CHƯƠNG 1: TRUYỀN THÔNG THAY ĐỔI HÀNH VI Giới thiệu: Truyền thông thay đổi hành vi đóng vai trò rất quan trọng trong hoạt động công tác xã hội tại cộng đồng. Vì vậy, người làm công tác xã hội ở cộng đồng cần có kiến thức và kỹ năng về truyền thông thay đổi hành vi. Bài truyền thông thay đổi hành vi tập trung vào các trọng tâm sau: - Tổng quan về truyền thông thay đổi hành vi, gồm khái niệm, mục đích, đối tượng, phân loại hành vi, các bước thay đổi hành vi, và các yếu tố ảnh hưởng đến thay đổi hành vi cá nhân. - Các phương pháp truyền thông trong công tác xã hội tại cộng đồng.
- Kỹ năng truyền thông trực tiếp. - Đánh giá kết quả buổi truyền thông trực tiếp. Mục tiêu: - Kiến thức: Sinh viên trình bày được kiến thức cơ bản về khái niệm truyền thông, đối tượng và mục đích của truyền thồn thay đổi hành vi trong công tác xã hội. Phân tích được các bước thay đổi hành vi và các phương pháp truyền thông thực tế trong nghề công tác xã hội.
- Kỹ năng: Sinh viên thực hiện được các kỹ năng truyền thông trực tiếp. - Năng lực tự chủ và trách nhiệm: Có thái độ nghiêm túc trong học tập, mong muốn thực hiện truyền thông để thay đổi hành vi tại cộng đồng. Nội dung chính: 1. Truyền thông Truyền thông là một quá trình trao đổi giao tiếp, chia sẻ thông tin giữa người truyền với người nhận, nhằm đạt được sự hiểu biết từ đó dẫn đến chuyển đổi thái độ và hướng tới mục tiêu cuối cùng là chuyển đổi hành vi.
[1] 10 Truyền thông là quá trình liên tục trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm… chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau, thay đổi nhận thức, tiến tới điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của cá nhân nhóm/cộng đồng/xã hội. Truyền thông có thể được phân loại theo nhiều cách khác nhau thành: truyền thông bằng ngôn ngữ nói, truyền thông bằng ngôn ngữ viết, truyền thông bằng hình ảnh trực quan, truyền thông bằng nghệ thuật; truyền thông trực tiếp, truyền thông gián tiếp… Song một quá trình truyền thông đều có sự tham gia của các yếu tố cơ bản sau: nguồn phát, thông điệp, kênh truyền thông, người nhận, phản hồi/hiệu quả và các yếu tố gây nhiễu. Một hoạt động truyền thông, không phụ thuộc vào quy mô hoặc loại hình, chỉ có thể đạt được hiệu quả tối đa khi được thực hiện theo kế hoạch đã được xây dựng trước đó. Một kế hoạch truyền thông cơ bản gồm 6 bước như sau: xác định và phân tích đối tượng; phân tích thực trạng; xây dựng mục tiêu và các hoạt động hướng tới mục tiêu; thiết kế thông điệp và xác định các kênh truyền thông; phân bổ thời gian và lịch trình hoạt động; quyết định phương án huy động các nguồn lực.
Truyền thông thay đổi hành vi Là hoạt động truyền thông tác động có mục đích, có kế hoạch nhằm đạt được sự chuyển đổi kiến thức, kỹ năng, thái độ, giúp đối tượng chấp nhận, duy trì hành vi bền vững. Các yếu tố của quá trình truyền thông Truyền thông là một quá trình diễn ra theo trình tự thời gian, trong đó bắt buộc phải có các thành tố sau: Người truyền: Là yếu tố mang thông tin tiềm năng và khởi xướng quá trình truyền thông, là người hay nhóm người mang nội dung thông tin muốn được trao đổi với người hay nhóm người khác. Thông điệp: Là nội dung và hình thức thông tin được trao đổi từ người truyền đến đối tượng tiếp nhận. Thông điệp chính là những tâm tư, tình cảm, hiểu 11 biết, kinh nghiệm… được biểu đạt bằng những công cụ giao tiếp như tiếng nói, cử chỉ, chữ viết, hình ảnh… Kênh truyền thông: Là con đường hay cách thức chuyển tải thông điệp từ người truyền đến người nhận.
