Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài Tăng năng suất cây trồng là chỉ tiêu quan trọng nhất của mọi tiến bộ kỹ thuật về giống và kỹ thuật canh tác. Dân số ngày càng tăng kéo theo nhu cầu lương thực không ngừng tăng lên. Theo dự báo dân số thế giới sẽ đạt 8 tỷ người vào năm 2030 và 9,1 tỷ người vào năm 2050 trong khi đất nông nghiệp hàng năm giảm khoảng 35 triệu ha.
Dân số tăng nhanh, đất canh tác bị thu hẹp và để ứng phó với biến đổi khí hậu, chúng ta cần quan tâm bảo vệ tài nguyên đất và nước, đặc biệt là đất dốc. Đất dốc hàm chứa rất nhiều tiềm năng phát triển, nhưng lại là hệ sinh thái rất dễ bị tổn thương, vì vậy cần phải có phương pháp tiếp cận tổng hợp và thân thiện môi trường (Lê Quốc Doanh và cs, 2014)[17]. Hiện nay ngô được dùng chủ yếu trong chăn nuôi và công nghiệp chế biến. Để đảm bảo an ninh lương thực đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng, nhất là khu vực miền núi canh tác nhờ nước trời, cây ngô là cây lương thực chính thì việc nâng cao năng suất ngô là nhiệm vụ cấp thiết của ngành nông nghiệp nói chung và tỉnh Lai Châu nói riêng.
Sử dụng cơ cấu giống ngô và phương thức thâm canh có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình sinh trưởng, phát triển và năng suất của ngô. Các giống ngô địa phương khả năng chống chịu sâu bệnh khá, năng suất thấp. Các giống ngô lai yêu cầu khả năng thâm canh cao bắp to, hạt đều, sáng bóng tăng chất lượng sản phẩm và có năng suất cao. Theo báo cáo thống kê, năng suất ngô của Hoa Kỳ tăng thêm trong hơn 40 năm qua có 58% là nhờ đóng góp của giống lai, 21% là nhờ tăng mật độ và 5% nhờ thu hẹp khoảng cách hàng.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www. Các kết quả nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam đã chứng minh rằng để nâng cao năng suất ngô trên các vùng canh tác phụ thuộc nước trời hiện nay có 3 con đường chính: (1) Sử dụng các giống ngô lai tiềm năng năng suất cao phù hợp với điều kiện đất đai và khí hậu của vùng. (2) Gieo trồng ngô với mật độ và khoảng cách hợp lý. Lai Châu là tỉnh có nhiều tiềm năng để phát triển sản xuất ngô, tuy nhiên năng suất bình quân đạt thấp hơn so với năng suất trung bình của cả nước.
Hiện nay một số nơi trong tỉnh còn sử dụng giống địa phương và giống thụ phấn tự do. Các giống ngô lai được trồng chủ yếu trong tỉnh có nguồn gốc từ các công ty nước ngoài như Mosanto, Syngenta, Bioseed,… nên khả năng thích ứng của các giống ở mỗi vùng sinh thái còn nhiều hạn chế. Vì vậy để phát huy được các đặc tính tốt của giống mới và tránh những rủi ro do giống không thích ứng với điều kiện sinh thái tại cơ sở sản xuất, trước khi đưa các giống ngô lai mới vào sản xuất đại trà tại một vùng nào đó, nhất thiết phải tiến hành đánh giá quá trình sinh trưởng, phát triển, khả năng chống chịu và tính thích ứng với điều kiện sinh thái của vùng đó. Vì vậy, khảo nghiệm là một trong những khâu rất quan trọng trong công tác chọn giống.
Tình hình sản xuất ngô trên thế giới và ở Việt Nam 1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ ngô trên thế giới 1. Tình hình sản xuất ngô trên thế giới Số liệu bảng 1.1 cho thấy: Năm 2004, diện tích ngô trên toàn thế giới 147,47 triệu ha sau 4 năm con số này đã tăng hơn 13 triệu ha, lên 161,01 triệu ha. Năm 2009 diện tích giảm xuống trên 4 triệu ha, còn 156,93 triệu ha.
