Giáo trình tư tưởng hồ chí minh xuất bản lần thứ 11 phần 2

Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh (lần thứ 11, phần 2): Nghiên cứu sâu về tư tưởng đạo đức, văn hóa, và con đường cách mạng của Bác. Tài liệu học tập, tham khảo giá trị.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Giáo trình
126
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh tái bản lần thứ 11

Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh, trong lần tái bản thứ 11, tiếp tục khẳng định vai trò là tài liệu tư tưởng Hồ Chí Minh cốt lõi và chính thống trong hệ thống giáo dục quốc dân. Được biên soạn bởi hội đồng chuyên môn uy tín dưới sự chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo, và do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật ấn hành, tài liệu này không chỉ là một cuốn sách giáo khoa mà còn là một công trình khoa học sâu sắc. Sách tư tưởng Hồ Chí Minh mới nhất này được xây dựng trên nền tảng vững chắc của chủ nghĩa Mác-Lênin và thực tiễn cách mạng Việt Nam, hệ thống hóa một cách toàn diện và sâu sắc hệ thống quan điểm Hồ Chí Minh. So với các phiên bản trước, lần tái bản lần thứ 11 có nhiều nội dung chỉnh lý, bổ sung quan trọng, cập nhật những kết quả nghiên cứu mới, làm rõ hơn các luận điểm, và điều chỉnh cấu trúc để phù hợp hơn với phương pháp giảng dạy hiện đại. Nội dung cốt lõi của giáo trình tập trung vào việc phân tích nguồn gốc, quá trình hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời làm sáng tỏ các giá trị cốt lõi về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, sức mạnh của nhân dân, đại đoàn kết dân tộc, và xây dựng nhà nước pháp quyền. Đây là nguồn tài liệu không thể thiếu cho sinh viên, giảng viên và các nhà nghiên cứu khi tìm hiểu về di sản Hồ Chí Minh.

1.1. Mục tiêu và đối tượng của giáo trình chỉnh lý bổ sung

Mục tiêu chính của giáo trình là trang bị cho người học những kiến thức cơ bản, có hệ thống về tư tưởng, đạo đức, và phong cách Hồ Chí Minh. Tài liệu này hướng đến việc xây dựng thế giới quan, phương pháp luận khoa học, bồi dưỡng phẩm chất chính trị, đạo đức và lý tưởng cách mạng cho thế hệ trẻ. Đối tượng chính là sinh viên các trường đại học, cao đẳng trên cả nước. Ngoài ra, giáo trình còn là tài liệu tham khảo quý giá cho cán bộ, đảng viên và tất cả những ai muốn nghiên cứu sâu về hệ thống quan điểm Hồ Chí Minh và vận dụng vào thực tiễn.

1.2. Những điểm mới nổi bật trong lần tái bản thứ 11

Lần tái bản lần thứ 11 mang đến nhiều cập nhật đáng chú ý. Thứ nhất, cấu trúc các chương mục được sắp xếp lại một cách logic hơn, giúp người học dễ dàng tiếp cận và hệ thống hóa kiến thức. Thứ hai, nhiều nội dung chỉnh lý, bổ sung được đưa vào dựa trên các văn kiện mới của Đảng và kết quả nghiên cứu học thuật gần đây, đặc biệt là các luận điểm về xây dựng nhà nước pháp quyền và hội nhập quốc tế. Cuối cùng, hệ thống thuật ngữ, khái niệm được chuẩn hóa, giúp tránh những cách hiểu sai lệch, đảm bảo tính nhất quán và khoa học của toàn bộ công trình.

