Giáo trình nghề Tiện: Kỹ thuật tiện trụ ngoài, mặt đầu và các dạng chi tiết máy - Trường CĐ Lào Cai

Trường đại học

Trường Cao đẳng Lào Cai

Chuyên ngành

Kỹ thuật cơ khí

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Giáo trình nghề

2019

173
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về giáo trình tiện nghề công nghệ hàn

Giáo trình tiện nghề công nghệ hàn là tài liệu đào tạo chính quy do Trường Cao đẳng Lào Cai biên soạn năm 2019. Giáo trình thuộc chương trình trình độ sơ cấp nghề, tập trung vào kỹ thuật cắt gọt kim loại trên máy tiện. Nội dung bao gồm các kiến thức nền tảng về nguyên lý gia công, cấu tạo chi tiết máy và phương pháp thực hành cụ thể. Tài liệu được thiết kế theo mô-đun, mỗi bài tập đề cập đến công việc và trình tự gia công chi tiết cụ thể. Giáo trình phục vụ mục đích đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực cơ khí, giúp học viên tiếp cận điều kiện sản xuất thực tế tại doanh nghiệp. Các nội dung chính gồm: kỹ thuật tiện trụ ngoài, gia công lỗ, tiện mặt côn, tiện ren và nhiều phương pháp gia công khác. Tài liệu áp dụng cho hệ thống đào tạo nghề tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn tỉnh Lào Cai và các vùng lân cận.

1.1. Mục tiêu đào tạo của giáo trình tiện

Mục tiêu đào tạo của giáo trình tiện nghề công nghệ hàn nhằm trang bị kiến thức kỹ năng cần thiết cho học viên sau khi ra trường. Chương trình tập trung vào việc rèn luyện khả năng vận hành máy tiện, đọc hiểu bản vẽ kỹ thuật và thực hiện gia công chi tiết máy chính xác. Học viên được học cách gá đặt phôi, lựa chọn chế độ cắt phù hợp và kiểm tra chất lượng sản phẩm. Giáo trình cũng nhấn mạnh yếu tố an toàn lao động và bảo dưỡng thiết bị. Thông qua các bài tập thực hành từ đơn giản đến phức tạp, học viên dần hình thành tay nghề vững chắc, đáp ứng yêu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp cơ khí trong và ngoài nước.

1.2. Cấu trúc và phạm vi nội dung giáo trình

Giáo trình được chia thành hai chương chính: Kỹ thuật tiện và Kỹ thuật phay. Chương I về kỹ thuật tiện bao gồm bài nhập môn nghề tiện, tiện trụ ngoài và mặt đầu, gia công lỗ trụ, gia công mặt côn và gia công ren tam giác. Chương II giới thiệu kỹ thuật phay với các nội dung vận hành bảo dưỡng máy phay, phay mặt phẳng ngang, phay mặt phẳng song song vuông góc và phay mặt phẳng nghiêng. Cấu trúc mô-đun giúp học viên tiếp thu kiến thức từng bước, từ lý thuyết cơ bản đến thực hành nâng cao. Mỗi bài học đều có sơ đồ bước tiến và chế độ cắt minh họa rõ ràng.

II. Phân tích kỹ thuật tiện mặt trụ ngoài và mặt đầu

Kỹ thuật tiện mặt trụ ngoài và mặt đầu là nội dung cốt lõi trong giáo trình tiện nghề. Các chi tiết máy như trục, bánh răng, chốt, pít-tông đều có bề mặt ngoài dạng hình trụ. Nguyên lý gia công dựa trên nguyên tắc chi tiết quay tròn quanh trục cố định, dao cắt chuyển động tịnh tiến song song với đường tâm để bóc bỏ lớp kim loại thừa. Giáo trình nêu rõ các yêu cầu kỹ thuật đối với bề mặt trụ ngoài gồm: độ thẳng của đường sinh, độ hình trụ đảm bảo tiết diện vuông góc với đường tâm bằng nhau, độ tròn xoay chính xác và độ đồng tâm giữa các bậc trục. Khi gia công trục bậc, việc kiểm soát kích thước từng cấp đường kính đòi hỏi sự chính xác cao. Giáo trình cũng hướng dẫn cách xác định bước tiến, lượng dư gia công và trình tự thao tác để đạt dung sai yêu cầu trên bản vẽ kỹ thuật.

