ĐINH NGỌC THẠCH TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI (LƯU HÀNH NỘI BỘ) CHƯƠNG THỨ NHẤT BẢN THỂ LUẬN VÀ VŨ TRỤ QUAN SƠ KHAI 1. VÀI NÉT VỀ SỰ HÌNH THÀNH VÀ CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN CỦA TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI 1. Hoàn cảnh kinh tế, chính trị - xã hội của Hy Lạp cổ đại và sự xuất hiện những tư tưởng triết học đầu tiên Những tư tưởng triết học đầu tiên tại Hy Lạp cổ đại xuất hiện vào thời kỳ diễn ra những diễn biến sâu sắc trong quan hệ xã hội, trước hết là sự tan rã chế độ thị tộc và sự thiết lập chế độ chiến hữu nô lệ, chế độ xã hội có giai cấp đầu tiên trong lịch sử loài người. Đó là một quá trình lâu dài, phức tạp, với những cuộc chiến tranh và xung đột triền miên.
Lãnh thổ Hy Lạp xưa rộng lớn hơn so với hiện nay gấp nhiều lần, bao gồm phần đất liền cùng vô số hòn đảo trên biển Egie, vùng duyên hải Balcan và tiểu Á. Từ cuộc di thực ồ ạt vào các thế kỷ VIII - VI TCN, người Hy Lạp chiếm thêm miền nam Ý, đảo Sicile, vùng ven biển Đen, lập nên Đại Hy Lạp. Những cuộc viễn chinh toàn thắng của Alexandre xứ Macedoine vào cuối thế kỷ IV TCN đã đưa đến sự ra đời các cuốc gia Hy Lạp hóa trải rộng từ Sicile ở phía tây Ân Độ ở phía đông, từ biển Đen ở phía bắc đến khu vực tiếp giáp sông Nil ở phía nam. Tuy nhiên trung tâm của Hy Lạp cổ đại, trải qua bao thăng trầm, vẫn là vung biển Egie, nơi nhà nước và nền văn hóa Hy Lạp đạt tới sự phồn thịnh cao nhất của mình.
Vào thời đại Homère (thế kỷ XI- IX TCN), ở Hy Lạp, đã chớm bắt đầu quá trình tan rã của công xã thị tộc, được thú đẩy bởi sự phân công lao động, diễn ra trong nông nghiệp giữa trồng trọt và chăn nuôi. Đồng tiền kim khí chưa xuất hiện, thương nghiệp và nghề thủ công chiếm tỷ trọng không đáng kể trong đời sống. Đọc Homère, người ta dễ dàng nhận thấy rằng, những nhân vật trong trường ca sử thi Iliade và Odyssei không phải là nhưng lực sĩ trên đồng ruộng, giỏi khẩn hoang, làm cỏ, cày xới, mà thiên về phô trương sự thiện chiến của 1 mình. “Chiến tranh” và “xung đột” là những từ ngữ thường thấy trong các sang tác thần thoại, nghệ thuật thời kỳ này.
Đằng sau những câu chuyện về chiến tranh giữa các vị thần đã ẩn chứa các sự kiện lịch sử đầy bi kịch. Chiến tranh tạo ra và tôn vinh thủ lĩnh, thủ lĩnh khẳng định quyền lực của mình bằng cách dấn thân vào những cuộc phiêu lưu bằng máu. “Polis”, khái niệm chung để lối tổ chức nhà nước độc đáo của người Hy Lạp xuất hiện từ rất sớm, nhưng vào thời Homere, nó chưa được hiểu như thị quốc, mà chỉ như một cụm dân cư, sống có tổ chức, được thành lũy kiên cố xung quanh bao bọc(1). Chữ viết chưa ra đời, truyền thống công xã còn khá mạnh với uy lực gần như tuyệt đối của các tộc trưởng.
Tuy nhiên, trong nội bộ công xã đã bắt đầu diễn ra những xung đột từ việc hôn nhân đến việc phân chia tài sản giữa các thế hệ. Cuối cùng là sự việc phân định quyền lực. Biểu hiện đầu tiên của phân hóa xã hội là xuất hiện hai loại người có địa vị và quyền lợi đối lập nhau - những người được chia nhiều đất (policler) và những người không có đất canh tác (acler). Bước sang thế kỷ VIII TCN, kinh tế ở các thị quốc Hy Lạp tiếp tục phát triển với nhịp độ nhanh.
