Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu các vấn đề lý luận về góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ 1. Nghiên cứu về khái niệm góp vốn và góp vốn thành lập công ty Góp vốn và góp vốn thành lập công ty và góp vốn bằng các hình thức khác nhau đã được nhiều nhà nghiên cứu đề cập đến dưới nhiều mức độ khác nhau trong các công trình nghiên cứu khoa học.
Hầu hết các công trình nghiên cứu đều nhìn nhận góp vốn và góp vốn thành lập công ty dưới hai khía cạnh kinh tế và pháp lý 3, 14, 16, 19, 22, 28. Ở khía cạnh kinh tế, góp vốn thường được hiểu là sự đóng góp của các các thành viên để tạo ra khối tài sản chung cho công ty nhằm đảm bảo cho những chi phí đối với hoạt động của công ty và đảm bảo nghĩa vụ trả nợ cho các chủ nợ khi công ty lâm vào tình trạng phá sản 20; tr. Bên cạnh đó, việc góp vốn hay hùn vốn cũng là việc nhiều người cùng góp nguồn lực của mình để tạo nên một nguồn lực chung lớn hơn nhằm thực hiện ý tưởng kinh doanh mang lại mục đích sau cùng là lợi nhuận 17. Ở phương diện pháp lý, góp vốn được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau.
Đó là việc nhà đầu tư đưa tài sản dưới các hình thức khác nhau vào doanh nghiệp để trở thành chủ sở hữu hoặc đồng chủ sở hữu doanh nghiệp hay đó là hành vi chuyển giao tài sản, nói cách khác là hành vi chuyển các quyền đối với tài sản là vốn góp để đổi lấy quyền lợi đối với doanh nghiệp 28; tr.25, hoặc một cách khác góp vốn là hành vi tự nguyện chuyển giao tài sản hay đưa tài sản riêng của mình vào công ty sử dụng chung nhằm mục đích kiếm lời 20; tr. Tuy nhiên, dù định nghĩa thế nào thì ở 7 phương diện pháp lý, các công trình nghiên cứu đã công bố có khẳng định, góp vốn đều là hành vi chuyển dịch tài sản từ bên góp vốn sang doanh nghiệp nhận góp vốn để đổi lấy những quyền lợi nhất định như quyền của chủ sở hữu doanh nghiệp, lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Về khái niệm góp vốn thành lập công ty, tác giả Phạm Tuấn Anh cho rằng, “góp vốn thành lập công ty là việc tạo lập ra công ty thông qua việc chuyển giao tài sản, tri thức hoặc công sức của người góp vốn để hình thành vốn của công ty” 3; tr. Còn theo tác giả Đoàn Thu Hồng 22; tr.9, “xét theo phương diện kinh tế, góp vốn thành lập doanh nghiệp được hiểu là những đóng góp mà tổng cộng những phần đóng góp ấy trở thành dấu hiệu đại diện cho số vốn của doanh nghiệp.
Thực chất đó là của “hồi môn” mà mỗi thành viên dành cho doanh nghiệp lúc mới thành lập”. Xét theo phương diện pháp lý, hành vi góp vốn thành lập doanh nghiệp được hiểu là việc một tổ chức, cá nhân chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền hưởng dụng một tài sản vào doanh nghiệp để được hưởng các quyền lợi từ doanh nghiệp sẽ được thành lập. Đó có thể là quyền hưởng lợi tức hoặc quyền điều hành hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Nghiên cứu về khái niệm, đặc trưng, vai trò của góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ.
Trong số các công trình nghiên cứu trực tiếp về góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT, rất ít các công trình nghiên cứu đưa ra khái niệm góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT cũng như đề cập đến các đặc trưng của góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT 16], [22. Chủ yếu các công trình nghiên cứu tiếp cận từ các khái niệm góp vốn thành lập công ty và khái niệm quyền SHTT 13, 28, 29, 33. Về khái niệm về góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT, tác giả Đoàn Thu Hồng 22 và Đoàn Thị Dung 16 đều cho rằng: “Góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền SHTT 8 là việc các chủ thể quyền chuyển giao quyền sở hữu hoặc chuyển nhượng quyền sử dụng đối với tài sản trí tuệ của mình để góp vốn thành lập doanh nghiệp nhằm đạt được mục tiêu trở thành chủ sở hữu hoặc các chủ sở hữu chung của doanh nghiệp”. Tác giả Nguyễn Quang Duy cũng đưa ra khái niệm về góp vốn bằng tài sản vô hình nói chung, theo đó, bản chất của góp vốn bằng tài sản vô hình là việc người góp vốn chuyển giao những quyền tài sản (tài sản vô hình) của mình cho người kinh doanh (thương nhân) để đổi lại những lợi ích từ việc góp vốn đó 17.