2.1. Yêu cầu kỹ thuật đối với bề mặt trụ ngoài

Bề mặt trụ ngoài phải đạt bốn yêu cầu kỹ thuật cơ bản. Độ thẳng của đường sinh đảm bảo trục không bị cong vênh sau gia công. Độ hình trụ yêu cầu mọi tiết diện cắt vuông góc với đường tâm phải có kích thước đồng đều, không xuất hiện hình côn hay hình tang trống. Độ tròn xoay là chỉ tiêu quan trọng, bề mặt cắt ngang phải có dạng hình tròn hoàn hảo, không bị ô van hay có cạnh. Độ đồng tâm đảm bảo tất cả các bậc trên trục bậc có trục quay trùng nhau. Việc kiểm tra các chỉ tiêu này sử dụng thước cặp, đồng hồ so và thước lá để đo đạc trực tiếp trên sản phẩm gia công.

2.2. Phương pháp gá đặt và trình tự gia công trục ngắn

Gá đặt phôi là bước quan trọng trước khi tiến hành tiện mặt trụ ngoài. Phôi được kẹp chặt trên mâm cặp ba chấu, cần kiểm tra độ đồng tâm bằng đồng hồ so để đảm bảo phôi không bị lệch tâm. Trình tự gia công trục ngắn bắt đầu bằng việc khoả phẳng mặt đầu, sau đó tiện thô toàn bộ bề mặt trụ ngoài theo bước tiến dọc. Tiếp theo tiến hành tiện tinh với lượng cắt nhỏ hơn để đạt độ chính xác và độ nhám bề mặt yêu cầu. Chiều dài gia công được kiểm tra bằng thước cặp hoặc cữ chặn trên bàn dao. Lượng dư gia công hợp lý giúp kéo dài tuổi thọ dao cắt và nâng cao năng suất sản xuất.

III. Các phương pháp gia công lỗ và cắt rãnh trong chi tiết

Gia công lỗ và cắt rãnh là hai kỹ thuật quan trọng được trình bày chi tiết trong giáo trình. Gia công lỗ sử dụng mũi khoan ruột gà với các thông số góc được tính toán cụ thể. Góc trước của mũi khoan từ 20 đến 25 độ, góc sau từ 10 đến 12 độ. Góc đầu mũi khoan 2φ thường mài từ 116 đến 118 độ, điều chỉnh tùy theo vật liệu gia công. Đối với vật liệu cứng sử dụng góc 140 độ, vật liệu mềm dùng góc 90 độ. Kỹ thuật cắt rãnh trong lỗ có đặc điểm khác biệt so với cắt rãnh ngoài vì người thợ không quan sát trực tiếp quá trình làm việc của dao. Kích thước rãnh được xác định gián tiếp qua vạch số bàn trượt ngang hoặc thước cặp chuyên dụng. Giáo trình hướng dẫn phương pháp đo đường kính rãnh thông qua công thức tính dựa trên chiều dày thành chi tiết, đảm bảo độ chính xác cao trong sản xuất.

3.1. Kỹ thuật mài và sử dụng mũi khoan ruột gà

Mũi khoan ruột gà được cấu tạo với nhiều góc cắt đặc trưng cần được mài chính xác. Góc sắc β thay đổi từ 52 đến 60 độ tùy vật liệu gia công. Góc φ1 tạo dạng côn ngược nhằm giảm ma sát giữa phần sau mũi khoan và bề mặt gia công, thông thường từ 2 đến 4 độ. Khi mài mũi khoan trên máy mài, cần đảm bảo mũi khoan quay quanh tâm, hai lưỡi cắt chính có chiều dài bằng nhau và góc φ đối xứng. Lưỡi cắt ngang nên được mài càng ngắn càng tốt, nếu dài có thể mài lẹm hai rãnh. Việc mài đúng kỹ thuật giúp phoi cắt ra đều hai bên, lỗ khoan đạt độ chính xác cao và tránh tình trạng mũi khoan bị mẻ hoặc gãy.

3.2. Phương pháp cắt rãnh và đo kiểm tra kích thước

Cắt rãnh trong lỗ sử dụng dao cán liền hoặc dao cán rời với đầu dao ngắn hơn và góc sau lớn hơn so với dao cắt rãnh ngoài. Đối với rãnh rộng, trước tiên cắt đủ chiều sâu bằng bước tiến ngang, sau đó lùi dao và mở rộng rãnh bằng bước tiến dọc, cuối cùng tiến ngang để cắt phẳng đáy rãnh. Chiều sâu và khoảng cách rãnh đến mặt đầu được kiểm tra bằng thước cặp hoặc dưỡng. Để đo đường kính rãnh, cần xác định chiều dày thành chi tiết bằng thước cặp, sau đó dùng thước lá đo thêm thông số phụ. Công thức tính đường kính rãnh: d = D - 2h, trong đó D là đường kính ngoài và h là chiều dày thành lỗ.

