CHƯƠNG 1: TỔ CHỨC BỘ MÁY CÁC CƠ QUAN NHÀ NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Mã chương: MH09.01 Mục tiêu: - Trình bày được phân loại các cơ quan và cơ cấu tổ chức của các cơ quan trong bộ máy Nhà nước CHXHCNVN - Thể hiện được thái độ khiêm tốn, cầu thị, nghiêm túc. Nội dung chính: 1. Một số vấn đề cơ bản về bộ máy nhà nước CHXHCNVN 1. Khái niệm bộ máy nhà nước.
Bộ máy nhà nước Nhà nước CHXHCN Việt Nam là tổ chức quyền lực chính trị của nhân dân Việt Nam, đại diện cho nhân dân thực hiện quản lý thống nhất mọi mặt của đời sống xã hội trên các lĩnh vực đối nội và đối ngoại (kinh tế, văn hóa – xã hội, quốc phòng, an ninh…). Để thực hiện được những nhiệm vụ đó, đòi hỏi phải lập ra hệ thống các cơ quan nhà nước. Mỗi cơ quan nhà nước là một bộ phận cấu thành bộ máy nhà nước, đảm nhận những chức năng, nhiệm vụ nhất dịnh, có cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động phù hợp với tính chất các chức năng, nhiệm vụ được trao. Cùng với những chức năng, nhiệm vụ, nhà nước còn trao cho các cơ quan những thẩm quyền tương ứng.
Các cơ quan nhà nước sử dụng thẩm quyền vào việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình theo quy định của pháp luật. Tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước tuỳ thuộc vào tính chất của các chức năng, nhiệm vụ được giao nhưng phải dựa trên những nguyên tắc chung, đảm bảo tính thống nhất của bộ máy nhà nước. Như vậy, bộ máy nhà nước là hệ thống thống nhất các cơ quan nhà nước được tổ chức và hoạt động trên cơ sở pháp luật, dựa trên những nguyên tắc chung nhằm thực hiện những chức năng, nhiệm vụ của nhà nước. Cơ quan nhà nước Các chức năng, nhiệm vụ của bộ máy nhà nước nói chung được thực hiện thông qua các cơ quan nhà nước cụ thể.
Nếu như nhà nước là một khái niệm tương đối “trừu tượng” thì cơ quan nhà nước là một khái niệm cụ thể. Cơ quan nhà nước là các bộ phận cấu thành nên bộ máy nhà nước. Đặc điểm cơ bản của các cơ quan nhà nước là hoạt động của nó mang tính quyền lực nhà nước và 6 được đảm bảo hiệu lực bằng sức mạnh cưỡng chế của nhà nước. Quyền lực của mỗi cơ quan nhà nước là “quyền được trao” (thẩm quyền) tuỳ thuộc vào vị trí, chức năng, nhiệm vụ của nó trong bộ máy nhà nước.
Như vậy, có thể hiểu cơ quan nhà nước là bộ phận cấu thành của bộ máy nhà nước, gồm một tập thể người (hoặc một người) được trao quyền lực, thông qua các công cụ, hình thức và phương pháp cần thiết để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ nhất định trên cơ sở pháp luật. Cơ quan nhà nước ở Việt Nam có các đặc điểm cơ bản sau: - Các cơ quan nhà nước được thành lập theo những trình tự, thủ tục chặt chẽ được pháp luật quy định; - Cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật; - Hoạt động của cơ quan nhà nước mang tính quyền lực và được bảo đảm bằng sức mạnh cưỡng chế của nhà nước, các hoạt động đó phải tuân theo những hình thức, thủ tục do pháp luật quy định; - Những người đảm nhiệm chức trách trong các cơ quan nhà nước phải là công dân Việt Nam. Những nguyên tắc cơ bản về tổ chức và hoạt động của Bộ máy Nhà nước Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước là những tư tưởng nền tảng, những quy tắc chủ đạo làm cơ sở cho việc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước.
Các nguyên tắc này được hình thành trên cơ sở các học thuyết khoa học, tõ sù đúc kết kinh nghiệm của việc tổ chức Nhà nước. Mỗi một chế độ Nhà nước có các nguyên tắc tổ chức và hoạt động khác nhau về bộ máy Nhà nước, tùy vào từng điều kiện lịch sử và do nhận thức mà những nguyên tắc này ngày càng được bổ sung và hoàn thiện. Nhà nước ta là Nhà nước xã hội chủ nghĩa, do vậy mà bộ máy Nhà nước ta được tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc chung và tổ chức bộ máy Nhà nước xã hội chủ nghĩa với sự vận dụng phù hợp theo từng giai đoạn lịch sử và theo từng phần hệ thống trong bộ máy đó. Phân loại các cơ quan trong bộ máy Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trong bộ máy nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Quốc hội được xác định là “cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, do đó Quốc hội thể hiện tính đại diện nhân dân và tính quyền lực nhà nước trong tổ chức và hoạt động của mình. Thông qua hoạt động của mình, Quốc hội thể chế hóa ý chí của nhân dân thành ý chí nhà nước, thể hiện trong Hiến pháp, luật, các nghị quyết, mang tính bắt buộc thực hiện đối với mọi tổ chức, cá nhân trong xã hội. Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, tập trung quyền lực nhà nước, thống nhất ba quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp, nhưng không phải là cơ quan độc quyền.
