CHƯƠNG 1 CÁC TÍNH CHẤT CƠ BẢN CỦA VẬT LIỆU XÂY DỰNG MH07 - 01 Giới thiệu: Mỗi loại vật liệu khác nhau sẽ có đặc tính, công dụng, phạm vi sử dụng khác nhau nhưng chúng cũng có những đặc điểm chung Mục tiêu: - Trang bị cho học sinh những kiến thức cơ bản về các tính chất chủ yếu của vật liệu xây dựng. - Hiểu được tính chất cơ bản, ký hiệu của một số vật liệu. Nội dung chính: 1. Các tính chất vật lý 1.
Khối lượng riêng. Khối lượng riêng của vật liệu là khối lượng của một đơn vị thể tích vật liệu ở trạng thái hoàn toàn đặc (không có lỗ rỗng). Khối lượng riêng được ký hiệu bằng ρ và tính theo công thức : m (kg/m3; kg/l; g/cm3) V Trong đó : m : Khối lượng của vật liệu ở trạng thái khô( g, kg ) V : Thể tích hoàn toàn đặc của vật liệu (cm3, l, m3 ) 1. Phương pháp xác định.
Tuỳ theo từng loại vật liệu mà có những phương pháp xác định khác nhau. Đối với vật liệu hoàn toàn đặc như kính, thép v., ρ được xác định bằng cách cân và đo mẫu thí nghiệm, đối những vật liệu rỗng thì phải nghiền đến cỡ hạt <0,2 mm và những loại vật liệu rời có cỡ hạt bé (cát, xi măng.) thì ρ được xác định bằng phương pháp bình tỉ trọng (hình 1. Khối lượng riêng của vật liệu phụ thuộc vào thành phần và cấu trúc vi mô của nó, đối với vật liệu rắn thì nó không phụ thuộc vào thành phần pha. Khối lượng riêng của vật liệu biến đổi trong một phạm vi hẹp, đặc biệt là những loại vật liệu cùng loại sẽ có khối lượng riêng tương tự nhau.
Người ta có thể dùng khối lượng riêng để phân biệt những loại vật liệu khác nhau, phán đoán một số tính chất của nó. Khối lượng thể tích. Khối lượng thể tích của vật liệu là khối lượng của một đơn vị thể tích vật liệu ở trạng thái tự nhiên (kể cả lỗ rỗng). Nếu khối lượng của mẫu vật liệu là m và thể tích tự nhiên của mẫu là V v thì: m V (g/cm3; kg/m3; T/m3 ) Vv 1.
Phương pháp xác định. Để xác định m và V người ta sử dụng các phương pháp giống như trong xác định trọng lượng riêng.1 Hệ số dẫn ρ, ρv, r, Tên VLXD nhiệt λ, (g/cm3) (g/cm3) (%) (kCal/m°Ch) Bê tông - Nặng 2,6 2,4 10 1,00 - Nhẹ 2,6 1,0 61,5 0,30 - Tổ ong 2,6 0,5 81 0,17 Gạch : - Thường 2,65 1,8 3,2 0,69 - Rỗng ruột 2,65 1,3 51 0,47 - Granit 2,67 1,4 2,40 - Túp núi lửa 2,7 1,4 52 0,43 9 Thuỷ tinh: - Kính cửa sổ 2,65 2,65 0,0 0,50 - Thuỷ tinh bọt 2,65 0,30 88 0,10 Chất dẻo - Chất dẻo cốt thuỷ tinh 2,0 2,0 0,0 0,43 - Mipo 1,2 0,015 98 0,026 Vật liệu gỗ : - Gỗ thông 1,53 0,5 67 0,15 - Tấm sợi gỗ 1,5 0,2 86 0,05 1. Độ đặc (đ) là mức độ chứa đầy thể tích vật liệu bằng chất rắn v đ Như vậy r + đ = 1 ( hay 100%), có nghĩa là vật liệu khô bao gồm bộ khung cứng để chịu lực và lỗ rỗng không khí. Độ rỗng: r (số thập phân, %) là thể tích rỗng chứa trong một đơn vị thể tích tự nhiên của vật liệu.