II. Thách thức khi ôn thi Tư tưởng HCM với nội dung mới nhất

Việc học tập và ôn thi cuối kỳ tư tưởng HCM với giáo trình mới đặt ra không ít thách thức. Khối lượng kiến thức lớn, bao gồm nhiều luận điểm triết học, chính trị và lịch sử phức tạp, đòi hỏi người học phải có khả năng tư duy tổng hợp và phân tích sâu. Các nội dung chỉnh lý, bổ sung trong lần tái bản thứ 11 yêu cầu sinh viên phải cập nhật liên tục, không thể chỉ dựa vào các tài liệu cũ hay các đề cương ôn tập TTHCM từ những năm trước. Một trong những khó khăn lớn nhất là việc liên hệ lý luận với thực tiễn. Hiểu được tư tưởng về đạo đức, tư tưởng về văn hóa của Hồ Chí Minh không chỉ là ghi nhớ các định nghĩa, mà còn phải biết cách vận dụng để phân tích các vấn đề thời sự, xã hội đương đại. Thêm vào đó, việc thiếu hụt các tài liệu hỗ trợ chất lượng như slide bài giảng tư tưởng Hồ Chí Minh được cập nhật theo giáo trình mới cũng là một trở ngại. Nhiều sinh viên vẫn còn lúng túng trong việc hệ thống hóa kiến thức giữa các chương, đặc biệt là mối liên hệ giữa tư tưởng về đại đoàn kết dân tộc và tư tưởng về xây dựng nhà nước. Để vượt qua những thách thức này, người học cần một phương pháp tiếp cận khoa học, bắt đầu từ việc nắm vững cấu trúc giáo trình và các luận điểm cốt lõi.

2.1. Khó khăn trong việc hệ thống hóa kiến thức đã cập nhật

Các nội dung chỉnh lý, bổ sung tuy làm cho giáo trình hoàn thiện hơn nhưng cũng gây khó khăn cho sinh viên trong việc hệ thống hóa. Việc phân biệt đâu là kiến thức cũ, đâu là luận điểm mới, và mối quan hệ giữa chúng đòi hỏi sự tập trung cao độ. Nếu không có sự hướng dẫn cặn kẽ từ giảng viên hoặc một đề cương ôn tập TTHCM chuẩn, người học rất dễ bị rối và không nắm được trọng tâm của từng chương, ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả ôn thi cuối kỳ tư tưởng hcm.

2.2. Yêu cầu vận dụng lý luận vào phân tích thực tiễn

Môn học không còn dừng lại ở việc kiểm tra kiến thức thuộc lòng. Các kỳ thi hiện nay ngày càng chú trọng đến khả năng vận dụng hệ thống quan điểm Hồ Chí Minh để giải quyết các vấn đề thực tiễn. Ví dụ, sinh viên có thể được yêu cầu phân tích vai trò của khối đại đoàn kết dân tộc trong công cuộc phòng chống đại dịch COVID-19, hoặc liên hệ tư tưởng về đạo đức với cuộc chiến chống tham nhũng. Điều này đòi hỏi một sự hiểu biết sâu sắc và khả năng tư duy phản biện, là một thách thức lớn đối với nhiều người học.

III. Phương pháp luận về đại đoàn kết dân tộc trong giáo trình

Một trong những nội dung trọng tâm của Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh xuất bản lần thứ 11 là tư tưởng về đại đoàn kết dân tộc. Đây không chỉ là một chính sách tạm thời mà là một chiến lược cách mạng cơ bản, nhất quán, quyết định sự thành bại của sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước. Theo Hồ Chí Minh, đoàn kết làm ra sức mạnh. Người đã khái quát thành chân lý: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công!”. Hệ thống quan điểm Hồ Chí Minh về đại đoàn kết được trình bày một cách khoa học, bắt đầu từ vai trò chiến lược, lực lượng tham gia, điều kiện thực hiện cho đến hình thức tổ chức. Giáo trình nhấn mạnh, đại đoàn kết dân tộc là đại đoàn kết toàn dân, tập hợp mọi con dân nước Việt, không phân biệt giai cấp, dân tộc, tôn giáo, miễn là có lòng yêu nước. Nền tảng của khối đại đoàn kết này là liên minh công - nông - trí thức, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Để thực hiện được đoàn kết, cần có lòng khoan dung, độ lượng, xóa bỏ thành kiến và có niềm tin vào nhân dân. Tư tưởng này là sự kế thừa và phát triển truyền thống yêu nước, nhân nghĩa của dân tộc lên một tầm cao mới, dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác-Lênin.

