phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, khóa luận chia làm ba chương : Chương một : Khái quát chung về làng Tiên Điền; Chương hai : Bản sắc văn hóa làng Tiên Điền; Chương ba : Những giải pháp nhằm giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa làng Tiên Điền. Khái quát chung về làng Tiên Điền 1.Một số khái niệm 1. Làng Nói đến cơ cấu tổ chức xã hội truyền thống của Việt Nam là phải nói đến gia đình – họ tộc – làng – nước. Trong đó làng là một cấu trúc trung gian, cầu nối giữa gia đình ( nhà) và nước.
Đây cũng là cộng đồng cư trú cơ bản của người Việt, có nguồn gốc từ xa xưa. Về mặt ngôn ngữ, từ làng chưa rõ có từ bao giờ. Theo các nhà Hán học có thể làng là thôn, là lý, là hương. Làng vừa là một cộng đồng kinh tế vừa là một cộng đồng văn hóa, lại vừa là một đơn vị hành chính (trước Cách Mạng tháng Tám).
Dân làng thường là những người có họ hàng với nhau (một hoặc nhiều họ), và mỗi họ thường có những tổ tiên đầu tiên đến nơi cư trú và trở thành dân chính thức hoặc dân ngụ cư. Mỗi làng có ruộng đất riêng, có nơi thờ Thành hoàng riêng. Tùy theo địa bàn lớn hay nhỏ, số dân nhiều hay ít mà có những quy mô khác nhau; có làng chỉ có mười hộ, có làng có vài trăm hộ. Cấu trúc của làng gồm 3 loại : 1.
Theo huyết thống (họ); 3. Theo lứa tuổi (giáp). Nói chung làng thường gắn với sản xuất nông nghiệp nhưng về sau do sự phân công lao động tăng lên, có những làng làm nghề thủ công và buôn bán. Đối với người Việt chúng ta, làng là nơi ý niệm sâu sắc và thiêng liêng nhất, là tượng trưng của quê cha đất tổ.
Ngày xưa dù đi đâu, ở đâu người ta vẫn tìm về làng, như về cội nguồn, để được sống giữa họ hàng, làng mạc, để cuối cùng được chôn ở làng quê, bên cạnh tổ tiên Những thay đổi lớn lao trong lịch sử đất nước không làm mất đi ý thức làng, như ý thức đầu tiên ở người Việt. Một mặt làng có sức sống mãnh liệt, 11 mặt khác xét về cấu trúc làng là một cấu trúc biến động, không có làng bất biến. Sự biến đổi của làng là do sự biến đổi chung của đất nước. Chính vì vậy mà làng ở miền Trung, miền Nam tuy gốc gác cũng là người Việt từ miền Bắc di cư vào, nhưng với môi trường sống mới, hình thức cơ cấu làng xã và quan hệ xã hội thay đổi nhiều nên không còn những đặc điểm như làng Bắc Bộ.
Làng là một đơn vị xã hội của văn hóa Việt Nam, làng của người Việt là một môi trường văn hóa. Ở đó mọi thành tố, mọi hiện tượng văn hóa được sinh thành, phát triển, lưu giữ và trao truyền tới các cá thể. Con người Việt Nam trong lịch sử, từ rất lâu đời là con người vừa của làng, vừa của nước, đã mang trong mình ý thức cộng đồng làng và ý thức cộng đồng rộng lớn hơn là miền (vùng, xứ) và nước. Trong những giai đoạn lịch sử, ý thức đó đã tạo nên cái chung của văn hóa dân tộc, những cái riêng của văn hóa từng vùng, từng làng.
Khi nói về văn hóa làng, một số nhà nghiên cứu đã nêu bật một đặc trưng làng Việt Nam. Đó là ý thức cộng đồng làng, ý thức tự quản. Quyền quản lý làng xã được thể hiện trong hương ước làng. Và tính đặc thù độc đáo rất riêng của mỗi làng trong tập quán, nếp sống, tín ngưỡng, tôn giáo, thậm chí giọng nói và cách ứng xử.
