Luận văn thạc sĩ: BTCĐC 65MPa công trình thủy lợi VN dùng PCB 40 - Tạ Biên Cương

Nghiên cứu bê tông cường độ cao 65MPa ứng dụng cho công trình thủy lợi Việt Nam, sử dụng xi măng Pooclăng hỗn hợp PCB 40. Luận văn thạc sĩ chi tiết.

Trường đại học

Trường Đại học Thủy lợi

Chuyên ngành

Vật liệu xây dựng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2015

98
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về BTCĐC 65MPa cho thủy lợi Việt Nam dùng xi măng PCB 40

Bê tông cường độ cao 65MPa (BTCĐC 65MPa) là loại vật liệu xây dựng được nghiên cứu và phát triển cho các công trình thủy lợi tại Việt Nam. Nó sử dụng xi măng Pooc lăng hỗn hợp PCB 40 làm chất kết dính chính. Loại bê tông này có khả năng chịu lực lớn, độ bền cao và chống thấm tốt. Việc áp dụng BTCĐC 65MPa giúp nâng cao tuổi thọ và hiệu quả kinh tế cho các hạng mục như đập, kênh dẫn và bể chứa. Quá trình nghiên cứu tập trung vào tối ưu hóa thiết kế thành phần để đạt các chỉ tiêu kỹ thuật khắt khe. Điều này phù hợp với điều kiện khí hậu và yêu cầu xây dựng tại Việt Nam. Công trình thủy lợi đòi hỏi vật liệu phải có độ đặc chắc và khả năng chống xâm thực cao. BTCĐC 65MPa giải quyết được những yêu cầu này thông qua việc kiểm soát chặt chẽ tỷ lệ phối liệu.

1.1. Định nghĩa và đặc điểm của BTCĐC 65MPa

BTCĐC 65MPa được định nghĩa là bê tông có cường độ chịu nén đạt tối thiểu 65 megapascal sau 28 ngày tuổi. Nó thuộc loại bê tông cường độ cao, có mô đun đàn hồi lớn và độ co ngót thấp. Đặc điểm nổi bật là khả năng chịu tải trọng nặng và môi trường khắc nghiệt. Sử dụng xi măng PCB 40, là loại xi măng Pooc lăng hỗn hợp, giúp tăng độ bền lâu dài. Thành phần bao gồm cốt liệu, nước, xi măng và các phụ gia khoáng hoạt tính siêu mịn. Sự kết hợp này tạo ra cấu trúc vi mô đặc chắc, giảm độ rỗng. BTCĐC 65MPa thường được ứng dụng trong các công trình yêu cầu tuổi thọ cao như đập thủy điện và kênh tưới tiêu.

1.2. Tình hình nghiên cứu và ứng dụng hiện tại

Nghiên cứu về BTCĐC 65MPa cho thủy lợi Việt Nam đã được tiến hành nhằm thích ứng với điều kiện địa phương. Các công trình trên thế giới đã chứng minh hiệu quả của bê tông cường độ cao trong xây dựng thủy lợi. Tại Việt Nam, việc sử dụng xi măng PCB 40 là bước tiến mới để tối ưu hóa tính chất cơ học. Ứng dụng thực tế tập trung vào các dự án đập, hồ chứa và hệ thống thoát nước. Thách thức bao gồm kiểm soát chất lượng vật liệu và quy trình thi công. Nghiên cứu hiện nay hướng đến phương pháp thiết kế tiết kiệm chi phí. Sự hợp tác giữa các trường đại học và doanh nghiệp đã thúc đẩy việc áp dụng BTCĐC 65MPa vào thực tiễn.

II. Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến BTCĐC 65MPa trong thủy lợi

Nhiều yếu tố ảnh hưởng đến hiệu suất của BTCĐC 65MPa trong công trình thủy lợi. Đầu tiên là chất lượng xi măng PCB 40, phải đạt tiêu chuẩn về độ mịn và thành phần hóa học. Thứ hai là tỷ lệ nước-xi măng, cần được kiểm soát chính xác để đảm cường độ và độ đặc. Phụ gia khoáng như silica fume hoặc tro bay đóng vai trò quan trọng trong việc tăng độ chắc. Cốt liệu phải có kích thước hạt tối ưu để giảm thiểu độ rỗng. Điều kiện thi công như nhiệt độ, độ ẩm cũng tác động đến quá trình đóng rắn. Thiết kế thành phần phải tính đến khả năng chống thấm và kháng xâm thực. Yếu tố kinh tế cũng được cân nhắc để áp dụng rộng rãi. Mỗi yếu tố này đều cần được phân tích kỹ trong quá trình nghiên cứu.

