Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI Lịch sử vấn đề nghiên cứu 1. Trên thế giới Đã có một số công trình nghiên cứu hoặc tài liệu được biên soạn về năng lực hợp tác và giải quyết vấn đề như + Assessment and Teaching of 21st Century Skills (Friedrich Hesse, Esther Care, Juergen Buder, Kai Sassenberg, Patrick Griffin, 2017) của Tác giả Friedrich Hesse + Tài liệu PISA 2015 Collaborative problem–solving framework (OECD, 2017). + Qing Zhou Qing Zhou, Leilei Ma, Na Huang, Qian Liang, Huiji Yue và Tao Peng (2012), Integrating WebQuest into Chemistry Classroom Teaching to Promote Students’ Critical Thinking.
+ Gabriel Gorghiu, Laura Gorghiu1, Víctor R. González và Alicia García de la Santa (2005), WebQuest in the Classroom - Analysis of its Impact (Gabriel Gorghiu, Laura Gorghiu1, Víctor R. González, Alicia García de la Santa, 2005) + Jennifer Levin–Goldberg (2014), WebQuest 2.0: Best Practices for the 21st Century. Các tác giả đã khảo sát việc ứng dụng phương pháp WebQuest trong dạy học của nhiều GV.
Kết quả cho thấy phương pháp WebQuest phù hợp để tổ chức các hoạt động nhóm cho HS, tạo điều kiện thuận lợi để GV có thể ứng dụng CNTT trong giảng dạy. Đặc biệt phương pháp Webquest được khẳng định là đem lại hiệu quả trong việc tạo động cơ học tập và phát triển năng lực hợp tác cho HS. Ở Việt Nam Phát triển năng lực HT GQVĐ là một chủ đề khá mới ở nước ta, do đó số lượng đề tài nghiên cứu về chủ đề này còn hạn chế. Một số đề tài đã nghiên cứu gần đây như: + Trần Thị Cúc (2017), “Phát triển năng lực hợp tác giải quyết vấn đề cho HS thông qua dạy học phần phi kim - hóa học 10 nâng cao”, luận văn thạc sĩ, trường Đại Học Sư phạm Hà Nội.
Luan van 6 Bên cạnh đó, ở nước ta có một số công trình nghiên cứu về phương pháp WebQuest, có thể kể đến một số luận văn như: + Trương Thị Hương (2012), Xây dựng và sử dụng WebQuest trong dạy học một số kiến thức chương chất rắn, chất lỏng và sự chuyển thể Vật lí 10 Trung học phổ thông, Luận văn thạc sĩ Giáo dục học, Trường ĐHSP - ĐH Huế. + Nguyễn Thị Như (2012), Vận dụng kỹ thuật WebQuest trong tổ chức tự học cho HS chương “Sóng ánh sáng” vật lí 12 THPT, Luận văn thạc sĩ Giáo dục học, Trường ĐHSP- ĐH Huế. + Nguyễn Tiến Sỹ (2013), Xây dựng và sử dụng Webquest hỗ trợ dạy học “Chuyên đề thí nghiệm vật lý” ở trường THPT chuyên, Luận văn thạc sĩ Giáo dục học, Trường ĐHSP- ĐH Huế. + Nguyễn Thị Thi (2013), Xây dựng và sử dụng Webquest về thí nghiệm mở trong dạy học phần "Quang hình" - vật lí lớp 11 nhằm phát triển năng lực thực nghiệm của HS, Luận văn thạc sĩ Giáo dục học, Trường ĐHSP - ĐH Huế.
+ Lê Viết Ái Lan (2014), Xây dựng, sử dụng webquest trong dạy học hóa học hữu cơ lớp 11, luận văn thạc sĩ Khoa học Giáo dục, trường Đại học sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh. + Nguyễn Vũ Mai Trang (2015), Vận dụng phương pháp WebQuest trong dạy học một số chủ đề tích hợp Hóa học lớp 10 Trung học phổ thông, luận văn thạc sĩ Khoa học Giáo dục, trường Đại học sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh. + Vũ Thị Hồng Tuyến (2017), “Vận dụng phương pháp Webquest trong dạy học tích hợp phần hóa học phi kim lớp 11 nhằm phát triển năng lực công nghệ thông tin và truyền thông”, luận văn thạc sĩ, trường Đại Học Sư phạm Hà Nội. Một số bài báo khoa học về PPDH WebQuest và năng lực HT GQVĐ như: + Lê Thái Hưng, Lê Thị Hoàng Hà, Dương Thị Anh (2016), Năng lực hợp tác giải quyết vấn đề trong dạy học và đánh giá bậc trung học ở Việt Nam, Tạp chí Quản Lý Giáo Dục, 80, tr.
