ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG KHOA Y DƢỢC BỘ MÔN HOÁ – HÓA SINH GIÁO TRÌNH THỰC TẬP HOÁ ĐẠI CƢƠNG Lƣu hành nội bộ Năm 2022 1 NỘI QUY THỰC TẬP TẠI PHÒNG THÍ NGHIỆM Khi thực hành tại phòng thí nghiệm, sinh viên phải tuân thủ các quy định sau: 1. Có mặt tại phòng thí nghiệm (PTN) trước 5 phút trước khi bắt đầu buổi thí nghiệm. Trong trường hợp vắng do bất khả kháng, sinh viên phải xin phép gửi kèm minh chứng cho GV hướng dẫn và sẽ được bố trí ghép vào buổi làm thí nghiệm tiếp theo. Nếu vắng mặt không có lí do hoặc không hoàn thành bài thí nghiệm theo yêu cầu, sinh viên phải đóng tiền để làm lại (nếu phòng thí nghiệm có thời gian sắp xếp).
Không được tự ý đổi nhóm / tổ thực tập sau khi đã phân chia. Đọc kỹ cơ sở lý thuyết và quy trình thực nghiệm ở nhà trước khi làm thí nghiệm. Trong khi làm thí nghiệm, sinh viên phải: Mặc áo blouse có đeo bảng tên đúng quy định; chỉ được làm bài thí nghiệm tiếp theo khi đã hoàn thành báo cáo bài thí nghiệm trước, nộp cho GV hướng dẫn và được đánh giá là đạt yêu cầu. Giữ gìn trật tự, yên lặng trong suốt quá trình làm thí nghiệm.
Tuân thủ tuyệt đối theo mọi chỉ dẫn của cán bộ hướng dẫn khi ở trong phòng thí nghiệm. Kiểm tra tình trạng dụng cụ, hoá chất tại bài thí nghiệm của mình. Nếu có thiếu / hư hỏng hóa chất, dụng cụ, sinh viên phải báo cáo ngay cho cán bộ phụ trách PTN trong 5 phút đầu để bổ sung, thay mới dụng cụ bị hư hỏng. Sử dụng dụng cụ, hóa chất của đúng nhóm mình; chỉ sử dụng hoá chất vừa đủ, tránh lãng phí; không lấy dụng cụ lấy hóa chất bình này bỏ vào bình khác gây nhiễm bẩn chéo, làm hỏng hóa chất.
Không rời phòng thí nghiệm trong lúc đang thực tập, không ra về trước giờ quy định. Thực tập xong, sinh viên phải rửa dụng cụ, vệ sinh nơi làm việc sạch sẽ, hoàn trả dụng cụ, hóa chất về chỗ cũ và bàn giao lại cho cán bộ PTN kiểm tra, xác nhận mới được về. Nếu sinh viên làm hỏng hoá chất, dụng cụ thì phải mua mới hoàn trả cho PTN. Trên đây là những quy định khi làm việc tại PTN Hóa học.
Yêu cầu sinh viên nghiêm túc thực hiện. 2 PHẦN THỨ NHẤT DỤNG CỤ VÀ KỸ NĂNG CƠ BẢN TRONG PHÒNG THÍ NGHIỆM Hóa học là một khoa học lý thuyết và thực nghiệm. Vì vậy, việc tìm hiểu kĩ chức năng và cách sử dụng từng dụng cụ trong phòng thí nghiệm, thành thục các thao tác trong thực nghiệm hóa học là điều cần thiết. HOÁ CHẤT – DỤNG CỤ – THIẾT BỊ I.
HÓA CHẤT VÀ AN TOÀN PHÒNG THÍ NGHIỆM 1. Phân loại hóa chât: a. Dựa vào giá trị sử dụng Hóa chất thông dụng như các axit: H2SO4, HCl, HNO3,. các kiềm: NaOH, KOH, NH4OH,.
Hóa chất chuyên dùng như: Các chỉ thị, các thuốc thử, các chất dùng trong các phản ứng tổng hợp như: axit aminobenzoic, alizarin vàng, napthtalen. Dựa vào độ tinh khiết Độ tinh khiết của hóa chất phụ thuộc vào lượng tạp chất chứa trong hóa chất đó. Dựa vào đó, hóa chất được phân loại thành các loại sau: Loại kỹ thuật. Loại tinh khiết.