2.1. Vai trò của xi măng PCB 40 trong hỗn hợp

Xi măng PCB 40 là loại xi măng Pooc lăng hỗn hợp, có thành phần bao gồm clinker và các phụ gia khoáng. Nó cung cấp độ dẻo và cường độ ban đầu cho hỗn hợp bê tông. Trong BTCĐC 65MPa, xi măng PCB 40 giúp tăng khả năng kết dính và giảm nhiệt thủy hóa. Đặc tính này rất quan trọng cho các công trình thủy lợi tiếp xúc với nước thường xuyên. Xi măng PCB 40 còn cải thiện độ bền lâu dài, chống lại sự xâm thực của sulfat và clo. Việc sử dụng loại xi măng này phù hợp với tiêu chuẩn xây dựng Việt Nam. Nó là yếu tố then chốt để đạt cường độ 65MPa với chi phí hợp lý.

2.2. Tác động của phụ gia khoáng và hóa học

Phụ gia khoáng hoạt tính siêu mịn như silica fume hoặc tro bay cải thiện độ đặc chắc của đá xi măng. Chúng phản ứng puzơlanic, tạo thêm khoáng chất có ích, giảm độ rỗng. Phụ gia hóa học như siêu dẻo giúp giảm lượng nước trộn, tăng độ linh hoạt của hỗn hợp. Sự kết hợp này tăng cường khả năng chống thấm và kháng hóa chất. Trong môi trường thủy lợi, điều này giúp bê tông chống lại sự ăn mòn từ nước và đất. Phụ gia còn giảm co ngót, ngăn ngừa nứt nẻ. Tuy nhiên, hàm lượng phụ gia phải được tính toán chính xác để tránh ảnh hưởng tiêu cực. Nghiên cứu chỉ ra rằng tỷ lệ tối ưu giữa các phụ gia là cần thiết.

III. Giải pháp thiết kế và thi công BTCĐC 65MPa hiệu quả

Để đạt BTCĐC 65MPa hiệu quả, cần áp dụng các giải pháp thiết kế và thi công tiên tiến. Thiết kế thành phần dựa trên phương pháp tính toán lý thuyết kết hợp thực nghiệm. Sử dụng tiêu chuẩn ACI 211.4R-08 để lựa phối liệu, tập trung vào tỷ lệ nước-xi măng thấp. Thi công yêu cầu trộn đều và đầm kỹ để loại bỏ bọt khí. Kiểm soát nhiệt độ bê tông trong quá trình đóng rắn là cần thiết, đặc biệt ở khí hậu nóng ẩm Việt Nam. Ứng dụng phụ gia siêu dẻo giúp tăng độ dẻo mà không cần thêm nước. Giải pháp cũng bao gồm bảo dưỡng bê tông đúng cách để phát triển cường độ tối đa. Việc giám sát chất lượng tại hiện trường đảm bảo tính đồng nhất. Những giải pháp này giúp tối ưu hóa hiệu suất và giảm chi phí dài hạn.

3.1. Phương pháp tính toán thành phần bê tông

Phương pháp tính toán thành phần BTCĐC 65MPa thường dựa trên công thức Bolomey-Skramtaev hoặc tiêu chuẩn Mỹ. Đầu tiên, xác định tỷ lệ nước-xi măng mong muốn, thường dưới 0.35 để đạt cường độ cao. Sau đó, tính hàm lượng xi măng PCB 40 và phụ gia khoáng. Cốt liệu được chọn với thành phần hạt tối ưu để giảm độ rỗng. Phương pháp thể tích tuyệt đối giúp tính chính xác lượng vật liệu cho 1 mét khối bê tông. Thực nghiệm mẻ thử điều chỉnh lại thành phần cho phù hợp. Quá trình này đòi hỏi kiến thức chuyên sâu về vật liệu xây dựng. Áp dụng linh hoạt trong điều kiện Việt Nam là chìa khóa thành công.