IV. Ứng dụng thực tiễn và giá trị đào tạo của giáo trình

Giáo trình tiện nghề công nghệ hàn mang giá trị đào tạo thiết thực cho sự nghiệp công nghiệp hóa đất nước. Tài liệu được xây dựng dựa trên trang thiết bị thực tế của Trường Cao đẳng Lào Cai và khả năng tổ chức thực tập tại các công ty doanh nghiệp bên ngoài. Phương pháp đào tạo kết hợp lý thuyết với thực hành giúp học viên nắm vững nguyên lý gia công và phát triển tay nghề. Các bài tập ứng dụng trong giáo trình bao gồm đầy đủ sơ đồ bước tiến, chế độ cắt chi tiết với thông số cụ thể về lượng dư, bước tiến và tốc độ quay. Sau khi hoàn thành chương trình, học viên có khả năng vận hành máy tiện thành thạo, gia công các chi tiết máy đạt tiêu chuẩn kỹ thuật. Giáo trình cũng tạo nền tảng để người học tiếp tục nâng cao trình độ lên trung cấp, cao đẳng trong lĩnh vực cơ khí chế tạo và công nghệ hàn.

4.1. Giá trị thực tiễn trong đào tạo nghề cơ khí

Giáo trình tiện nghề công nghệ hàn đáp ứng nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho ngành cơ khí chế tạo. Nội dung bài tập thực hành được xây dựng phù hợp với điều kiện trang thiết bị hiện có tại trường và các doanh nghiệp liên kết. Học viên được tiếp cận quy trình gia công thực tế từ khâu chuẩn bị phôi, gá đặt, lựa chọn chế độ cắt đến kiểm tra sản phẩm hoàn thiện. Phương pháp đào tạo mô-đun cho phép tùy chỉnh nội dung theo năng lực từng nhóm học viên. Giáo trình cũng cập nhật các tiêu chuẩn kỹ thuật hiện hành, giúp học viên làm quen với môi trường sản xuất chuyên nghiệp ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường.

4.2. Hướng phát triển và nâng cao trình độ nghề

Sau khi hoàn thành giáo trình tiện trình độ sơ cấp, học viên có thể tiếp tục học lên trình độ trung cấp và cao đẳng nghề cắt gọt kim loại. Nền tảng kiến thức về kỹ thuật tiện và phay tạo cơ sở vững chắc để người học tiếp cận các phương pháp gia công tiên tiến hơn như tiện CNC, phay CNC và gia công tia lửa điện. Giáo trình cũng mở rộng hướng phát triển sang lĩnh vực công nghệ hàn, nơi kỹ năng gia công chi tiết kết hợp với khả năng lắp ráp và hàn tạo ra sản phẩm hoàn chỉnh. Đào tạo nghề chất lượng cao góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của lực lượng lao động Việt Nam trên thị trường quốc tế.