Hiến pháp và pháp luật quy định cho Quốc hội có các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn như sau (Theo Điều 83 Hiến pháp 1992 sửa đổi): - Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp. Đây là chức năng ban hành các văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp luật cao nhất, điều chỉnh các quan hệ xã hội cơ bản nhất, tạo nên nền tảng của thể chế xã hội. Các văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan khác của nhà nước ban hành phải dựa trên cơ sở Hiến pháp, luật để thực hiện Hiến pháp, luật và bảo đảm tính thống nhất của pháp luật. - Quốc hội quyết định những vấn đề cơ bản nhất về đối nội và đối ngoại của đất nước: các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước.
Những vấn đề này có ý nghĩa quyết định đến sự phát triển toàn diện của đất nước cũng như duy trì trật tự, ổn định xã hội. - Quốc hội xác định các nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, trực tiếp thành lập các cơ quan quan trọng trong bộ máy nhà nước; trực tiếp bầu, bổ nhiệm các chức vụ cao nhất trong các cơ quan nhà nước ở Trung ương. - Quốc hội là cơ quan thực hiện quyền giám sát tối cao toàn bộ hoạt động của bộ máy nhà nước, giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật. Hoạt động giám sát của Quốc hội được thực hiện thông qua việc nghe báo cáo công tác của các cơ quan tối cao của nhà nước, thông qua hoạt động của các cơ quan 8 Quốc hội, đại biểu Quốc hội, thông qua các hình thức chất vấn của đại biểu Quốc hội đối với những đối tượng xác định trong bộ máy nhà nước.
Cơ cấu tổ chức của Quốc hội gồm: Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban Quốc hội, các đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội. Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Chủ tịch nước là người đứng đầu nhà nước, thay mặt nhà nước trong các quan hệ đối nội và đối ngoại (Điều 101, 103 Hiến pháp 1992 sửa đổi). Chủ tịch nước có phạm vi quyền hạn khá rộng, bao quát nhiều lĩnh vực của đời sống chính trị, xã hội.
Trong tổ chức nhân sự của bộ máy nhà nước, Chủ tịch nước có quyền quan trọng về tổ chức nhân sự của bộ máy hành pháp và tư pháp: đề nghị Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Phó Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Căn cứ vào Nghị quyết của Quốc hội bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính Phủ; Bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Chánh án, Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, Phó viện trưởng, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao… Trong lĩnh vực an ninh quốc gia, Chủ tịch nước thống lĩnh các lực lượng vũ trang và giữ chức Chủ tịch Hội đồng quốc phòng và an ninh; quyết định phong hàm, cấp sĩ quan cấp cao và cấp hàm trong các lĩnh vực khác. Quyền hạn của Chủ tịch nước còn thể hiện trên lĩnh vực ngoại giao; quyết định vấn đề thôi, nhập quốc tịch; vấn đế đặc xá… Khi thực hiện quyền hạn, Chủ tịch nước ban hành Lệnh, Quyết định. Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Hệ thống các cơ quan thực thi quyền hành pháp có Chính phủ và Uỷ ban nhân dân các cấp.
Trong đó Chính phủ được xác định là “Cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam” (Điều 109, Hiến pháp 1992 Sửa đổi). Là cơ quan chấp hành của Quốc hội, Chính phủ chịu sự giám sát của Quốc hội; chấp hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội; pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội; lệnh, quyết định của Chủ tịch nước; trong hoạt động Chính phủ phải chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và Chủ tịch nước. Quy định trên bảo đảm tính tập 9 trung, thống nhất của quyền lực nhà nước vào cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất là Quốc hội. Với tư cách là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của cả nước, Chính phủ có chức năng thống nhất quản lý tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội; lãnh đạo thống nhất bộ máy hành chính nhà nước từ trung ương đến cơ sở về tổ chức cán bộ; bảo đảm thi hành Hiến pháp và pháp luật; quản lý việc xây dựng kinh tế quốc dân, thực hiện chính sách tài chính tiền tệ quốc gia; quản lý y tế, giáo dục; quản lý ngân sách nhà nước; thi hành các biện pháp cần thiết bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân; quản lý công tác đối ngoại; thực hiện chính sách xã hội.
Những quy định trên bảo đảm cho Chính phủ phát huy được vai trò là cơ quan đứng đầu hệ thống hành chính nhà nước.