Vì thế, đứng trên phương diện thể chế chính trị và cơ cấu xã hội hạ tầng, có thể nói trong thời gian Bắc thuộc người Việt mất nước chứ không mất làng. Văn hóa làng Nói về văn hóa làng, nếu văn hóa dân tộc là một đại lượng lớn nhất thì văn hóa làng là một đại lượng nhỏ nhất. Văn hóa làng là bộ phận cơ bản tạo nên những yếu tố ổn định của kết cấu văn hóa dân tộc ở Việt Nam, được gọi là làng không chỉ vì có một địa bàn cư trú riêng mà còn vì có một nền văn hóa với những sắc thái riêng. Đó là phương ngữ, là tập quán, là hội hè, các lệ làng phép nước, các tổ chức phường hội, các hình thức sinh hoạt văn nghệ dân gian.
Khi 12 nói về làng và văn hóa hóa làng, cố thủ tướng Phạm Văn Đồng từng có một nhận xét : “ Về cái làng trong lịch sử nước ta, thì có biết bao chuyện lý thú đáng nói mà các nhà sử học, xã hội học đang dày công tìm tòi và nghiên cứu nhằm rút ra những bài học có giá trị hiện thực cho ngày nay. Trong lịch sử lâu dài của dân tộc, làng là điểm tập hợp cuộc sống cộng đồng của mọi người, cuộc sống đa dạng và phong phú, vừa có tính đẳng cấp phong kiến, vừa có tính cộng đồng rất đáng quý. Lúc bấy giờ câu nói “ Phép vua thua lệ làng” có cái đạo lý chân chính của nó, phần nào đó thể hiện một dạng dân chủ mà phải biết nhìn với con mắt lịch sử thì mới thấy hết ý nghĩa độc đáo. Mặt khác lệ làng bao gồm một số điều tiêu cực đè nặng lên con người và cản trở sự phát triển của các dân tộc, cả quốc gia mà chúng ta cần nhận rõ để không rơi vào sai lầm, khôi phục những cái lỗi thời và lạc hậu.
Vậy đó, làng tồn tại trong lịch sử như một thực thể văn hóa, làng nào còn tồn tại đến ngày nay thì đều có văn hóa làng mình. Văn hóa còn thì dân tộc còn. Dân tộc ta phân cư thành nhiều làng thì : “ Làng còn thì văn hóa làng còn”. Bởi vì một cuộc sống có sản xuất, có đấu tranh, xây dựng, có học tập, có văn hóa văn nghệ…để trường tồn và phát triển là có văn hóa.
Vậy văn hóa làng xuất hiện và tồn tại cùng với từng cái làng cụ thể. Hà Tĩnh là một trong những vùng có cư dân cổ sinh sống, có những làng cổ có nguồn gốc từ các thời cổ đại và có hàng chục làng cổ có tuổi năm bảy trăm năm hay lâu hơn nữa. Cũng như nhiều địa phương khác trong nước, cư dân Hà Tĩnh sống chủ yếu bằng nghề nông. Là một vùng đất cổ nên việc hình thành làng với tất cả các yếu tố cần thiết và chặt chẽ của nó có từ rất sớm.
Từ bao giờ làng được lập ra trên các vùng của Hà Tĩnh thì đến nay cũng chưa có tư liệu nào nói rõ. Hình như không ở đâu có làng Mai Phụ ( Thạch Hà), làng này có tên là Kẻ Mõm với tinh thần chiến đấu dưới sự lãnh đạo khởi nghĩa của Mai Thúc Loan từ thế kỷ thứ VIII, và ở làng này lại nổi tiếng có nghề làm muối. Có nhiều 13 làng ven biển có những lễ hội lớn nhất vùng, cảnh đẹp có nhiều sự tích, thần phả, truyền thuyết để lại cho các làng không biết bao nhiêu câu chuyện huyền thoại ca ngợi về làng. Làng Nhượng bạn, Hội Thống, Tiên Điền là những vùng ven biển có nhiều đình, đền, chùa, miếu thờ thần thánh, thờ Phật là biểu tượng của văn hóa tâm linh người dân ở làng.