3.2. Ứng dụng phụ gia siêu dẻo và khoáng hoạt tính

Phụ gia siêu dẻo (PGSD) giảm lượng nước trộn từ 15-25%, tăng độ linh hoạt của hỗn hợp bê tông. Nó hoạt động bằng cơ chế phân tán hạt xi măng, chống kết tụ. Phụ gia khoáng hoạt tính như silica fume cải thiện độ đặc chắc vi cấu trúc. Sự kết hợp giữa PGSD và phụ gia khoáng tạo ra hiệu ứng cộng hưởng, tăng cường độ và độ bền. Trong BTCĐC 65MPa, hàm lượng PGSD thường từ 1-2% khối lượng xi măng. Phụ gia khoáng chiếm 5-15%, tùy loại. Việc sử dụng đúng cách giúp đạt cường độ 65MPa với độ sụt phù hợp cho thi công. Đây là giải pháp then chốt cho công trình thủy lợi yêu cầu chất lượng cao.

IV. Kết luận và ứng dụng của BTCĐC 65MPa trong thủy lợi

Nghiên cứu về BTCĐC 65MPa cho thủy lợi Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả khả quan. Sử dụng xi măng PCB 40 kết hợp phụ gia khoáng giúp đạt cường độ cao và độ bền vượt trội. Phương pháp thiết kế được tối ưu hóa cho điều kiện địa phương, giảm chi phí và tăng hiệu quả. Ứng dụng thực tế cho thấy bê tông này phù hợp với các công trình như đập, kênh mương và bể chứa. Nó cải thiện khả năng chống thấm, kéo dài tuổi thọ hạ tầng thủy lợi. Kết luận nhấn mạnh tầm quan trọng của nghiên cứu trong việc nâng cao chất lượng xây dựng. Tuy nhiên, cần tiếp tục phát triển để áp dụng rộng rãi hơn. BTCĐC 65MPa hứa hẹn mang lại lợi ích kinh tế-xã hội lớn cho ngành thủy lợi Việt Nam.

4.1. Kết quả đạt được từ nghiên cứu

Nghiên cứu đã xác định được thành phần tối ưu cho BTCĐC 65MPa dùng xi măng PCB 40. Cường độ chịu nén đạt 65MPa sau 28 ngày, với mô đun đàn hồi khoảng 39 kN/mm². Độ đặc chắc vi cấu trúc được cải thiện nhờ phụ gia khoáng siêu mịn. Khả năng chống thấm tăng đáng kể, phù hợp với môi trường thủy lợi. Phương pháp thiết kế tiết kiệm vật liệu và thời gian thi công. Thực nghiệm mẻ thử cho thấy tính khả thi trong điều kiện thực tế. Kết quả này đóng góp vào nền tảng khoa học về bê tông cường độ cao tại Việt Nam.

4.2. Hướng phát triển và ứng dụng thực tế

Trong tương lai, BTCĐC 65MPa cần được áp dụng rộng rãi hơn trong các dự án thủy lợi. Hướng phát triển bao gồm nghiên cứu thêm phụ gia mới để giảm chi phí. Ứng dụng thực tế tập trung vào công trình chịu tải trọng nặng và môi trường khắc nghiệt. Sự hợp tác giữa viện nghiên cứu và doanh nghiệp sẽ thúc đẩy chuyển giao công nghệ. Đào tạo nhân lực thi công bê tông cường độ cao là cần thiết. Việc tiêu chuẩn hóa quy trình thiết kế sẽ giúp áp dụng dễ dàng hơn. BTCĐC 65MPa có tiềm năng trở thành vật liệu chủ lực cho thủy lợi bền vững.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

17/04/2026
Luận văn thạc sĩ file word nghiên cứu bê tông cường độ cao có mác tới 65mpa cho công trình thủy lợi ở việt nam dùng xi măng pooc lăng hỗn hợp pcb 40