Nếu thể tích rỗng là Vr và thể tích tự nhiên của vật liệu là Vv thì : Vr r Vv Trong đó : Vr = Vv-V Vr V V v Do đó : r 1 1 Vr Vr 1. Các tính chất của vật liệu có liên quan tới nước. Độ ẩm W (%): là chỉ tiêu đánh giá lượng nước có thật (ma) trong vật liệu tại thời điểm thí nghiệm. Nếu khối lượng của vật liệu lúc ẩm là ma và khối lượng của vật liệu sau khi sấy khô là mk thì: ma mk mn W x100(%) hay W x100(%) ma mk Trong không khí vật liệu có thể hút hơi nước của môi trường vào trong các lỗ rỗng và ngưng tụ thành pha lỏng.
Đây là một quá trình có tính chất thuận nghịch. Trong cùng một điều kiện môi trường nếu vật liệu càng rỗng thì độ ẩm của nó càng cao. Đồng thời độ ẩm còn phụ thuộc vào bản chất của vật liệu, đặc tính của lỗ rỗng và vào môi trường. Ở môi trường không khí khi áp lực hơi nước tăng (độ ẩm tương đối của không khí tăng) thì độ ẩm của vật liệu tăng.
10 Độ ẩm của vật liệu tăng làm xấu đi tính tính chất nhiệt kỹ thuật, giảm cường độ và độ bền, làm tăng thể tích của một số loại vật liệu. Vì vậy tính chất của vật liệu xây dựng phải được xác định trong điều kiện độ ẩm nhất định. Là khả năng hút và giữ nước của nó ở điều kiện thường và được xác định bằng cách ngâm mẫu vào trong nước có nhiệt độ 20 ± 0,5oC. Trong điều kiện đó nước chỉ có thể chui vào trong lỗ rỗng hở, do đó mà độ hút nước luôn luôn nhỏ hơn độ rỗng của vật liệu.
Thí dụ độ rỗng của bê tông nhẹ có thể là 50 ÷ 60%, nhưng độ hút nước của nó chỉ đến 20 ÷ 30% thể tích. Độ hút nước được xác định theo khối lượng và theo thể tích. - Độ hút nước theo khối lượng: là tỷ số giữa khối lượng nước mà vật liệu hút vào với khối lượng vật liệu khô. Độ hút nước theo khối lượng ký hiệu là HP (%) và xác định theo công thức: mn mu mk HP x100(%) x100(%) mk mk - Độ hút nước theo thể tích: là tỷ số giữa thể tích nước mà vật liệu hút vào với thể tích tự nhiên của vật liệu.
Độ hút nước theo thể tích được ký hiệu là HV(%) và xác định theo công thức : Vn mu mk HV x100(%) hay HV x100(%) VV VV x n Trong đó : mn, Vn : Khối lượng và thể tích nước mà vật liệu đã hút. ρn : Khối lượng riêng của nước ρn = 1g/cm3 mư, mk: Khối lượng của vật liệu khi đã hút nước (ướt) và khi khô Vv : Thể tích tự nhiên của vật liệu. Mối quan hệ giữa HV và HP như sau : HV V v hay H V HP. Để xác định độ hút nước của vật liệu, ta lấy mẫu vật liệu đã sấy khô đem cân rồi ngâm vào nước.
Tùy từng loại vật liệu mà thời gian ngâm nước khác nhau. Sau khi vật liệu hút no nước được vớt ra đem cân rồi xác định độ hút nước theo khối lượng hoặc theo thể tích bằng các công thức trên. Độ hút nước được tạo thành khi ngâm trực tiếp vật liệu vào nước, do đó với cùng một mẫu vật liệu đem thí nghiệm thì độ hút nước sẽ lớn hơn độ ẩm. Độ hút nước của vật liệu phụ thuộc vào độ rỗng, đặc tính của lỗ rỗng và thành phần của vật liệu.