Loại tinh khiết phân tích. Loại tinh khiết hóa học. Hóa chất thuộc loại kỹ thuật chứa nhiều tạp chất và chất bẩn cơ học, còn loại tinh khiết hóa học chứa ít tạp chất nhất. Khi tiến hành các thí nghiệm thông thường thì nên dùng loại tinh khiết phân tích, hoặc tinh khiết là đủ.
Chẳng hạn không nên dùng hóa chất loại tinh khiết hóa học đắt tiền để điều chế các khí vì khí thu được cần phải tinh chế trước khi sử dụng. Dựa vào tính chất Có loại hóa chất rất độc: ví dụ Hg và các muối của nó, P trắng, Asen, các khí Cl2, NO, NO2, H2S , C6H6 , Anilin , Dimetylsunphat , metylclorua. Có loại hóa chất rất dễ cháy: ví dụ Diêtyl ête là một chất lỏng không màu, để ngoài không khí bay hơi tạo thành hỗn hợp nổ, bắt lửa rất nhạy. Thuộc loại này có thể phân biệt thành: Dễ cháy khi tiếp xúc với nước: Na, K.
Dễ cháy khi tiếp xúc với không khí (với oxy trong không khí): P trắng, ête. Dễ cháy khi tiếp xúc với lửa hoặc gần chất dễ bắt lửa: Mn2O7, êtylat, amin rượu, P đỏ, các hydrocacbon: CH4, C6H6, Tôluen, Axeton, dietyl. Có loại hóa chất dễ bị phân hủy như: I2, AgNO3, KMnO4,. 3 Có loại hóa chất dễ bị hút ẩm như Na2CO3, NaOH, CaCl2, H2SO4, P2O5,.
Có loại hóa chất ăn mòn thủy tinh như: HF, HCN, NaOH, H2O2,. Ngoài ra còn có hóa chất chuẩn dùng để pha dung dịch có nồng độ chuẩn cần thiết và hóa chất quý hiếm. Ký hiệu chỉ dẫn về mức độ an toàn, độc hại của mỗi loại hóa chất Có hai loại ký hiệu quy định độ an toàn hóa chất. Một của Hiệp hội An toàn cháy nổ Mỹ (National Fire Protection Association-NFPA) và một của Châu Âu.
Ký hiệu của NFPA-704 Gồm một hình thoi lớn được chia thành 4 hình thoi nhỏ với 4 màu khác nhau gồm đỏ, xanh dương, vàng và trắng được đánh số từ 0 - 4 với mức độ nguy hại tăng dần (0 không nguy hại, 4 nguy hại nhất). - Màu đỏ: Chỉ khả năng bắt lửa được đánh số từ 0 - 4 (0: không cháy; 4: dễ bắt lửa khi để ngoài không khí) - Màu xanh: Chỉ mức độ ảnh hưởng đến sức khỏe được đánh số từ 0 - 4 (0: không độc hại, 4: rất nguy hiểm) - Màu vàng: Chỉ độ hoạt động được đánh số từ 0 - 4 (như khả năng nổ, ăn mòn.) - Màu trắng: Thông tin đặc biệt về độ nguy hại được đánh số từ 0 - 4 (0: bền, không phản ứng với nước; 4: phân hủy mạnh) Với ký hiệu W: Chỉ các chất phản ứng mạnh với nước như H2SO4, Natri, Xesi. Ký hiệu OX: Chỉ các chất oxi hóa mạnh như Kali perchlorate, ammoni nitrate, hydro peroxit. Ký hiệu của Châu Âu: Gồm hình chữ nhật màu da cam được chia thành hai hình nhỏ, hình trên chỉ mức độ nguy hại được đánh số theo lớp từ 1 - 9, ô dưới chỉ số hiệu của hóa chất.
Số 1: Chỉ các chất nổ Số 2: Chỉ các chất khí Số 3: Chỉ các chất lỏng dễ cháy Số 4.1: Chất rắn dễ cháy, chất tự phản ứng và chất nổ rắn Số 4.2: Chất tự bốc cháy Số 4.3: Chất khi tiếp xúc với nước phát ra khí dễ cháy Số 5.1: Chất ôxi hoá Số 5.2: Các peroxit hữu cơ Số 6.1: Chất độc Số 6.2: Chất lây nhiễm Số 7: Vật liệu phóng xạ Số 8: Chất ăn mòn Số 9: Các chất và sản phẩm nguy hiểm khác 4 Ngoài ra còn có một loạt các ký hiêu khác dạng hình thoi để chỉ mức độ nguy hiểm của từng loại hóa chất được minh họa bằng chữ và đánh kèm theo số chỉ mức độ nguy hại 3. Sử dụng và bảo quản hóa chất - Hóa chất phải được cất riêng trong tủ có sổ và phần mềm theo dõi hằng ngày. Người ta thường đặt các axit ở thể lỏng ở ngăn cuối cùng của tủ để khi lấy ra được dễ dàng, tránh đổ vỡ nguy hiểm. Không nên để nhiều và tập trung ở trong một phòng thí nghiệm các hoá chất dễ bắt lửa như xăng, benzen, ete, cồn đốt, axeton,… Chỉ nên để mỗi loại chất dễ cháy này từ 0,5 lít đến 1 lít và khi làm thí nghiệm phải để các chất này xa lửa.