3.1. Vai trò chiến lược của đại đoàn kết quyết định thành công

Hồ Chí Minh khẳng định đại đoàn kết dân tộc là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, quyết định thành công của cách mạng. Đây là nhiệm vụ hàng đầu của Đảng và của cả dân tộc. Trong tác phẩm, Người viết: “Mục đích của Đảng Lao động Việt Nam có thể gồm trong 8 chữ là: ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN, PHỤNG SỰ TỔ QUỐC”. Sức mạnh của cách mạng nằm ở nơi quần chúng. Thực lực của cách mạng chính là khối đại đoàn kết dân tộc được tổ chức và giác ngộ. Nhờ có chính sách mặt trận đúng đắn, Đảng ta đã xây dựng thành công khối đoàn kết, đưa cách mạng đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

3.2. Điều kiện và lực lượng thực hiện đại đoàn kết toàn dân

Lực lượng của khối đại đoàn kết là toàn dân tộc, “mỗi một người con Rồng cháu Tiên”. Để quy tụ lực lượng rộng rãi này, cần phải có những điều kiện tiên quyết. Thứ nhất, phải kế thừa truyền thống yêu nước – nhân nghĩa – đoàn kết của dân tộc. Thứ hai, phải có lòng khoan dung, độ lượng với con người, trân trọng phần thiện dù là nhỏ nhất. Thứ ba, phải có niềm tin vững chắc vào nhân dân. Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong”. Đây là những nguyên tắc nền tảng để xây dựng một khối đại đoàn kết dân tộc bền vững.

3.3. Hình thức tổ chức khối đại đoàn kết Mặt trận Dân tộc Thống nhất

Để biến tư tưởng đại đoàn kết thành sức mạnh vật chất, cần có một hình thức tổ chức cụ thể, đó chính là Mặt trận Dân tộc Thống nhất. Đây là nơi quy tụ mọi tổ chức và cá nhân yêu nước, phấn đấu vì mục tiêu chung. Tùy từng thời kỳ, mặt trận có những tên gọi khác nhau (Mặt trận Việt Minh, Mặt trận Liên Việt, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam...) nhưng bản chất không đổi. Mặt trận phải được xây dựng trên nền tảng liên minh công - nông - trí thức và đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Hoạt động của mặt trận tuân theo nguyên tắc hiệp thương dân chủ, đảm bảo lợi ích tối cao của dân tộc và quyền lợi cơ bản của nhân dân.

IV. Bí quyết hiểu tư tưởng đoàn kết quốc tế theo giáo trình mới

Bên cạnh đại đoàn kết dân tộc, tư tưởng về đoàn kết quốc tế là một bộ phận không thể tách rời trong hệ thống quan điểm Hồ Chí Minh. Giáo trình mới làm rõ rằng, việc thực hiện đoàn kết quốc tế nhằm kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, tạo nên sức mạnh tổng hợp cho cách mạng. Hồ Chí Minh sớm nhận ra cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới. Trong thời đại mới, một dân tộc không thể tự mình giải quyết các vấn đề lớn nếu bị cô lập. Do đó, phải tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của các lực lượng tiến bộ trên toàn cầu. Lực lượng đoàn kết quốc tế rất rộng lớn, bao gồm phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, phong trào giải phóng dân tộc, và các lực lượng yêu chuộng hòa bình, dân chủ trên thế giới. Nguyên tắc đoàn kết là phải dựa trên cơ sở thống nhất về mục tiêu và lợi ích, có lý, có tình. Đối với phong trào cộng sản, đó là ngọn cờ độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội và nền tảng chủ nghĩa Mác-Lênin. Đối với các dân tộc khác, đó là ngọn cờ độc lập, tự do, bình đẳng. Đồng thời, mọi sự đoàn kết, hợp tác phải dựa trên nguyên tắc độc lập, tự chủ, tự lực tự cường. Sức mạnh nội sinh luôn là yếu tố quyết định.