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU VÀ ỨNG DỤNG BTCĐC Ở VIỆT NAM VÀ THẾ GIỚI 1.1 Định nghĩa BTCĐC. Theo Tiêu chuẩn Mỹ ACI 116R - 00 [36], BTCĐC (high strength concrete) là bê tông có cường độ bằng hoặc lớn hơn 6000 psi (41 MPa) được xác định theo mẫu hình trụ có kích thước đường kính × chiều cao = 15 × 30 cm (Nếu quy đổi ra mẫu lập phương theo TCVN 3118 : 1993 [30] với hệ số tăng là 1,2 sẽ được 41 × 1,2 = 49,2 MPa, coi như 50 MPa). Quy định đó cũng phù hợp với quy định của Liên Xô cũ [46].2 Khái niệm và phân loại BTCĐC. Trong những năm 70 của thế kỷ 20 BTT có độ dẻo nhất định được chế tạo với 4 thành phần cơ bản (xi măng, cát, đá và nước) và tỷ lệ N/X  0,4; nên cường độ bê tông chỉ đạt được không quá 50 MPa.

Về sau để xây dựng những công trình quan trọng yêu cầu bê tông có cường độ cao hơn bằng cách giảm lượng nước trộn (giảm tỷ lệ N/X) và chế tạo được bê tông cứng (khô). Khi đó phải áp dụng công nghệ đầm đặc biệt mới đảm bảo bê tông đặc chắc. Về sau nhờ sự ra đời của các loại phụ gia siêu dẻo: Naptalen focmaldehit sunfonat và Melamin focmaldehit sunfonat (ở Nhật và ở Đức vào thập kỷ 70 của thế kỷ 20) và phụ gia khoáng siêu mịn silica fume (ở Na uy vào thập kỷ 80 của thế kỷ20), người ta đã chế tạo được BTCĐC với độ dẻo yêu cầu và với tỷ lệ N/CKD thấp. Theo thời gian mác bê tông sử dụng ngày càng cao hơn.

Theo ACI 363 [39] bê tông được phân theo cường độ chịu nén như trong bảng 1.1: Phân loại bê tông theo cường độ nén Bê tông Bê tông Bê tông Các yếu tố thông BTCĐC cường độ cường độ thường rất cao siêu cao Cường độ nén, MPa  41 41 – 100 100 – 150  150 Tỷ lệ N/X (hoặc  0,4 0,3 – 0,4 0,25 – 0,3  0,25 N/CKD) Không nhất Phụ gia hóa Siêu dẻo Siêu dẻo Siêu dẻo thiết Không nhất Tro bay, xỉ lò Siliaca Phụ gia khoáng Silica fume thiết cao hoặc Silica fume fume Thông báo của hội thảo khoa học quốc tế ở Ryan Megeredy phân ra 5 loại BTCĐC theo cường độ nén như trong bảng 1.2: Phân loại BTCĐC. Loại bê tông I II III IV V Cường độ nén, MPa 50 75 100 125 150 BTCĐC thường có các tính chất khác cũng cao như tính chống thấm, chống ăn mòn, xói mòn,… Khi đó được gọi là bê tông chất lượng cao (BTCLC) hoặc bê tông tính năng cao (BTTNC - High performance concrete) .3 Tình hình nghiên cứu và ứng dụng BTCĐC trên thế giới và ở Việt Nam.1 Trên thế giới: Trên thế giới BTCĐC đã bắt đầu được nghiên cứu và ứng dụng vào đầu những năm 70 của thế kỷ trước. Năm 1980 ở Pháp có chương trình nghiên cứu quốc gia về BTCĐC, sau đó có nhiều chương trình nghiên cứu tầm cỡ khác ở 6 các nước Mỹ, Na Uy, Canada, Đức, Nhật Bản, Úc, Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài Loan,… Nhiều hội nghị quốc tế về BTCĐC đã được tổ chức và các thông tin khoa học về BTCĐC được quảng bá rộng rãi. Theo tài liệu ACI 363 [39], ban đầu BTCĐC sử dụng chủ yếu cho các công trình nhà cao tầng và cầu nhịp lớn.

Càng về sau BTCĐC càng được sử dụng rộng rãi hơn và cường độ đạt được càng cao hơn. Những năm gần đây đã đạt được bê tông cường độ rất cao và bê tông cường độ siêu cao. Năm 1994 ở Mỹ đã dùng bê tông đạt cường độ 131 MPa, ở Nhật Bản xây dựng cầu bằng bê tông có cường độ 100 MPa, ở Bỉ dùng bê tông có cường độ 110 MPa. Còn ở Thụy Điển đã chế tạo dầm bê tông cốt thép ứng suất trước với bê tông đạt cường độ 143 MPa.