5 Phải chuẩn bị các phương tiện phòng cháy và chữa cháy. Cần đựng những hoá chất có tác dụng với cao su như brom và axit nitric trong lọ có nút thuỷ tinh. - Những hoá chất dễ bị ánh sáng tác dụng như kali pemanganat, bạc nitrat, kali iođua, nước oxi già,… cần được đựng vào lọ màu để ở chỗ tối hoặc bọc kín bằng giấy màu đen phía ngoài lọ. - Những hoá chất độc như muối thuỷ ngân (clorua, nitrat và thuỷ ngân axetat), muối xianua,…cần phải để ở trong tủ có khoá riêng và phải được giữ gìn hết sức cẩn thận.
- Các kim loại natri và kali phải được đựng trong lọ dầu hoả hay xăng; khi làm thí nghiệm nếu còn thừa một lượng nhỏ không được vứt bừa bãi, vì sẽ dễ gây ra hoả hoạn, do đó cần được thu lại hoặc huỷ đi. - Photpho trắng được đựng vào lọ có nước, khi cắt nhỏ cũng phải cắt trong nước. Đục hộp chứa photpho trắng phải được tiến hành trong thùng nước. - Muối kali clorua, kali nitrat phải được đựng vào lọ sạch, không được để lẫn với các chất cháy.
- Cần có nhãn ghi công thức và nồng độ của hoá chất ở phía ngoài các lọ đựng hoá chất. Các lọ hoá chất để ở bàn cho học sinh làm thực hành nên có hai nhãn đối diện nhau ở hai phía của bình, lọ. An toàn trong phòng thí nghiệm hoá học Việc bảo đảm an toàn trong khi làm thí nghiệm là một công tác cơ bản, rất quan trọng của mọi người vào làm việc ở trong phòng thí nghiệm hoá học. Thí nghiệm với chất độc Trong phòng thí nghiệm hoá học có nhiều chất độc như thuỷ ngân (gây rối loạn thần kinh, làm rụng răng,…), hợp chất của asen, photpho trắng (làm mục xương hàm, làm bỏng,…), hợp chất xianua, khí cacbon oxit (thở không khí chứa 1% về thể tích khí cacbon oxit có thể làm người ta bị chết), khí hiđro sunfua (người ngửi phải không khí có chứa 1,2 mg/l trong 10 phút cũng có thể chết), khí nitơ peoxit, khí sunfurơ, amoniac, clo, brom phá huỷ nặng cơ quan hô hấp; brom lỏng gây bỏng da, rượu metylic, phenol, axit foocmic (gây bỏng da),… Uống phải một lượng rượu metylic, khoảng 10ml, có thể gây mù mắt; benzen, xăng cũng là những chất độc.
Do đó phải thận trọng khi sử dụng các chất này và phải theo đúng các quy tắc sau đây: - Nên làm thí nghiệm với các chất khí độc ở trong tủ hốt hoặc ở nơi thoáng gió và mở rộng cửa phòng. Chỉ nên lấy lượng hoá chất tối thiểu để làm được nhanh và giảm bớt khí độc bay ra. - Không được nếm và hút các chất độc bằng miệng. Phải có khẩu trang và phải thận trọng khi ngửi các chất.
Không hít mạnh hoặc kề mũi vào gần bình hoá chất mà chỉ dùng bàn tay phẩy nhẹ hơi hoá chất vào mũi. - Đựng thuỷ ngân trong các lọ dày, nút kín và nên có một lớp nước mỏng ở trên. Khi rót và đổ thuỷ ngân, phải có chậu to hứng ở dưới và thu hồi lại ngay các hạt nhỏ rơi vãi (dùng đũa thuỷ tinh gạt các hạt thuỷ ngân vào các mảnh giấy cứng).