4.1. Kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại

Tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ rõ, sức mạnh dân tộc là gốc, bao gồm chủ nghĩa yêu nước, ý chí tự lực tự cường. Tuy nhiên, để chiến thắng kẻ thù lớn mạnh, cần kết hợp sức mạnh đó với sức mạnh của các trào lưu cách mạng thời đại. Đoàn kết quốc tế giúp phá vỡ thế bị bao vây, cô lập, tạo ra một mặt trận chung của nhân dân thế giới ủng hộ sự nghiệp chính nghĩa của Việt Nam. Đây là bài học kinh nghiệm sâu sắc, có giá trị lý luận và thực tiễn to lớn, được trình bày rõ trong tài liệu tư tưởng Hồ Chí Minh này.

4.2. Lực lượng và nguyên tắc cốt lõi trong đoàn kết quốc tế

Lực lượng đoàn kết quốc tế được xác định rõ ràng: phong trào cộng sản và công nhân quốc tế là nòng cốt; phong trào giải phóng dân tộc là đồng minh tự nhiên; các lực lượng hòa bình, dân chủ là bạn đồng hành. Nguyên tắc đoàn kết phải “có lý, có tình”. “Có lý” là tuân thủ nguyên tắc của chủ nghĩa Mác-Lênin và lợi ích chung. “Có tình” là sự thông cảm, tôn trọng, giúp đỡ lẫn nhau trên tinh thần đồng chí. Đồng thời, phải luôn nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, “muốn người ta giúp cho, thì trước mình phải tự giúp lấy mình đã”.

V. Hướng dẫn xây dựng nhà nước pháp quyền của dân do dân vì dân

Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước pháp quyền là một di sản lý luận vô giá, được phân tích sâu trong Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh xuất bản lần thứ 11. Quan điểm nhất quán của Người là xây dựng một nhà nước thực sự của dân, do dân và vì dân. “Của dân” có nghĩa là tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân. Nhân dân là người chủ tối cao, có quyền quyết định những vấn đề trọng đại của đất nước thông qua các cơ quan đại diện do chính mình bầu ra. “Do dân” nghĩa là nhà nước do nhân dân lập nên, tổ chức và ủng hộ. Cán bộ nhà nước, từ Chủ tịch nước đến công chức bình thường, đều là “công bộc”, là “đầy tớ” của nhân dân. “Vì dân” thể hiện ở mục tiêu hoạt động của nhà nước: tất cả đều vì lợi ích chính đáng của nhân dân, không có bất kỳ một lợi ích nào khác. Nhà nước phải chăm lo cho đời sống vật chất và tinh thần của người dân, làm cho dân có ăn, có mặc, có chỗ ở, được học hành. Tư tưởng này thể hiện sự thống nhất giữa bản chất giai cấp công nhân với tính nhân dân và tính dân tộc của nhà nước. Bản chất giai cấp công nhân thể hiện ở sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, ở mục tiêu đi lên chủ nghĩa xã hội và ở nguyên tắc tập trung dân chủ.