Năm 2001 ở Canada xây dựng si lô chứa xi măng dùng bê tông đạt cường độ tới 220 MPa.2 Ở Việt Nam: Ở Việt Nam cho đến năm 1990 các kết cấu công trình bằng bê tông cốt thép vẫn chủ yếu dùng mác bê tông 30 MPa. Một vài công trình đặc biệt như khu di tích Lăng Chủ tich Hồ Chí Minh, khách sạn Thăng Long 11 tầng, cầu Thăng Long, cầu Chương Dương dùng bê tông mác tới 40 MPa. Về sau các cầu lớn có khẩu độ từ 30 đến 50m như: cầu Phú Lương (Hải Dương), cầu Tân Đệ (Thái Bình), cầu Sông Gianh (Quảng Bình), cầu Tuần (Huế), cầu Tuyên Sơn (Đà Nẵng), cầu Mỹ Thuận (Tiền Giang), cầu Rạch Miễu (Bến Tre), cầu Cần Thơ (Cần Thơ),… cùng với các nút giao thông quan trọng và cầu vượt ở đô thị đã dùng bê tông cường độ tới 50 – 60 MPa. Nhiều nhà máy xi măng ở nước ta đã sản xuất được xi măng mác 40, 50 và có khả năng sản xuất mác 60, đã tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất BTCĐC.

Trên đường Láng – Hòa Lạc có trạm trộn BTCĐC của Tập đoàn Nam Cường đã cung cấp bê tông tươi cường độ cao cho một số công trình có nhu cầu. Các công trình thủy lợi cho đến nay vẫn chủ yếu dùng bê tông mác thường. Tuy nhiên trước xu hướng ngày càng sử dụng nhiều BTCĐC ở các 7 ngành giao thông, xây dựng ở nước ta, chắc chắn rằng trong tương lai ngành thủy lợi sẽ sử dụng BTCĐC cho các kết câu, bộ phận công trình có yêu cầu và đặc biệt cho các công trình ven biển chịu tác động ăn mòn của nước biển và nước chua phèn. Hiện nay ở nhiều viện nghiên cứu khoa học và trường đại học có liên quan đến xây dựng ở nước ta đã và đang nghiên cứu BTCĐC, cả bê tông cường độ rất cao, siêu cao và đạt được kết quả tốt.4 Vật liệu dùng cho BTCĐC.

Nguyên vật liệu dùng để chế tạo BTCĐC gồm: Xi măng, cốt liệu, nước, phụ gia dẻo cao hoặc siêu dẻo (giảm nước mức độ cao), phụ gia khoáng hoạt tính chất lượng cao.1 Xi măng: Dùng xi măng mác cao từ mác 40 trở lên, có độ mịn cao. Ở nước ta đã sản xuất xi măng mác 50 (MPa), trong tương lai sẽ sản xuất xi măng mác 60 (theo phương hướng phát triển khoa học công nghệ của Bộ Xây dựng), còn ở nước ngoài đã sản suất xi măng mác đến 80, thậm chí còn cao hơn.2 Cốt liệu: Dùng cốt liệu lớn đặc chắc, cường độ cao. Tiêu chuẩn ACI 363 [39] đã khuyến cáo như sau: nên chọn loại cốt liệu lớn có cường độ cao, nhưng kích thước lớn nhất (đường kính danh nghĩa lớn nhất) - Dmax thường nhỏ hơn so với cốt liệu trong BTT và thường không quá 25 mm. Nên dùng cát hạt thô, có mô đun độ lớn trong khoảng 2,6 – 3,5.3 Phụ gia khoáng hoạt tính có độ mịn cao: Do hàm lượng xi măng trong BTCĐC khá lớn có thể từ 400 – 595 kg/m3, nên bê tông co ngót nhiều và tốn xi măng.