Thủ công tách khỏi nghề nông nghiệp và tiến những bước đáng kể. Nghành đóng tàu được khuyến khích nhằm phục vụ cho thương nghiệp và chiến tranh. Sự hưng thịnh của kinh tế kích thích quá trình vượt biển tìm đất mới, xâm chiếm lãnh thổ các xứ láng giềng, bắt người làm nô lệ. Bên cạnh đó, công cuộc di thực cũng thúc đẩy khả năng giao lưu văn hóa, khoa học giữa Hy Lạp và các dân tộc khác.
Tóm lại, sự tích lũy tư hữu, phát triển quan hệ hàng hóa, tiền tệ, sự tan rã của nền kinh tế tự nhiên, sự phân hóa giàu nghèo, sự đối kháng giữa các lực lượng xã hội, sự thôn tính đất đai, sử dụng lao động nô lệ… khiến cho chế độ công xã thị tộc là chế độ lấy quan hệ huyết thống làm cơ sở, phải đi đến chỗ suy vong, và bị thay thế bởi một thiết chế xã hội mới, phù hợp với những quan hệ xã hội mới. Nói cách khác, nhà nước đã ra đời như một tất yếu trên con đường phát triển lịch sử của nhân loại. Nhà nước chiếm hữu nô lệ phục vụ cho thiểu số dân 1. Xem thêm Nguyễn Mạnh Tường: Aiskhylos (Eschyle) và bi kịch cổ đại Hy Lạp, NXB giáo dục, 1996, tr 25-28.
2 chúng đang ngày một giàu thêm, nhất là từ sau khi đồng tiền kim khí được phát hành vào thế kỷ VII TCN. Bắt đầu từ đây những sung đột xã hội mang dấu ấn của những trận chiến giai cấp, lúc âm ỉ, lúc quyết liệt diễn ra liên tục. Cùng với sự hình thành các thị quốc - tổ chức nhà nước đặc thù, nền văn hóa mới cũng được xây dựng, trở thành bộ phận hữu cơ của toàn bộ đời sống xã hội Hy Lạp cổ đại. Những biểu hiện chủ yếu của hệ thống các giá trị tinh thần mới là sự duy lý hóa tư duy, ý thức về nhân cách, ca ngợi tính tích cực, lòng quả cảm và năng lực con người trong cuộc đấu tranh với tự nhiên, tinh thần ái quốc, quan niệm về tự do như phạm trù đạo đức - chính trị cao quý nhất… sự hình thành những cơ sở của văn hóa Hy Lạp không diễn ra một cách ngẫu nhiên, mà là sự kế thừa những giá trị truyền thống, thể hiện trong các sáng tác dân gian, trong thần thoại, trong các hình thức sinh hoạt tôn giáo, trong những mầm mống của tri thức khoa học.
Tư tưởng triết học phát sinh và phát triển như một thành tố không tách rời của văn hóa mới ấy. Với tính cách là tinh hoa tinh thần của thời đại, nó cố gắng đem đến lời giải đáp nghiêm túc, sâu sắc, hợp lý, có hệ thống về những gì diễn ra xung quanh, về vị trí của con người trong thế giới và thế giới của chính con người, do con người tạo ra cùng những giá trị, những chuẩn mực, những định hướng cho mình. Các chiết gia đầu tiên (Pythagore chẳng hạn) gọi mình là “Những người yêu mến sự thông thái” (philosophos). Sự thông thái giờ đây đã được “Thế tục hóa”, trở thành sở hữu của con người, chứ không còn là đặc quyền của thần linh như trong các câu chuyện thần thoại xưa vẫn đề cập.
Từ đó, mới có định nghĩa triết học là “ yêu mến sự thông thái” (philosophos), suy rộng ra, là sự khát vọng hiểu biết, khám phá, khát vọng hướng tới chân lý. Sau này, theo tinh thần đó, G. Hegel xem lịch sử triết học là con đường hướng tới chân lý. “Các triết ra đầu tiên”, - T.