5.1. Quan điểm về Nhà nước của dân Quyền lực thuộc về nhân dân

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, một nhà nước của dân phải đảm bảo mọi quyền lực thuộc về nhân dân. Điều này được thể chế hóa trong Hiến pháp. Nhân dân thực thi quyền lực của mình thông qua dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện. Người dân có quyền bầu cử, ứng cử, và bãi miễn những đại biểu không còn xứng đáng. Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ”. Đây là quan điểm nền tảng cho việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

5.2. Bản chất giai cấp công nhân thống nhất với tính nhân dân

Nhà nước Việt Nam mới mang bản chất giai cấp công nhân. Điều này không mâu thuẫn mà thống nhất biện chứng với tính nhân dân và tính dân tộc. Bản chất giai cấp công nhân được thể hiện ở sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản – đội tiên phong của giai cấp công nhân, dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lênin. Sự lãnh đạo này đảm bảo nhà nước đi đúng định hướng xã hội chủ nghĩa, phục vụ lợi ích của giai cấp công nhân và toàn thể nhân dân lao động, của cả dân tộc. Nguyên tắc tổ chức “tập trung dân chủ” vừa đảm bảo quyền lực tập trung, thống nhất, vừa phát huy cao độ quyền làm chủ của nhân dân.

VI. Kết luận Cách tải file PDF Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh

Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh tái bản lần thứ 11 là một công trình khoa học toàn diện, hệ thống, có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc. Việc nghiên cứu kỹ lưỡng tài liệu tư tưởng Hồ Chí Minh này không chỉ giúp người học vượt qua các kỳ thi mà còn là quá trình bồi đắp lý tưởng cách mạng, nâng cao nhận thức chính trị và hình thành nhân cách. Các tư tưởng cốt lõi về đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế, và xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân vẫn còn nguyên giá trị, là kim chỉ nam cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Để hỗ trợ tốt nhất cho việc học tập và nghiên cứu, việc tiếp cận các tài liệu số là vô cùng cần thiết. Nhiều nguồn tài liệu uy tín đã cung cấp file PDF giáo trình TTHCM và các slide bài giảng tư tưởng Hồ Chí Minh đi kèm, giúp sinh viên có thể học tập mọi lúc, mọi nơi. Việc nắm vững di sản Hồ Chí Minh thông qua giáo trình chính là cách tốt nhất để kế thừa, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng của Người trong bối cảnh mới, góp phần vào sự nghiệp xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

6.1. Tóm lược giá trị cốt lõi và ý nghĩa thời đại của giáo trình

Giá trị cốt lõi của giáo trình nằm ở việc hệ thống hóa một cách khoa học di sản Hồ Chí Minh, cung cấp một nền tảng lý luận vững chắc cho việc nhận thức và hành động. Ý nghĩa thời đại của nó thể hiện ở chỗ, những tư tưởng của Người về độc lập dân tộc, chủ nghĩa xã hội, sức mạnh nhân dân, và đoàn kết vẫn là ngọn đuốc soi đường cho sự nghiệp đổi mới. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, việc vận dụng sáng tạo các quan điểm này là yếu tố quyết định để Việt Nam vượt qua thách thức, nắm bắt thời cơ và phát triển bền vững.

6.2. Hướng dẫn tìm kiếm và sử dụng tài liệu ôn tập hiệu quả

Để ôn thi cuối kỳ tư tưởng hcm hiệu quả, sinh viên nên kết hợp việc đọc giáo trình bộ giáo dục và đào tạo với các nguồn tài liệu bổ trợ. Có thể tìm kiếm file PDF giáo trình TTHCM trên các trang web của thư viện trường đại học hoặc các diễn đàn học thuật uy tín. Khi sử dụng, cần đối chiếu với bản in do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật phát hành để đảm bảo tính chính xác. Ngoài ra, việc tham khảo các slide bài giảng tư tưởng Hồ Chí Minh từ giảng viên và xây dựng đề cương ôn tập TTHCM cá nhân theo từng chương sẽ giúp củng cố kiến thức một cách hệ thống và hiệu quả nhất.