Đến Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 6 năm 2014 diện tích trồng ngô trên thế giới đạt 183,29 triệu ha, tăng hơn 35 triệu ha so với năm 2004. Tình hình sản xuất ngô trên thế giới giai đoạn 2004-2014 Diện tích Năng suất Sản lượng Năm (triệu ha) (tạ/ha) (triệu tấn) 2004 147,47 49,45 729,21 2005 147,44 48,42 713,91 2006 148,61 47,53 706,31 2007 158,60 49,63 788,11 2008 161,01 51,09 822,71 2009 156,93 50,04 790,18 2010 162,32 51,55 820,62 2011 170,39 51,84 883,46 2012 178,55 48,88 872,79 2013 184,24 55,17 1016,43 2014 183,29 55,72 1.021,61 (Nguồn: FAOSTAT, 2015) [15] Năng suất năm 2004 là 49,45 tạ/ha đến năm 2014 là 55,72 tạ/ha tăng 6,27 tạ/ha. So sánh giữa sản lượng và diện tích thì ta thấy, từ năm 2004 tới năm 2014 diện tích tăng hơn 35 triệu ha, sản lượng tăng hơn 292 triệu tấn. Trong số tất cả các quốc gia trồng ngô, Hoa Kỳ (Mỹ) luôn chiếm vị trí đầu về diện tích và sản lượng ngô, là một trong những quốc gia có năng suất ngô cao (>9,6 tấn/ ha), gần như gấp đôi so với trung bình thế giới (5,2 tấn/ha) (FAOSTAT, 2012).
Niên vụ 2013/2014 ước tính đạt 353,71 triệu tấn, tăng 39,77 triệu tấn so với niên vụ 2011/2012, và 79,89 triệu tấn so với niên vụ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www. Tiếp theo là Brazil với sản lượng ngô 70 triệu tấn và Ấn Độ trong năm 2014 chạm kỷ lục 25 triệu tấn (USDA, 2014). Sản xuất ngô của Ấn Độ từ 1990 - 2013 (Nguồn: The India Maize Summit, 2013) Ở châu Á, diện tích trồng ngô của Trung Quốc lớn thứ hai trên thế giới, năng suất ngô trung bình cao hơn năng suất ngô của toàn cầu. Trong năm 2013, sản lượng ngô của Trung Quốc ước tính là khoảng 211 triệu tấn, tăng 3 triệu tấn so với năm 2012 với diện tích 35,1 triệu ha, tăng 1,51 triệu ha so với bình quân năm 2012 (Beijing Shennong.
Trong niên vụ 2013/2014 sản lượng ngô ở Trung Quốc dự kiến 217,1 triệu tấn. Ở Ấn Độ, hàng năm, 25% sản lượng ngô được sử dụng làm thực phẩm, 61% cho chăn nuôi và 13% để sản xuất công nghiệp xăng và 1% phục vụ các ngành công nghiệp chế biến khác. Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA, 2012) đánh giá, trong niên vụ 2010- 2011, diện tích trồng ngô Ấn Độ vươn lên đứng thứ 4 (8,6 triệu ha) và thứ 7 về sản lượng ngô (20,5 triệu tấn), tuy nhiên, năng suất Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 8 bình quân đạt 2,4 tấn/ha thấp hơn so với năng suất trung bình của thế giới (5,14 tấn/ha). Nhu cầu ngô ở Ấn Độ dự báo sẽ cần 30 triệu tấn vào năm 2020, 40 triệu tấn vào năm 2030.
Dự báo sản xuất ngô thế giới đến 2050 (IGC, 2014) Dự kiến năm 2050, sản lượng ngô sẽ đạt 1. Nhu cầu toàn cầu tăng mạnh, dự kiến sẽ duy trì ở mức tương đối cao, sản lượng hàng năm đã tăng trung bình 1,4% mỗi năm, khu vực tăng trung bình 0,4% mỗi năm, và sản lượng được dự báo sẽ tăng lên 1.016 triệu tấn vào năm 2018/19, so với 948 triệu tấn so với niên vụ 2013/2014, và tiêu thụ đa dạng hóa, khoảng 48% đối với thức ăn chăn nuôi (Phạm Thị Rịch và cs, 2015)[8]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www. Tình hình tiêu thụ ngô trên thế giới Các quốc gia tiêu thụ ngô nhiều nhất trên thế giới cũng chính là những quốc gia có sản lượng lớn nhất, bao gồm Hoa Kỳ, Trung Quốc, khối EU-27, Brazil, Mexico chiếm 71% lượng ngô tiêu thụ của thế giới.