Tất cả những sản phẩm vật chất và sản phẩm tinh thần do nhân dân trong các làng, xã xây đắp nên, lưu truyền cho mãi đến nay và còn có giá trị về văn hóa đó chính là văn hóa làng. Như vậy làng nào dù lớn hay nhỏ, giàu hay nghèo, cứ có nghề, có lao động để sống và còn tồn tại đến ngay nay phải chăng điều đó có nét văn hóa riêng của mình. Địa lý hành chính, điều kiện tự nhiên Dọc quốc lộ 1A theo hướng Bắc – Nam, cách trung tâm thành phố Vinh 10km du khách sẽ gặp một ngã ba lớn, rẽ trái vào quốc lộ 8B rồi xuôi theo phía biển 6km, một làng quê cổ kính sẽ hiện ra. Đó là làng Tiên Điền, quê hương của cụ Nguyễn Du – Đại thi hào dân tộc, danh nhân văn hóa Thế giới.
Đến với Tiên Điền du khách sẽ gặp ngay khu lưu niệm Nguyễn Du ở vị trí đầu làng. Tiên Điền nay là một xã thuộc huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh với diện tích gần 359,5 ha và 3300 nhân khẩu. Về vị trí địa lý: Tiên Điền nằm ngay trung tâm huyện Nghi Xuân, phía Bắc Tỉnh Hà Tĩnh, bên dọc triền sông Lam thơ mộng; Đông Bắc giáp xã Xuân Hải, Tây Bắc giáp thị trấn Nghi Xuân, Đông giáp xã Xuân Yên, Nam giáp xã Xuân Thành, Xuân Mỹ. Địa thế làng không bằng phẳng mà mấp mô bởi nhiều cồn cát và phù sa của sông Lam tạo thành.
So sánh chung trong toàn huyện Nghi Xuân thì Tiên Điền là xã nhỏ nhất, đất chật, người đông. Tiên Điền cận kề với biển, chỉ đi khoảng 5km về phía Đông Nam là đến bãi biển Xuân Thành, một khu du lịch nghỉ mát đầy hấp dẫn. Cách Tiên Điền 8km về phía Đông Bắc là 14 cửa biển Cửa Hội sầm uất giao lưu buôn bán. Nằm ở vị trí khá đẹp vừa cận thủy vừa cận sơn, có lẽ thế nên nơi đây đã từng được xem là mảnh đất “ giang sơn tụ khí” một thời : Hồng Lĩnh sơn cao Song ngư hải khoát Nhược ngộ minh thời Nhân tài tú phát.
Nghĩa là : Núi Hồng Lĩnh cao cao Hòn Song Ngư ngoài biển Gặp buổi có vua hiền Nhân tài đua nhau phát. Về khí hậu: Tiên Điền chịu sự tác động chung của khí hậu trong vùng, thuộc vùng khí hậu đặc biệt nên mùa nóng từ tháng 4 đến tháng 6 thời tiết thường nóng hơn, ruộng đồng khô nứt nẻ. Mùa này Tiên Điền cũng phải chịu những đợt gió Lào ( Phơn Tây Nam) nóng, khô tràn qua địa bàn nên làm cho bụi cát mù mịt. Nằm gần biển Đông nên ở Tiên Điền vào tháng 7,8,9 thường xuất hiện nhiều mưa bão, kèm theo triều cường, lốc xoáy… Mùa đông thường đến sớm và kết thúc muộn, có nhiều mưa phùn, ẩm ướt.
Tháng 10 đến tháng 3 thời tiết lạnh, hanh khô. Nói chung, khí hậu ở đây khắc nghiệt, nó đã gây không ít khó khăn cho cuộc sống của dân làng Tiên Điền. Địa thế dốc, bên núi, bên là sông lại sát biển nên hằng năm lũ lụt, bão giông làm cho mùa màng thất bát, đất đai thì cằn cỗi vì sỏi đá và cát khô. Cũng vì thế mà những ngôn từ như “ nước 15 mặn đồng chua”, “ cồn khô cát bạc” đã đi vào ca dao, vào những câu hát ví dặm quen thuộc của dân làng nơi đây.