Ví dụ: Độ hút nước theo khối lượng của đá granit 0,02 ÷ 0,7% , của bê tông nặng 2 ÷ 4% , của gạch đất sét 8 ÷ 20%. Khi độ hút nước tăng lên sẽ làm cho thể tích của một số vật liệu tăng và khả năng thu nhiệt tăng nhưng cường độ chịu lực và khả năng cách nhiệt giảm đi. Là chỉ tiêu đánh giá khả năng hút nước lớn nhất của vật liệu trong điều kiện cưỡng bức bằng nhiệt độ hay áp suất. Độ bão hòa nước cũng được xác định theo khối lượng và theo thể tích, tương tự như độ hút nước trong điều kiện thường.
- Độ bão hòa nước theo khối lượng: mNbh bh HPbh x100(%) hay M Pbh mu mk x100(%) mk mk - Độ bão hòa nước theo thể tích : VNbh bh mubh mk H bh V x100(%) hay M V x100(%) VV VN. N Trong các công thức trên : bh mnbh , Vn : Khối lượng và thể tích nước mà vật liệu hút vào khi bão hòa. mubh ,mk : Khối lượng của mẫu vật liệu khi đã bão hòa nước và khi khô. VV : Thể tích tự nhiên của vật liệu.
Để xác định độ bão hòa nước của vật liệu có thể thực hiện một trong 2 phương pháp sau: - Phương pháp nhiệt độ: Luộc mẫu vật liệu đã được lấy khô trong nước 4 giờ, để nguội rồi vớt mẫu ra cân và tính toán. - Phương pháp chân không: Ngâm mẫu vật liệu đã được sấy khô trong một bình kín đựng nước, hạ áp lực trong bình xuống còn 20 mmHg cho đến khi không còn bọt khí thoát ra thì trả lại áp lực bình thường và giữ thêm 2 giờ nữa rồi vớt mẫu ra cân và tính toán. Độ bão hòa nước của vật liệu không những phụ thuộc vào thành phần của vật liệu và độ rỗng mà còn phụ thuộc vào tính chất của các lỗ rỗng, do đó độ bão hòa nước được đánh giá bằng hệ số bão hòa Cbh thông qua độ bão hòa nước theo thể tích và độ rỗng r : HVbh Cbh r Cbh thay đổi từ 0 đến 1. Khi hệ số bão hòa lớn tức là trong vật liệu có nhiều lỗ rỗng hở.
Khi vật liệu bị bão hòa nước sẽ làm cho thể tích vật liệu và khả năng dẫn nhiệt tăng, nhưng khả năng cách nhiệt và đặc biệt là cường độ chịu lực thì giảm đi. Do đó mức độ bền nước của vật liệu được đánh giá bằng hệ số mềm (K m) thông qua cường độ của mẫu bão hòa nước Rbh và cường độ của mẫu khô Rk : Rbh Km Rk Những vật liệu có Km > 0,75 là vật liệu chịu nước có thể dùng cho các công trình thủy lợi. Tính thấm nước. 12 là tính chất để cho nước thấm qua từ phía có áp lực cao sang phía có áp lực thấp.
Tính thấm nước được đặc trưng bằng hệ số thấm Kth (m/h): Vn .t Như vậy, Kth là thể tích nước thấm qua Vn (m3) một tấm vật liệu có chiều dày a = 1m, diện tích S = 1m2, sau thời gian t = 1 giờ, khi độ chênh lệch áp lực thuỷ tĩnh ở hai mặt là p1 - p2 = 1m cột nước. Tùy thuộc từng loại vật liệu mà có cách đánh giá tính thấm nước khác nhau. Ví dụ: Tính thấm nước của ngói lợp được đánh giá bằng thời gian xuyên nước qua viên ngói, tính thấm nước của bê tông được đánh giá bằng áp lực nước lớn nhất ứng với lúc xuất hiện nước qua bề mặt mẫu bê tông hình trụ có đường kính và chiều cao bằng 150 mm. Mức độ thấm nước của vật liệu phụ thuộc vào bản chất của vật liệu, độ rỗng và tính chất của lỗ rỗng.
Nếu vật liệu có nhiều lỗ rỗng lớn và thông nhau thì mức độ thấm nước sẽ lớn hơn khi vật liệu có lỗ rỗng nhỏ và cách nhau. Tính mao dẫn.