Để khắc phục điều đó, cần phải thay thế một phần xi măng bằng phụ gia khoáng hoạt tính có độ mịn như xi măng hoặc mịn 8 hơn như: tro bay, tro trấu, meta cao lanh hoặc silica fume. Có thể dùng kết hợp hai trong số các loại phụ gia đó. Silica fume và tro bay là hai loại phụ gia khoáng hoạt tính được dùng phổ biến nhất.1 Tro bay: Tro bay là phụ gia khoáng thu được khi đốt than cám ở nhà máy nhiệt điện. Tro bay bay lên, được lắng đọng bằng phương pháp tĩnh điện hoặc cơ học ở ống khói.

Đây là một loại phụ gia khoáng hoạt tính phổ biến nhất và kinh tế nhất, vì là phế liệu dạng hạt mịn, nên không cần phải nghiền. Tro bay được sử dụng từ rất sớm trong ngành sản xuất xi măng và bê tông. Hạt tro bay có dạng hình cầu, kích thước tương tự hạt xi măng. Thành phần hóa học của tro bay chủ yếu là các oxit SiO2, Al2O3 và một số oxit khác; ngoài ra, còn có một hàm lượng than chưa cháy lẫn trong tro bay.

Hàm lượng than chưa cháy có ảnh hưởng xấu đến chất lượng của tro bay, nên trong tiêu chuẩn Mỹ ASTM C 618 [42] quy định hàm lượng than chưa cháy nhỏ hơn 6% (nhưng cũng ghi chú là hàm lượng than chưa cháy có thể cao hơn, nếu qua thí nghiệm thực tế trong bê tông thấy rằng vẫn dùng được). Ở nước ta mới ban hành TCVN 10302 : 2014 về tro bay [17]. Hàm lượng tro bay trong BTT khoảng 15 - 30% của khối lượng chất kết dính. Khi tro bay lẫn xỉ nghiền mịn thì gọi là tro xỉ.

Tro xỉ cũng được sản xuất làm phụ gia cho bê tông và được sử dụng phụ gia khoáng cho xi măng ở nhà máy xi măng Hoàng Thạch… Tro bay có hạt tròn dễ trơn trượt, nên làm tăng độ lưu động của hỗn hợp bê tông hoặc giảm lượng nước trộn, nếu không yêu cầu tăng độ sụt. Tro bay có hoạt tính trung bình do có một hàm lượng SiO 2 hoạt tính chỉ khoảng 70%. Hình ảnh các hạt tro bay được biểu thị trong hình 1.1:Hình dạng các hạt tro bay. Theo thành phần hóa học tro bay nhiệt điện chính là một loại puzơlan nhân tạo.

Trong tro bay chứa một hàm lượng lớn oxit silic và nhôm silic hoạt tính có khả năng tương tác với Ca(OH)2 sinh ra sau khi các thành phần khoáng của xi măng thủy phân thủy hóa. Khối lượng riêng của tro bay bằng khoảng 2,3 kg/dm3, nhỏ hơn khối lượng riêng của xi măng pooc lăng (khoảng 3,1 kg/dm3); vì vậy khi dùng tro bay thay thế một phần xi măng theo thể tích tuyệt đối trong bê tông, thì khối lượng thể tích của bê tông có tro bay sẽ nhỏ hơn một chút so với khối lượng thể tích của bê tông chỉ có xi măng. Độ hút ẩm của bê tông có tro bay cao hơn và độ sụt của hỗn hợp bê tông cũng lớn hơn. Bê tông pha tro bay tỏa nhiệt ít hơn và có tính bền sunfat cao hơn bê tông dùng toàn xi măng.2 Silica fume (muội silic): Silica fume là một loại phụ gia khoáng hoạt tính cao được dùng làm phụ gia cho bê tông chất lượng cao.

Đây là một loại phụ gia khoáng được nghiên cứu và sử dụng nhiều ở nước ta [2, 3, 5, 7, 9, 43]. Về nguồn gốc, muội silic là phế liệu của sản suất silic và ferosilic từ thạch anh có độ tinh khiết cao và than đá trong lò cung lửa điện ngập. Khí SiO bay ra được oxi hóa và ngưng tụ thành các hạt SiO2 hình cầu cực nhỏ ở dạng vô định hình, nên có hoạt tính rất cao và tác dụng với vôi rất mạnh. Như vậy độ mịn của muội silic được 10 hình thành tự nhiên, chứ không phải do nghiền.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