Riêng Hoa Kỳ tiêu thụ gần 300 triệu tấn (chiếm 85% sản lượng ngô sản xuất), Trung Quốc tiêu thụ gần 300 triệu tấn (chiếm 85% sản lượng ngô sản xuất), Trung Quốc tiêu thụ 200 triệu tấn (chiếm 97%). Mỹ xuất khẩu một lượng ngô khá lớn (50 triệu tấn/năm), Brazil (20,5 triệu tấn), Ukraine (20 triệu tấn), Argentina (9,5 triệu tấn), chiếm 74% tổng sản lượng ngô xuất khẩu của thế giới trong niên vụ 2013-14. Các quốc gia nhập khẩu ngô là Nhật Bản (15,5 triệu tấn), EU-27 (14 triệu tấn), Mexico (11 triệu tấn), Hàn Quốc (9,5 triệu tấn), Ai Cập (7 triệu tấn), Iran (5 triệu tấn), Colombia (4,5 triệu tấn), Trung Quốc (4 triệu tấn), các nước này chiếm 65% tổng lượng nhập khẩu ngô của các quốc gia trên thế giới (Hồ Cao Việt và cs, 2015)[16]. Tình hình sản xuất và tiêu thụ ngô Việt Nam 1.
Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam Cây ngô được đánh giá là cây trồng có vai trò hết sức quan trọng trong cơ cấu cây trồng ở nước ta; năm 2014 là 1.178,6 nghìn ha, sản lượng đạt trên 5,2 triệu tấn. Tuy vậy sản xuất ngô trong nước vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu, hàng năm nước ta phải nhập khẩu lượng lớn ngô nguyên liệu cho chế biến thức ăn chăn nuôi. Những năm qua nhà nước cũng đã hết sức quan tâm đầu tư cho việc nghiên cứu phát triển cây ngô 2 dự án phát triển giống ngô lai đã được đầu tư: Dự án phát triển giống ngô lai giai đoạn 2006-2010 và giai đoạn 2011-2015. Nhà nước có nhiều cơ chế chính sách hỗ trợ giống đã khuyến khích các doanh nghiệp trong và ngoài nước sản xuất, cung cấp giống, giới thiệu các giống mới có năng suất, chất lượng tốt vào sản xuất, nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật về sản xuất ngô đã được chuyển giao đến người nông dân.
Tuy nhiên Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 10 việc áp dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất vẫn còn nhiều hạn chế, với địa hình phức tạp, trên 70% diện tích ngô được trồng trên đất có độ cao, phụ thuộc vào nước trời, ít đầu tư thâm canh nên năng suất ngô vẫn còn thấp so với tiềm năng của giống. Năm 2014, năng suất trung bình cả nước đạt 44,14 tạ/ha, sản lượng trên 5,2 triệu. Bên cạnh đó các giống ngô có khả năng thích nghi tốt với điều kiện thời tiết bất thuận như hạn hán và mưa lũ vẫn còn thiếu. Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam trong giai đoạn 2004-2014 Diện tích Năng suất Sản lượng Năm (nghìn ha) (tạ/ha) (nghìn tấn) 2004 991,1 34,6 3.202,5 (Nguồn: FAOSTAT, 2015) [15] Sau 10 năm triển khai diện tích tăng từ 991,1 nghìn ha lên tới 1.178,6 nghìn ha, sản lượng tăng từ 3.430,9 tấn lên tới 5.
Theo Bộ NN&PTNT, sản lượng ngô của Việt Nam năm 2014 đạt 5,2 triệu tấn, thấp hơn 105 nghìn tấn so với dự báo do sự thay đổi thời tiết tại miền Bắc Việt Nam đã dẫn đến việc vùng thu hoạch ngô bị thu hẹp. Theo ước tính, trong năm 2015, vùng thu hoạch ngô sẽ tăng từ 1,2 triệu héc ta lên 1,25 triệu héc ta do chính sách mới của Chính phủ trong việc tăng diện tích trồng ngô từ việc chuyển đổi diện tích trồng lúa kém hiệu quả. Năng suất ngô trung bình dự kiến tăng nhẹ do việc sử dụng các giống ngô lai mới.