Căn cứ vào tính chất, đặc điểm cụ thể, người ta chia kênh truyền thông thành các loại hình khác nhau như truyền thông trực tiếp và truyền thông gián tiếp (truyền thông đại chúng). Người nhận: Là các cá nhân hay nhóm người tiếp nhận thông điệp trong quá trình truyền thông. Hiệu quả của truyền thông được xem xét trên cơ sở những biến đổi và nhận thức, thái độ và hành vi của đối tượng tiếp nhận. Phản hồi: Là phản ứng của người nhận đối với thông điệp của người truyền về những suy nghĩ, thái độ, hành vi khi nhận thông điệp.
Nhiễu: Là các yếu tố gây ra sự sai lệch thông tin không được dự tính trước trong quá trình truyền thông. Trong quá trình truyền thông, người truyền và người nhận có thể đổi chỗ cho nhau, xen vào nhau. Về thời gian, người truyền thực hiện hành vi truyền thông trước. TỔNG QUAN VỀ TRUYỀN THÔNG THAY ĐỔI HÀNH VI 2.
Mục đích truyền thông Công tác xã hội tập trung vào giải quyết các vấn đề nổi cộm trong cộng đồng. Vì vậy truyền thông thay đổi hành vi tập trung vào 2 mục đích chính sau: - Nâng cao nhận thức, tạo thái độ tích cực và thay đổi hành vi cho đối tượng truyền thông về các vấn đề mà cộng đồng và xã hội đang quan tâm. - Tạo môi trường hỗ trợ cho thay đổi và duy trì hành vi bền vững, giúp duy trì hiệu quả lâu dài của công tác xã Đối tượng đích hội. Đối tượng truyền thông Giống như các lĩnh vực khác, Đối tượng truyền thông trong hoạt động công tác Đối tượng huy truyền thông Đối tượng vận động tham gia động chính sách (Môi trường (môi trường soosg lành mạnh) chính sách) Hình 1.
Sơ đồ Các nhóm đối tượng truyền thông 12 xã hội ở cộng đồng tập trung vào 3 nhóm đối tượng chính, gồm: - Nhóm đối tượng đích, gồm những người yếu thế, thiệt thòi và dễ bị tổn thương trong cộng đồng trong cộng đồng. Ví dụ, trong lĩnh vực giáo dục, trẻ khuyết tật, trẻ mồ côi, trẻ trong gia đình nghèo,… là đối tượng đích. - Nhóm đối tượng vận động ủng hộ về chủ trương, chính sách tạo môi trường thuận lợi cho thực hiện các hoạt động truyền thông về công tác xã hội ở cộng đồng. Nhóm này gồm lãnh đạo Đảng và chính quyền ở xã và thôn bản, bao gồm cả trưởng thôn, công an thôn, và các chức sắc tôn giáo.
- Nhóm đối tượng huy động cộng đồng tham gia tạo môi trường hỗ trợ thuận lợi cho duy trì hành vi như các dịch vụ hỗ trợ cho nhu cầu thay đổi hành vi bền vững, cộng đồng cùng tham gia tạo môi trường sống đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau, thân thiện, và an toàn. Đối tượng truyền thông trong nhóm này gồm lãnh đạo các tổ chức quần chúng, xã hội, ban ngành đoàn thể, các doanh nghiệp, nhà máy, xí nghiệp trên địa bàn. Hành vi và phân loại hành vi trong truyền thông 2. Khái niệm về hành vi - Hành vi được hiểu ngắn gọn là những thói quen và việc làm hàng ngày của con người trong cuộc sống.