19/08/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG V TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC VÀ ĐOÀN KẾT QUỐC TẾ I- TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC 1. Vai trò của đại đoàn kết dân tộc trong sự nghiệp cách mạng a) Đại đoàn kết dân tộc là vấn để có ý nghĩa chiến lược, quyết định thành công của cách mạng Hồ Chí Minh chỉ ra rằng, trong thời đại mới, để đánh bại các thế lực đế quốc thực dân nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người, nếu chỉ có tỉnh thần yêu nước thì chưa đủ; cách mạng muốn thành công và thành công đến nơi, phải tập hợp được tất cả mọi lực lượng có thể tập hợp, xây dựng được khối đại đoàn kết dân tộc bền vững. Chính vì vậy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, đại đoàn kết dân tộc là vấn để có ý nghĩa chiến lược, cơ bản, nhất quán và lâu đài, xuyên suốt tiến trình cách mạng. 163 Để quy tụ được mọi lực lượng vào khối đại đoàn kết toàn đân, cần phải có chính sách và phương pháp phù hợp với từng đối tượng.

Trong từng thời kỳ, từng giai đoạn cách mạng, trước những yêu cầu và nhiệm vụ khác nhau, chính sách và phương pháp tập hợp có thể và cần thiết phải điều chỉnh cho phù hợp với từng đối tượng khác nhau, song đại đoàn kết dân tộc phải luôn luôn được nhận thức là vấn để sống còn, quyết định thành bại của cách mạng. Chính sách mặt trận của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt ra là để thực hiện đoàn kết dân tộc. Nhờ tư tưởng nhất quán và chính sách mặt trận đúng đắn, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xây dựng thành công khối đại đoàn kết dan tộc, đưa cách mạng Việt Nam giành được nhiều thắng lợi to lớn. Hồ Chí Minh viết: "Đoàn kết trong Mặt tran Viét Minh, nhân dân ta đã làm Cách mạng Tháng Tám thành công, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Doan két trong Mat tran Lién Viét nhan dan ta đã kháng chiến thắng lợi, lập lại hòa bình ở Đông Dương, hoàn toàn giải phóng miễn Bắc. Đoàn kết trong Mặt trận 76’ quée Viét Nam, nhan dan ta đã giành được thắng lợi trong công cuộc khôi phục kinh tế, cải tạo xã hội chủ nghĩa và trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc", Từ thực tiễn như vậy, Hồ Chí Minh đã khái quát thành nhiều luận điểm có tính chân lý về vai trò của khối đại đoàn kết: 1. Hồ Chí Minh: 7oâản #âp, Sđd, t. 164 Đoàn kết làm ra sức mạnh.

Hô Chí Minh rất nhiều lần nhấn mạnh luận điểm này. Người viết: "Đoàn kết là sức mạnh của chúng ta. Đoàn kết chặt chẽ, thì chúng ta nhất định có thể khắc phục mọi khó khăn, phát triển mọi thuận lợi và làm trọn nhiệm vụ nhân dân giao phó"!; "Đoàn kết là một lực lượng vô địch của chúng ta để khắc phục khó khăn, giành lấy thắng lợi'?; "Đoàn kết là sức mạnh, đoàn kết là thắng lợi"; "Đoàn kết là sức mạnh, là then chốt của thành công". "Bây giờ còn một điểm rất quan trọng, cũng là điểm mẹ.

Điểm này mà thực hiện tốt thì để ra con cháu đều tốt: Đó là đoàn kết'Ẻ. " Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết, Thành công, thành công, đại thành côn,g! "9. b) Đại đoàn kết dân tộc là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của Đảng, của dân tộc Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, yêu nước - nhân nghĩa - đoàn kết là sức mạnh, là mạch nguồn của mọi thắng lợi. Do đó, đại đoàn kết dân tộc phải được xác định là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của Đảng, phải được quán triệt trong tất cả mọi lĩnh vực, từ đường lối, chủ trương, chính sách tới hoạt động thực tiễn của Đảng.

Trong Loi két thiic buổi ra mắt của Đảng Lao động Việt Nam ngày 03-3-1951, 1,2. Hồ Chí Minh: Toản tập, Sđd, t9, tr. Hồ Chí Minh: Toản tập, Sđd, t. Hồ Chí Minh: Toan tap, Sdd, t.

