Chương 1: Cơ sở lý luận của công tác tạo động lực lao động. + Chương 2: Phương pháp nghiên cứu. + Chương 3: Phân tích và đánh giá thực trạng công tác tạo động lực cho người lao động tại Vietinbank- KCN Hải Dương. + Chương 4: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác tạo động lực lao động tại Vietinbank- KCN Hải Dương.
3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1- CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LAO ĐỘNG 1. Tổng quan về động lực và tạo động lực lao động. Động lực làm việc là những yếu tố thúc đẩy con người nâng cao mọi nỗ lực của mình nhằm đạt được mục tiêu hay kết quả cụ thể nào đó. Động lực làm viêc có thể ở dạng có ý thức hoặc vô thức, do đó không phải người lao động lúc nào cũng biết rõ điều gì đã tạo ra động lực làm việc cho họ.
Tuy vậy một điều không thể phủ nhận đó là động lực làm việc có ảnh hưởng rất mạnh mẽ đến năng suất, hiệu quả công việc vì động lực lao động là tất cả những gì tác động đến con người, thôi thúc con người làm việc, biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như của bản thân người lao động. Như vậy động lực xuất phát từ bản thân của mỗi con người. Khi con người ở những vị trí khác nhau, với những đặc điểm tâm lý khác nhau sẽ có những mục tiêu mong muốn khác nhau. Chính vì những đặc điểm này nên động lực của mỗi con người là khác nhau và động lực trong từng giai đoạn của từng con người cũng khác nhau.
Một tổ chức chỉ có thể đạt được năng suất cao khi có những nhân viên làm việc tích cực và sáng tạo. Điều đó phụ thuộc vào cách thức và phương pháp mà những người quản trị sử dụng để tạo động lực lao động cho nhân viên. Tạo động lực lao động được hiểu là tất cả các biện pháp của nhà quản trị áp dụng vào người lao động để tạo ra sự thỏa mãn cho người lao động, từ đó tạo ra động cơ cho người lao động làm việc thật tốt, hoàn thành mục tiêu mà tổ chức đặt ra và xa hơn nữa là làm cho người lao động gắn bó với tổ chức, không ngừng học tập và nỗ lực để nâng cao năng suất, hiệu quả làm việc. Tuy nhiên, để đưa ra được những biện pháp thúc đẩy người lao động hợp lý không 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phải là một việc đơn giản, cần có chính sách lâu dài và ổn định bởi động lực không tự nhiên mà có, cũng không tồn tại vĩnh viễn.
Điều này đòi hỏi nhà quản trị phải biết cách dự đoán cũng như kiểm soát được các hành vi của người lao động. Một trong những cách tốt nhất để nắm được hành vi của người lao động là thông qua việc nhận biết về động cơ và nhu cầu của người lao động. Các yếu tố ảnh hƣởng đến động lực làm việc. Các yếu tố thuộc về cá nhân.
- Nhu cầu cá nhân: Con người ở một khoảng không gian nhất định luôn có nhiều nhu cầu khác nhau, trong những nhu cầu đó nhu cầu nào đã chín muồi sẽ là động cơ mạnh nhất quyết định hành vi của họ và khi nhu cầu đó đã được thỏa mãn thì nó sẽ không còn là động cơ thúc đẩy con người làm việc nữa mà lúc này nhu cầu mới xuất hiện sẽ đóng vai trò này. - Giá trị cá nhân: Giá trị cá nhân ở đây có thể hiểu là trình độ, hình ảnh của người đó trong tổ chức hay xã hội. Tuỳ theo quan điểm giá trị khác nhau của mỗi cá nhân mà họ sẽ có những hành vi khác nhau, khi người nhân viên ở những vị trí khác nhau trong tổ chức thì thang bậc giá trị cá nhân của họ cũng thay đổi dù nhiều hay ít. - Đặc điểm tính cách: Tính cách con người cũng là yếu tố cơ bản tác động đến hành vi hay ứng xử của người nào đó.
Ví dụ khi gặp khó khăn hay trở ngại trong công việc thì người có tính độc lập và dám chịu trách nhiệm sẽ xem đó là một động lực để quyết tâm làm việc tốt hơn còn nếu là người không dám đối diện với trách nhiệm, sống phụ thuộc vào người khác thì họ sẽ run sợ trước sự khó khăn này và họ có thể sẽ bỏ dở chừng công việc hoặc đi tìm một người dám đứng ra chịu trách nhiệm hộ họ. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Khả năng, năng lực của mỗi người: Đánh giá đúng năng lực nhân viên là cơ sở để nhà quản lý sử dụng tốt nhất nhân viên trong tổ chức. Một người lao động sẽ thoải mái hơn khi họ được giao những công việc phù hợp với khả năng và năng lực của họ vì họ biết được chắc chắn rằng họ sẽ hoàn thành được công việc đó ở mức tốt nhất. Ngược lại khi phải đảm nhận những công việc ngoài khả năng hoặc những công việc mà họ biết chắc rằng nếu họ cố gắng cũng không thực hiện công việc ấy được tốt thì sẽ rất dễ gây nên tâm lý bất mãn của người lao động với tổ chức, doanh nghiệp.