- Chúng ta có thể quan sát được việc làm và thói quen sinh hoạt của con người. Vì vậy, hành vi cũng có thể quan sát được. Đây là điểm quan trọng để đánh giá hiệu quả truyền thông. Phân loại hành vi - Nói chung, có 2 loại hành vi liên quan đến các nhóm đối tượng của công tác xã hội tại cộng đồng mà truyền thông cần quan tâm, gồm hành vi có lợi và hành vi có hại.
* Hành vi có lợi: - Hành vi có lợi là những hành vi hướng tới giải quyết được những vấn đề 13 nổi cộm mà cộng đồng đang mong muốn. - Người làm truyền thông cần khuyến khích và động viên cộng đồng tiếp tục duy trì và nhân rộng hành vi có lợi. - Một số ví dụ về hành vi có lợi trong Hình 1. Đổ rác bừa bãi cạnh đường phòng tránh lây nhiễm HIV/AIDS tại cộng làng là hành vi có hại đồng: + Hành vi có lợi của nhóm đối tượng đích: Nhóm đối tượng đích đối với vấn đề này là nhóm nguy cơ cao như: tiêm chích ma túy, mại dâm và tình dục đồng tính nam.
Hành vi có lợi của nhóm này gồm dùng riêng bơm kim tiêm, dùng bao cao su thường xuyên trong quan hệ tình dục,… + Hành vi có lợi từ nhóm tạo môi trường hỗ trợ gồm cho phép các nhà hàng, khách sạn được bán bao cao su, các phòng trong khách sạn được để sẵn bao cao su, đưa công tác phòng chống HIV/AIDS thành nhiệm vụ trọng tâm của cả chính quyền và các ban ngành đoàn thể, tạo cơ hội hòa nhập cộng đồng cho những người sau cai nghiện,… [2] * Hành vi có hại: - Hành vi có hại là những hành vi tạo ra hoặc làm tăng mức độ trầm trọng của các vấn đề nổi cộm mà cộng đồng đang mong muốn giải quyết. Người làm truyền thông cần thay đổi những hành vi có hại của các đối tượng thành hành vi có lợi. - Một số ví dụ về hành vi có hại liên quan đến phòng chống ô nhiễm môi trường thôn bản: + Hành vi có hại từ nhóm đối tượng đích: Đối tượng đích trong vấn đề ô nhiễm môi trường ở thôn bản là người dân. + Hành vi có hại của họ gồm vứt rác ra đường, thải phân gia súc không được xử lý ra môi trường, không nhắc nhở con cái trong gia đình vệ sinh nhà cửa và lối 14 xóm thường xuyên,… + Hành vi từ nhóm tạo môi trường hỗ trợ: Lãnh đạo cộng đồng không quan tâm đến phòng chống ô nhiễm môi trường trong thôn bản, chưa đưa vấn đề này vào trong nhiệm vụ thực hiện hàng năm của các ban ngành đoàn thể và tổ chức xã hội, chưa đưa tiêu chí này vào trong tiêu chí gia đình văn hóa, không bố trí nơi thu gom rác,… 2.
Yếu tố chính ảnh hưởng đến thay đổi hành vi Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến thay đổi hành vi của một cá nhân cần xem xét đến các yếu tố sau: - Cá nhân đối tượng: Xã hội + Nhận thức của đối tượng. Cá Gia Cộng đồng nhân đình + Kỹ năng sống và lối sống. Xã hội - Gia đình/người thân của đối tượng: Hình 1. Sơ đồ các yếu tố ảnh hưởng đến thay đổi hành vi + Nhận thức của người thân trong gia đình, đặc biệt người có quyền quyết định (chủ gia đình).
+ Lối sống gia đình. + Khả năng kinh tế gia đình. - Cộng đồng: + Nhận thức người dân trong làng, xóm nơi đối tượng sống. + Tôn giáo, tín ngưỡng, người có uy tín.
+ Giáo dục như bạn bè, thầy cô. + Dịch vụ hỗ trợ sẵn có và thuận tiện. + Sự sẵn có của các tổ chức trong cộng đồng xã hội (bộ máy chính quyền thôn, xã, huyện, tỉnh).