Hé Chi Minh: Todn tap, Sdd, t. 165 Hồ Chí Minh đã thay mặt Đảng tuyên bố trước toàn thể dân tộc: "Mục đích của Đảng Lao động Việt Nam có thể gồm trong 8 chữ là: ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN, PHỤNG SỰ TỔ QUỐC". Để thực hiện mục tiêu này, Người thường xuyên nhắc nhở cán bộ, dang viên phải thấm nhuần quan điểm quần chúng, phải gần gũi quan chúng, lắng nghe quan chúng; vận động, tổ chức và giáo dục quản chúng, coi sức mạnh của cách mạng là ở nơi quần chúng; phải thấm nhuần lời đạy "đễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lân đân liệu cũng xong". Đại đoàn kết dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu của Đảng, đồng thời cũng là nhiệm vụ hàng đầu của mọi giai đoạn cách mạng.

Nhấn mạnh vấn đề này là nhấn mạnh tới vai trò của thực lực cách mạng. Bởi vì, cách mạng muốn thành công nếu chỉ có đường lối đúng thì chưa đủ, mà trên cơ sở của đường lối đúng, Đảng phải cụ thể hóa thành những mục tiêu, nhiệm vụ và phương pháp cách mạng phù hợp với từng giai đoạn lịch sử để lôi kéo, tập hợp quần chúng, tạo thực lực cho cách mạng. Thực lực đó chính là khối đại đoàn kết dân tộc. Năm 1963, khi nói chuyện với cán bộ tuyên truyền và huấn luyện miễn núi về cách mạng xã hội chủ nghĩa, Hồ Chí Minh chỉ rõ: "Trước Cách mạng Tháng Tám và trong kháng chiến, thì nhiệm vụ tuyên huấn là làm cho đồng bào các dân tộc hiểu được mấy việc: A⁄6 /4 đoàn kết.

#727 /2 làm cách mạng hay kháng chiến để đòi độc lập. Chỉ đơn giản thế thôi. Hồ Chí Minh: 7oản tap, Sdd, t. 166 mục đích của tuyên truyền huấn luyện là: Ä⁄2£ ¿2 đoàn kết.

Zla¡ !à xây dựng chủ nghĩa xã hội. Ba !2 đấu tranh thống nhất nước nhà"!. Hồ Chí Minh còn chỉ ra rằng, đại đoàn kết dân tộc không phải chỉ là mục tiêu của Đảng, mà còn là nhiệm vụ hàng đầu của cả dân tộc. Bởi vì, cách mạng là sự nghiệp của quân chúng, phải do quần chúng, vì quản chúng.

Từ trong phong trào đấu tranh để tự giải phóng và xây dựng xã hội mới tốt đẹp, quần chúng nảy sinh nhu cầu đoàn kết và sự hợp tác. Đảng Cộng sản phải có sứ mệnh thức tỉnh, tập hợp, hướng dẫn quần chúng, chuyển những nhu cầu, những đòi hỏi khách quan, tự phát của quần chúng thành những đồi hỏi tự giác, thành hiện thực có tổ chức trong khối đại đoàn kết, tạo thành sức mạnh tổng hợp trong cuộc đấu tranh vì độc lập cho dân tộc, tự do cho Nhân dân và hạnh phúc cho con người. Lực lượng đại đoàn kết dân tộc a) Đại đoàn kết dân tộc là đại đoàn kết toàn dân Đứng trên lập trường giai cấp công nhân và quan điểm quần chúng, Hồ Chí Mình đã để cập vấn để DÂN và NHÂN DÂN một cách rõ rằng, toàn diện, có sức thuyết phục, thu phục lòng người. Các khái niệm này có biên độ rất rộng lớn.