Các yếu tố thuộc về công việc Tính hấp dẫn của công việc tạo nên sự thoả mãn đối với công việc của nhân viên. Sự thoả mãn sẽ được thể hiện ở thái độ của người đó trong quá trình làm việc. Tính hấp dẫn của công việc là một khái niệm khá rộng, đối với nhân viên nó không chỉ là một công việc như mong muốn mà nó còn là sự kiểm soát đối với công việc, sự ủng hộ của lãnh đạo trong quá trình làm việc, những phần thưởng, trợ cấp và khả năng thăng tiến đối với công việc… Tất cả những vấn đề này có tác dụng tạo động lực cho nhân viên trong quá trình làm việc. Khi nhân viên được giao những công việc phù hợp với khả năng, sở trường của họ thì họ sẽ phát huy năng lực làm việc và họ sẽ cảm thấy thoải mái hơn khi nhận được lương, thưởng, trợ cấp, phúc lợi phù hợp với nhu cầu của họ.
Tuy nhiên không phải nhu cầu vật chất tồn tại ở tất cả nhân viên, có người thích tiền nhưng có người lại không phải là như vậy có thể nhu cầu của họ sẽ là sự tự do trong công việc, muốn được đi nhiều…vì vậy nhà quản lý phải dựa vào đặc điểm của mỗi cá nhân để thiết kế lên một công việc phù hợp nhất. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Các yếu tố thuộc về doanh nghiệp - Chính sách quản lý doanh nghiệp: Chính sách quản lý doanh nghiệp phải bao gồm nhiều biện pháp khác nhau vì một chính sách của doanh nghiệp tác động đến nhiều con người do vậy nó có tác động đến nhiều thái độ, hành vi của người lao động. Việc quản trị sẽ có hiệu quản nhất khi các nhà quản trị biết kết hợp đúng đắn các biện pháp, các công cụ quản lý.
- Điều kiện môi trường làm việc: Môi trường làm việc tác động rất lớn đến kết quả làm việc của người lao động theo nhiều khía cạnh khác nhau như điều kiện tâm sinh lý lao động, điều kiện thẩm mỹ, điều kiện tâm lý xã hội. - Quan hệ trong lao động: Yếu tố này có ảnh hưởng rất lớn đến động lực lao động, một câu hỏi đặt ra là tại sao có nhiều doanh nghiệp trả lương cao nhưng vẫn không thu hút và gìn giữ được đội ngũ lao động giỏi, rất nhiều người lao động trả lời rằng do họ không được lãnh đạo tôn trọng, quan tâm đến đời sống người lao động. Vì vậy để có thể gìn giữ lao động giỏi cho công ty, cần tạo ra quan hệ tốt đẹp trong lao động, tạo ra cho người lao động tâm lý thoải mái, mọi người gắn bó giúp đỡ nhau, từ đó họ sẽ gắn bó với công ty hơn. Một số thuyết cơ bản liên quan đến động lực lao động Có nhiều học thuyết liên quan đến động lực lao động nhưng trong nghiên cứu này tôi dựa trên 4 cơ sở lý thuyết cơ bản đó là: Lý thuyết bậc thang nhu cầu của Maslow; lý thuyết hai yếu tố của Herzberg, lý thuyết công bằng của John Stacy Adams và lý thuyết kỳ vọng của Victor-Vroom.
Thuyết nhu cầu của Maslow Abraham Maslow cho rằng người lao động có rất nhiều nhu cầu khác nhau mà họ khao khát được thỏa mãn. Maslow chia các nhu cầu đó thành năm loại và sắp xếp theo thứ bậc như sau: 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nguồn: Kynangsong. Tháp nhu cầu của A.Maslow Nhu cầu tự nhiên của mỗi con người được chia thành các thang bậc khác nhau từ đáy lên tới đỉnh phản ánh mức độ cơ bản của nó đối với sự tồn tại và phát triển của con người vừa là một sinh vật tự nhiên vừa là một thực thể xã hội. Các nhu cầu tồn tại hay nhu cầu sinh lý: đó là những nhu cầu căn bản như: thức ăn, nước uống, nghỉ ngơi hay nhà ở.
Cơ thể con người cần phải có những nhu cầu này để tồn tại. Tại nơi làm việc, một người phải được thỏa mãn những nhu cầu vật chất của anh ta, anh ta cần được trả lương hợp lý để có thể nuôi sống bản thân anh ta và gia đình. Các nhu cầu an toàn hay nhu cầu được bảo vệ: là nhu cầu được đảm bảo về sự an toàn đối với thân thể, là được làm việc trong một nơi an toàn, ổn định để đảm bảo cuộc sống lâu dài. Nhu cầu xã hội: là nhu cầu giao tiếp với người khác và gặt hái được những lợi ích từ những mối quan hệ bên ngoài xã hội, muốn có cảm giác được là thành viên của một tập thể, một hội đoàn, một nhóm bạn bè.
8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nhu cầu được kính trọng hay được công nhận đối với sự thành đạt, tài năng, năng lực và kiến thức của một cá nhân. Tại nơi làm việc, những vật tượng trưng cho địa vị có thể thỏa mãn các nhu cầu này. Xe hơi do công ty cấp, xe trong khu đậu xe riêng, những căn phòng làm việc lớn và các thư ký riêng có thể là những thứ cần thiết thiết thực, song chúng cũng để lại ấn tượng về tầm quan trọng và sự thành đạt. Nhu cầu tự hoàn thiện hay tự thể hiện: là nhu cầu biểu lộ và phát triển khả năng của cá nhân.
Tại nơi làm việc, nhu cầu này đặc biệt quan trọng đối với các quản trị viên cấp cao.