Về đặc trưng của góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT: tác giả Đoàn Thu Hồng 22 đã chỉ ra một số đặc trưng của góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT, bao gồm: (i) chủ thể góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền SHTT phải là chủ sở hữu của các đối tượng quyền SHTT; (ii) việc chuyển giao quyền sở hữu hoặc chuyển nhượng quyền sử dụng của tài sản trí tuệ ngoài việc tuân theo những quy định của pháp luật về góp vốn thành lập doanh nghiệp nói chung còn phải tuân theo các quy định riêng về trình tự, thủ tục chuyển giao quyền của Luật SHTT; (iii) về thời hạn góp vốn, các bên phải xem xét đến yếu tố thời hạn bảo hộ của đối tượng SHTT; (iv) chủ sở hữu chỉ có thể góp vốn bằng quyền tài sản đối với các đối tượng SHTT mà không được sử dụng quyền nhân thân đối với các đối tượng SHTT để góp vốn; (iv) về định giá quyền SHTT, việc xác định giá trị tài sản góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu các tài sản hữu hình chính là giá trị của các tài sản hữu hình căn cứ vào tính chất vật lý của tài sản đó và giá của tài sản tương ứng trên thì trường, tuy nhiên, việc định giá đối với tài sản trí tuệ lại khó hơn rất nhiều và không áp dụng được các nguyên tắc nêu trên. Tác giả Đào Thị Dung 16 cũng đồng quan điểm về một số đặc trưng liên quan đến trình tự, thủ tục, thời hạn góp vốn, định giá quyền SHTT góp vốn nói trên. Tuy nhiên, đối với chủ thể góp vốn, tác giả cho rằng chủ thể góp 9 vốn kinh doanh bằng quyền SHTT là chủ sở hữu hoặc chủ thể có quyền sử dụng các đối tượng SHTT. Bên cạnh đó, về đối tượng góp vốn, chủ sở hữu có thể góp vốn bằng quyền tài sản hoặc quyền nhân thân gắn liền với quyền tài sản đối với các đối tượng của quyền SHTT mà không được dùng các quyền nhân thân đối với đối tượng của quyền SHTT để góp vốn.
Ngoài ra tác giả đã bổ sung thêm đặc trưng về hình thức góp vốn, theo đó, có hai hình thức góp vốn đối với quyền SHTT, đó là góp vốn bằng chuyển quyền sở hữu và góp vốn bằng chuyển quyền sử dụng. Về vai trò của góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT: vai trò của tài sản trí tuệ đối với doanh nghiệp đã được rất nhiều các nhà nghiên cứu đề cập đến [44], 69, 70, 84, 98… Tác giả Kelvin King 70 nhận định rằng vốn trí thức được công nhận là tài sản quan trọng nhất của nhiều công ty lớn nhất và mạnh nhất trên thế giới, nó là nền tảng cho sự thống trị và tính liên tục cho các tập đoàn lớn hàng đầu. Theo tác giả Đoàn Văn Trường 46; tr.80, quyền SHTT là nguồn lực trung tâm tạo ra của cải trong hầu hết tất cả các công nghiệp. Đồng thời, theo tác giả, nguồn vốn bây giờ được thống trị bởi quyền SHTT như là bí quyết kỹ thuật, sáng chế, nhãn hiệu, bản quyền và bí mật thương mại.
Tuy nhiên, việc góp vốn và nhận góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT có vai trò, ý nghĩa như thế nào đối với bên góp vốn và bên nhận góp vốn thì hiện nay gần như chưa có một công trình nào nghiên cứu và lý giải một cách sâu sắc về vấn đề này. Nghiên cứu về góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ và các hình thức thương mại hóa quyền sở hữu trí tuệ khác Quyền SHTT thường được các nhà nghiên cứu dưới hai khía cạnh: (i) Khía cạnh dân sự của quyền SHTT với các quyền hợp pháp của các chủ thể quyền SHTT và (ii) Khía cạnh thương mại của quyền SHTT với góc độ là một loại tài sản có thể chuyển nhượng, li-xăng, góp vốn… 10 Nghiên cứu về các hình thức thương mại của quyền SHTT có thể kể đến một số các công trình của các tác giả Andrew J.Smith và Russel L. Parr 93, Tổ chức SHTT Thế giới WIPO 44, Hệ thống trợ giúp về quyền SHTT Châu Âu (The European IPR Helpdesk) 63, 64, tác giả Nguyễn Bá Bình 6, tác giả Lê Nết 29, tác giả Phan Quốc Nguyên 32. Trong đó, tác giả Andrew Clay 1 tập trung nghiên cứu về nhượng quyền thương mại và cấp li-xăng.
Tác giả Abraham Lincoln 97 nghiên cứu về chuyển nhượng, li - xăng. Tác giả Phan Quốc Nguyên 32 nghiên cứu một cách khái quát về năm hình thức thương mại hóa quyền SHTT, bao gồm: chủ sở hữu tự khai thác quyền SHTT của mình, chuyển nhượng quyền SHTT, chuyển quyền sử dụng, nhượng quyền thương mại và góp vốn bằng quyền SHTT. The European IPR Helpdesk đưa ra ba hình thức thương mại cơ bản của quyền sở trí tuệ: chuyển nhượng (Assignment), li-xăng, nhượng quyền thương mại (licences and franchising), liên doanh và công ty spin-off (joint venture and spin-off) 63, 64. Tổ chức SHTT thế giới WIPO 44, tr81-97 tập trung nghiên cứu hai hình thức thương mại của quyền SHTT, bao gồm li- xăng và liên doanh.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trong nước và ở nước ngoài đã có sự so sánh, đánh giá về ưu và nhược điểm của các hình thức thương mại hóa quyền SHTT. Tác giả Abraham Lincoln đã có sự so sánh về các ưu điểm cũng như hạn chế giữa hình thức chuyển nhượng và li – xăng 92; tr19-28. Tác giả Phan Quốc Nguyên 32 đã chỉ ra một số điểm tương đồng và khác biệt giữa việc góp vốn bằng quyền sở hữu sáng chế với việc chuyển nhượng quyền sở hữu sáng chế và góp vốn bằng quyền sử dụng sáng chế với li – xăng sáng chế. Tác giả Nguyễn Bá Bình 6 tập trung đã chỉ ra các điểm tương đồng và khác biệt giữa nhượng quyền thương mại và hoạt động chuyển giao công nghệ, hoạt động li – xăng.