Oizerman viết, - sở dĩ là những triết gia, vì họ đoạn tuyệt với thế giới quan thần thoại truyền thống”(1). Nhận định vừa nêu cho thấy sự ra đời của triết học đánh dấu bước chuyển từ thần thoại sang sự lý giải độc lập, sâu sắc hơn của con người về những gì cần quan tâm, và điều đáng nhấn mạnh là những sét đoán ấy không còn 1. Oizerman: những vấn đề khoa học lịch sử triết học, Moskva, 1982, tr. 20 (tiếng Nga) 3 bị giàng buộc vào những tác động từ bên ngoài.
Chúng đã là tiếng nói của con người thực sự và vì con người. Từ thần thoại đến triết học. Sự ngạc nhiên trước thế giới rộng lớn và đầy bí hiểm đã thúc đẩy con người tìm hiểu thế giới ấy. Ở buổi đầu lịch sử, hạn chế của nằng lực nhận thức được bù đắp bằng trí tưởng tượng về các hiện tượng tự nhiên, thần thánh hóa chúng.
Thần thoại là sự đối thoại đầu tiên, đầy tính hoang tưởng của con người với tự nhiên. Thần thoại (tiếng Hy lạp mythologia, trong đó, mythos là câu chuyện, truyền thuyết; logos – lời nói, học thuyết) ngự trị trong ý thức đại chúng cùng với thuyết nhân hình xã hội nguyên thủy, vật linh thuyết, vật hoạt luận… người nguyên thủy bị vây bọc trong quyền lực của xúc cảm và trí tưởng tượng; những quan điểm của họ về sự vật hãy còn mơ hồ, rời rạc, phi lôgic. Các yếu tố tư tưởng và tình cảm, tri thức và nghệ thuật, tinh thần và vật chất, khách quan và chủ quan, hiện thực và suy tưởng, tự nhiên và siêu nhiên ở thần thoại còn chưa bị phân lôi. Tuy nhiên thần thoại cũng trải qua những bước phát triển nhất định ghi dấu các mức độ trưởng thành của ý thức.
Đỉnh cao phát triển của thần thoại cũng đồng thời báo hiệu sự cáo chung tất yếu của nó, sự thay thế nó bằng hình thức thế giới quan mới, đáp ứng nhu cầu nhận thức thế giới ngày càng sâu sắc hơn của con người. Quá trình này bắt đầu từ thời đại Homère. Anh hùng ca Iliade và Odyssée của Homère về cơ bản là tác phẩm thần thoại – nghệ thuật nhưng lại gợi cho con người đọc những suy nghĩ mà truyền thống chưa từng biết đến thứ nhất, đó là tính cách của các vị thần. Ở đây, thần và người giường như không khác nhau về tính cách.
Đằng sau số phận của các vị thần và các thủ lĩnh siêu phàm, tài ba là những thông điệp của cuộc sống, những bài ca về lòng yêu nước, tình đồng đội, tình cảm vợ chồng, cha mẹ, anh em. Các vị thần cũng mắc phải những thói hư tật sấu như con người: ghen tuông, hiềm khích, đố kị, lừa dối… thứ hai, là sự chắp nối các câu chuyện về sinh hoạt của thần và người: có 4 thể thấy những phác thảo sơ lược của Homère về nguồn gốc thế giới, về các hành chất, về trời, đất, đại dương…(10). Nếu ở Homère, các lực lượng lịch sử - tự nhiên còn ẩn mình trong vỏ bọc siêu nhân, thì đến Hésiode bức tranh sinh thành và biến hóa của thế giới đã mang dáng vẻ của một vũ trụ quan sơ khai trong thần hệ (Théogonie) Hésiode trình bày các thế hệ thần linh nối tiếp nhau, có đầy đủ các quan hệ, kết giao, sinh hoạt như ở người. Thế hệ đầu tiên là Chaos, tượng trưng cho vũ trụ lúc còn ở trạng thái hỗn mang.