Hồ Chí Minh thường dùng khái niệm này dé chi “mos con dân nước Việt ', "môi một người con Rồng cháu Tiên, không, phân biệt dan téc đa số hay thiểu số, có tín ngưỡng hay 1. Hồ Chí Minh: Toản tập, Sđơ, t. 167 không tín ngưỡng, không phân biệt “z4, trẻ gái, trai, giàu nghèo, quý tiện" Như vậy, dân và Nhân dân trong tư tưởng Hồ Chí Minh vừa được hiểu với tư cách là mỗi con người Việt Nam cụ thể, vừa là một tập hợp đông đảo quần chúng nhân dân, với những mối liên hệ cả quá khứ và hiện tại, họ là chủ thể của khối đại đoàn kết dân tộc và đại đoàn kết dân tộc thực chất là đại đoàn kết toàn dân. Nói đại đoàn kết dân tộc cũng có nghĩa là phải tập hợp được tất cả mọi người dân vào một khối trong cuộc đấu tranh chung.

Theo ý nghĩa đó, nội hàm khái niệm đại đoàn kết trong tư tưởng Hồ Chí Minh rất phong phú, nó bao gồm nhiều tầng nấc, nhiều cấp độ các quan hệ liên kết qua lại giữa các thành viên, các bộ phận, các lực lượng xã hội của dân tộc từ nhỏ đến lớn, từ thấp đến cao, từ trong ra ngoài, từ trên xuống dưới. Hồ Chí Minh đã nhiều lần nói: "Đoàn kết của ta không những rộng rãi mà còn đoàn kết lâu dài. Ta đoàn kết để đấu tranh cho thống nhất và độc lập của Tổ quốc; ta còn phải đoàn kết để xây dựng nước nhà. Ai có tài, có đức, có sức, có lòng phụng sự Tổ quốc và phục vụ nhân dan thì ta đoàn kết với họ"!.

Từ “7z"ở đây là chủ thể, vừa là Đảng Cộng sản Việt Nam nói riêng, vừa là mọi người dân Việt Nam nói chung. Người còn chỉ rõ, trong quá trình xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân phải đứng vững trên lập trường giai cấp công nhân, giải quyết hài hòa mối quan hệ giai cấp - dân tộc để tập hợp lực lượng, không được phép bỏ sót một lực lượng, 1. H6 Chi Minh: Todn tap, Sdd, t. 168 nào, miễn là lực lượng đó có lòng trung thành và sẵn sàng, phục vụ Tổ quốc, không là Việt gian, không phản bội lại quyên lợi của dân chúng là được.

Với tỉnh thần đoàn kết rộng rãi như vậy, Hồ Chí Minh đã định hướng cho việc xây. dựng khối đại đoàn kết toàn dân trong suốt tiến trình cách mạng Việt Nam, từ cách mạng giải phóng dân tộc tới cách mạng dân chủ nhân dân và từ cách mạng dân chủ nhân dân tới cách mạng xã hội chủ nghĩa. b) Điểu kiện thực hiện đại đoàn kết dân tộc - Để xây đựng khối đại đoàn kết toàn dân phải kế thita truyền thống yêu nước - nhân nghĩa - đoàn kết của dân tộc. Truyền thống này được hình thành, củng cố và phát triển trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước hàng ngàn năm của cả dân tộc, trở thành giá trị bền vững, thấm sâu vào tư tưởng, tình cảm, tâm hồn của mỗi con người Việt Nam, được lưu truyền qua các thế hệ từ thời các Vua Hùng dựng nước tới Bà Trưng, Bà Triệu, Trần Hưng Dao, Lê Lợi, Quang Trung.

Truyền thống đó là cội nguồn sức mạnh vô địch để cả dân tộc chiến đấu và chiến thắng mọi thiên tai, địch họa, làm cho đất nước được trường tồn, bản sắc dân tộc được giữ vững. - Phải có lòng khoan dung, độ lượng với con người. Hồ Chí Minh chỉ rõ, trong mỗi cá nhân cũng như mỗi cộng đông đều có những ưu điểm, khuyết điểm, mặt tốt, mặt xấu.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