quốc tế về công cụ tài chính gồm có 04 chuẩn mực sau: IAS 32 “Công cụ tài chính: Trình bày”; IAS 39 “ Công cụ tài chính: Ghi nhận và đo lường”; IFRS 7 “ Công cụ tài chính: Thuyết minh” và IFRS 9 “ Công cụ tài chính”. Mục tiêu của IAS 32 là thiết lập các yêu cầu trình bày về công cụ tài chính. IAS 39 là về công cụ phòng ngừa, khoản mục được phòng ngừa và kế toán phòng ngừa. IFRS 7 là thiết lập các yêu cầu công bố về công cụ tài chính.
IFRS 9 quy định TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 các nguyên tắc phân loại, ghi nhận và đo lường tài sản tài chính và nợ phải trả tài chính. Mặc dù mỗi chuẩn mực có mục tiêu riêng, nhưng chúng đều thiết lập các nguyên tắc ghi nhận, đo lường, trình bày và công bố các công cụ tài chính. Những nội dung cơ bản theo IAS/IFRS này bao gồm: - Phân loại công cụ tài chính - Ghi nhận ban đầu và xóa sổ công cụ tài chính - Đo lường công cụ tài chính - Tổn thất tài sản tài chính - Kế toán phòng ngừa rủi ro - Trình bày và công bố công cụ tài chính 2. Phân loại công cụ tài chính Căn cứ vào yêu cầu của IFRS 7 về phân loại công cụ tài chính cho mục đích thuyết minh thông tin chi tiết về trừng loại công cụ tài chính.
Theo đó, công cụ tài chính bao gồm: - Tài sản tài chính được đo lường theo giá trị hợp lý với chênh lệch do thay đổi giá trị hợp lý được ghi nhận vào Báo cáo kết quả kinh doanh (FVTPL: Fair value through profits or loss) bao gồm: Tài sản tài chính được nắm giữ với mục đích kinh doanh Tài sản tài chính được doanh nghiệp lựa chọn đo lường theo FVTPL ngay từ khi ghi nhận ban đầu nhằm giảm tính không nhất quán khi ghi nhận và đo lường trên cơ sở đo lường khác. Ví dụ, doanh nghiệp phát hành trái phiếu và sử dụng số tiền thu được để đầu tư, khi đó tài sản tài chính là khoản đầu tư được phân loại là giữ để kinh doanh và được đo lường theo giá trị hợp lý, nhưng nợ phải trả tài chính là trái phiếu phải trả lại được đo lường theo nguyên giá phân bổ. Khi đó, để nhất quán trong việc ghi nhận và đo lường cả hai công cụ tài chính này, doanh nghiệp có thể lựa chọn ghi nhận theo giá trị hợp lý. - Tài sản tài chính được đo lường theo giá trị hợp lý với chênh lệch được ghi nhận ngay vào thu nhập tổng hợp khác (FVOCI: Fair value through other TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 comprehensive income).
Đây là các công cụ vốn chủ sở hữu không được đầu tư với mục đích kinh doanh nhưng doanh nghiệp lựa chọn ghi nhận theo FVOCI ngay từ khi ghi nhận ban đầu. - Tài sản tài chính được đo lường theo nguyên giá phân bổ (AC) theo IFRS 9 đoạn 4.2, khi: Doanh nghiệp nắm giữ tài sản tài chính với mục đích thu về các luồng tiền theo hợp đồng. Tiền gốc và lãi của tài sản tài chính được thanh toán vào một ngày đã xác định và lãi tính trên tiền gốc chưa thanh toán. - Nợ phải trả tài chính được đo lường theo giá trị hợp lý với chênh lệch ghi nhận vào Báo cáo kết quả kinh doanh (FVTPL) bao gồm: Nợ phải trả tài chính giữ lại để kinh doanh.
Nợ phải trả tài chính được doanh nghiệp lựa chọn đo lường theo FVTPL ngay từ khi ghi nhận ban đầu. - Nợ phải trả tài chính được đo lường theo nguyên giá phân bổ (AC) - Các công cụ phòng ngừa rủi ro: là công cụ phái sinh hay công cụ tài chính phi phái sinh (đối với phòng ngừa rủi ro tỷ giá hối đoái) được doanh nghiệp chỉ định là công cụ phòng ngừa, có giá trị hợp lý hay các luồng tiền được kỳ vọng bù trừ cho các thay đổi về giá trị hợp lý hay các luồng tiền của khoản mục được phòng ngừa. Ghi nhận và xóa bỏ công cụ tài chính Ghi nhận công cụ tài chính IFRS 9 đoạn 3. yêu cầu tài sản tài chính và nợ phải trả tài chính được ghi nhận khi và chỉ khi doanh nghiệp trở thành một bên đối tác của hợp đồng.
Xóa bỏ công cụ tài chính - IFRS 9 đoạn 3.