+ Thái Hoài Minh, Nguyễn Thị Kim Thoa (2013), Vận dụng WebQuest trong dạy học nội dung axit sunfuric (chương trình Hóa học 10 nâng cao), tạo chí Khoa học ĐHSP TPHCM, số 48 năm 2013, tr. Luan van 7 + Bùi Thị Hạnh, Trần Trung Ninh (2010), Dạy học Hóa học hữu cơ bằng WebQuest, tạp chí Giáo dục, số 230, kì 2, 1/2010, tr. Đặc biệt chưa có công trình nghiên cứu nào về việc vận dụng phương pháp WebQuest nhằm phát triển năng lực HT GQVĐ cho HS THPT. Điều này đã củng cố sự cần thiết của việc tiến hành nghiên cứu đề tài của chúng tôi.
Năng lực hợp tác giải quyết vấn đề 1. Khái niệm năng lực Theo từ điển tiếng Việt, khái niệm năng lực được xác định là “khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hành động nào đó, phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao”. Còn theo Lê Thái Hưng và các đồng nghiệp (Lê Thái Hưng, Lê Thị Hoàng Hà, Dương Thị Anh, 2016), khi nói tới năng lực tức là nói tới kiến thức, kĩ năng và khả năng huy động các kiến thức, kĩ năng đó để giải quyết thành công các vấn đề do cuộc sống đặt ra. Trông một tài liệu khác (Weitnert, 2001), năng lực là những khả năng và kĩ xảo học được hoặc sẵn có của cá thể nhằm giải quyết các tình huống xác định, cũng như sự sẵn sàng về động cơ, xã hội.
và khả năng vận dụng các cách giải quyết vấn đề một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong những tình huống linh hoạt. Khái niệm và cấu trúc của năng lực HT GQVĐ 1. Khái niệm của năng lực HT GQVĐ Theo khung năng lực PISA 2015, năng lực HT GQVĐ được định nghĩa là “năng lực của một cá nhân tham gia tích cực và hiệu quả vào một quá trình mà hai hoặc nhiều người nỗ lực để cùng giải quyết một vấn đề bằng cách chia sẻ sự hiểu biết và nỗ lực cần có để đưa ra giải pháp. Đồng thời sử dụng các kiến thức, kĩ năng và nỗ lực để có được giải pháp đó” (OECD, 2015).
Một số định nghĩa hiện có về năng lực HT GQVĐ (Eva Baker, Jan Dickieson, Wallace Wulfeck, Harold F. O’Neil, 2017) đều có đặc điểm chung là: sự tồn tại của nhóm người học gồm ít nhất hai người trở lên; có một vấn đề cần giải quyết và một mục tiêu chung; và để giải quyết vấn đề nhóm người học không chỉ Luan van 8 cần năng lực nhận thức mà còn cần đến cả các năng lực xã hội, năng lực giao tiếp (Samuel Greiff, 2012). Hợp tác giải quyết vấn đề liên quan đến quá trình nhận thức của một cá nhân có sự tham gia của hai kĩ năng nhận thức và xã hội. Để giải quyết vấn đề, trước hết các cá nhân phải nhận thức được mâu thuẫn giữa các tình huống thực tế và hiểu biết của bản thân, biến mâu thuẫn đó thành vấn đề cần giải quyết dựa trên khả năng của bản thân trong việc tìm tòi, khám phá, tổng hợp và xử lí thông tin từ nhiều nguồn khác nhau.
Hiệu quả của việc hợp tác giải quyết vấn đề phụ thuộc vào khả năng cộng tác của các thành viên trong nhóm trong các tình huống hợp tác (OECD, 2015). Sự hợp tác đòi hỏi ít nhất phải có hai đối tượng trở lên: có thể là người - người, người - máy tính trong đó có một đối tượng có khả năng tạo ra các mục tiêu, các hoạt động, thông điệp giao tiếp, phản ứng với những phản hồi của những người tham gia khác (OECD, 2015). Sự hợp tác có thể xảy ra khi các thành viên trong nhóm cùng phấn đấu để xây dựng và đạt được một mục tiêu chung về một nhiệm vụ đặt ra. Họ phải cùng nhau đóng góp những suy nghĩ, hiểu biết của mình để cùng thống nhất và đi đến một kết luận chung cho cả nhóm (Trần Thị Cúc, 2017).
Cấu trúc của năng lực hợp tác giải quyết vấn đề Theo “Lí thuyết dạy và học các kĩ năng của thế kỉ 21” (ATC21S), Griffin và Care đã đề xuất cấu trúc của năng lực HT GQVĐ theo một cách tiếp cận khác như sau (Patrick Griffin, Barry McGaw, Esther Care, 2012): NL HT GQVĐ Năng lực xã Năng lực hội nhận thức Điều chỉnh Sự tham gia nhiệm vụ Xây dựng Nêu ý kiến kiến thức Luan van 9 Hình 1. Sơ đồ cấu trúc năng lực HT GQVĐ theo Griffin và Care Mô hình cấu trúc này cho thấy cách nhìn nhận rành mạch về năng lực HT GQVĐ, là cơ sở tốt để xây dựng các khung tiêu chí đánh giá. Các năng lực thành phần sẽ được thể hiện xuyên suốt quá trình nhóm thực hiện giải quyết vấn đề. Các bước hợp tác giải quyết vấn đề Tác giả Nancy Willihnganz (Nancy Willihnganz, 2011) đã đề xuất mô hình HT GQVĐ gồm sáu bước như sau : - Bước 1: Xác định vấn đề theo nhu cầu của nhóm Mỗi thành viên đưa ra nhu cầu cần giải quyết của mình, lắng nghe phản hồi của các thành viên khác về nhu cầu của họ.
Sau khi hoàn thành, các nhu cầu của các thành viên đều được thể hiện trong bản tóm tắt về vấn đề. Điều này muốn nói rằng, tất cả các ý kiến của các thành viên trong nhóm đều quan trọng như nhau. - Bước 2: Tư duy, đưa ra các giải pháp khả thi Các thành viên cùng đưa ra tất cả các giải pháp mà họ cho rằng có khả thi, liệt kê các ý kiến, mở rộng ý kiến của nhau mà chưa cần đánh giá đúng sai, không cần gắn tên hay tách biệt ý kiến của từng cá nhân. - Bước 3: Lựa chọn giải pháp (hoặc kết hợp các giải pháp) đáp ứng tốt nhất nhu cầu của nhóm.
Trên cở sở các giải pháp đưa ra, các thành viên trong nhóm cùng nhau thảo luận những giải pháp được nhiều người lựa chọn khi giải quyết vấn đề, để cùng nhau đi đến một hoặc nhiều giải pháp thay thế. Trong quá trình này, các thành viên trong nhóm phải trao đổi một cách cởi mở, chân thành, đưa ra ý kiến của mình đồng thời lắng nghe, xem xét ý kiến của các thành viên khác để tất cả mọi người cùng cảm thấy hài lòng với giải pháp cuối cùng. - Bước 4: Lập kế hoạch phân công thời gian, địa điểm. Lên kế hoạch, phân công công việc cụ thể cho từng thành viên trong nhóm ai sẽ làm gì, thời gian, địa điểm cụ thể.
- Bước 5: Thực hiện kế hoạch. Các thành viên cùng nhau thực hiện theo đúng kế hoạch đặt ra để đảm bảo tiến trình làm việc của cả nhóm. Luan van 10 - Bước 6: Đánh giá quá trình và giải pháp. Mỗi thành viên cùng đưa ra suy nghĩ của mình về những điều mà bản thân cảm thấy tốt và chưa tốt khi thực hiện quá trình GQVĐ, những mong muốn thực hiện hay những cải thiện trong các lần GQVĐ tiếp theo.