21/04/2026

Trích đoạn nội dung tài liệu

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI TRƯỜNG CAO ĐẲNG LÀO CAI GIÁO TRÌNH NGHỀ: TIỆN TRÌNH ĐỘ: SƠ CẤP NGHỀ (Ban hành kèm theo Quyết định số:.) Lào Cai, Năm 2019 TUYÊN BỐ BẢN QUYỀN Tài liệu này thuộc loại sách giáo trình nên các nguồn thông tin có thể được phép dùng nguyên bản hoặc trích dùng cho các mục đích về đào tạo và tham khảo. Mọi mục đích khác mang tính lệch lạc hoặc sử dụng với mục đích kinh doanh thiếu lành mạnh sẽ bị nghiêm cấm. LỜI GIỚI THIỆU Trong chiến lược phát triển và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước. Đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho công nghiệp hóa nhất là trong lĩnh vực cơ khí – Nghề cắt gọt kim loại là một nghề đào tạo ra nguồn nhân lực tham gia chế tạo các chi tiết máy móc đòi hỏi học sinh, sinh viên trong trường cần được trang bị những kiến thức, kỹ năng cần thiết để làm chủ các công nghệ sau khi ra trường tiếp cận được các điều kiện sản xuất của các doanh nghiệp trong và ngoài nước. Khoa Cơ khí - động lực Trường Cao đẳng Lào Cai đã biên soạn cuốn giáo trình này. Nội dung của mô đun để cập đến các công việc, bài tập cụ thể về phương pháp và trình tự gia công các chi tiết. Căn cứ vào trang thiết bị của nhà trường và khả năng tổ chức học sinh thực tập ở các công ty, doanh nghiệp bên ngoài mà nhà trường xây dựng các bài tập thực hành áp dụng cụ thể phù hợp với điều kiện hoàn cảnh hiện tại trên địa bàn. Mặc dù đã rất cố gắng trong quá trình biên soạn, song không tránh khỏi những sai sót. Chúng tôi rất mong nhận được những đóng góp ý kiến của các bạn và đồng nghiệp để cuốn giáo trình hoàn thiện hơn. Mọi ý kiến đóng góp xin gửi về địa chỉ: Khoa Cơ khí - động lực – trường Cao đẳng Lào Cai Lào Cai, ngày tháng năm 2019 Tác giả: MỤC LỤC TRANG CHƯƠNG I. KỸ THUẬT TIỆN Bài 1.Nhập môn nghề tiện. Tiện trụ ngoài và mặt đầu. Gia công lỗ trụ. Gia công mặt côn. Gia công ren tam giác. CHƯƠNG II. KỸ THẬT PHAY Bài 1. Vận hành bảo dưỡng máy phay. Phay mặt phẳng ngang. Phay mặt phẳng song song, vuông góc. Phay mặt phẳng nghiêng. CHƯƠNG I: KỸ THUẬT TIỆN BÀI 2 : TIỆN MẶT TRỤ NGOÀI VÀ MẶT ĐẦU. Tiện trục trơn ngắn. Khái niệm về những chi tiết có mặt trụ ngoài. - Các chi tiết máy như trục, bánh răng, chốt, píttông đều có mặt ngoài là mặt trụ. - Mặt ngoài được tạo bởi một đường thẳng quay quanh một đường tâm cố định song song với nó. Vì vậy, muốn tiện được chi tiết mặt trụ ngoài a chi tiết phải quay tròn, dao chuyển động tịnh tiến song song với đường tâm chi tiết. - Công việc tiện ngoài là tiến hành bóc đi những lớp kim loại ở xung quanh vật gia công để đạt được những kích thước, hình dáng theo đúng yêu cầu bản vẽ. Trục bậc Hình 2.1: Các bề mặt trụ ngoài 1. Yêu cầu đối với mặt trụ ngoài. - Độ thẳng của đường sinh. - Độ hình trụ : Mọi tiết diện cắt vuông góc với đường tâm phải bằng nhau (không có hình côn, tang trống hay yên ngựa). - Độ tròn : Các tiết diện cắt vuông góc với đường tâm phải có độ tròn xoay (không bị ô van, không có cạnh). - Độ đồng tâm : Trục của tất cả các bậc của chi tiết bậc nằm trong một đường thẳng chung. Mặt yên ngựa a. Mặt tang trống d. Hình nhiều cạnh Hình 2.2: Các dạng bề mặt sai hỏng của bề mặt trụ ngoài - Trong thực tế, không thể có những chi tiết mặt ngoài là hình trụ tuyệt đối vì trong quá trình gia công sẽ có những sai lệch xảy ra. Sai lệch cho phép về hình dáng hình học, vị trí tương quan giữa các bề mặt chi tiết được ghi trên bản vẽ bằng ký hiệu hoặc ghi chú. Ví dụ : Độ côn cho phép trên chiều dài 100 mm là 0,05.3: Ký hiệu trên bản vẽ về độ côn cho phép 1. Phương pháp tiện trục trơn ngắn. Dao tiện trụ ngoài. - Dao tiện thô có thể là dao đầu thẳng và dao đầu cong, các dao này không chỉ để tiện ngoài mà còn dùng để khoả mặt đầu của chi tiết. - Dao tiện thô có góc  = 30  60o, 1 = 10  30o. Góc  nhỏ dùng để gia công vật có độ cứng vững cao L/D  5. - Dao vai có góc  = 90o được dùng để gia công phôi kém cứng vững L/D > 12. Vì dao này có lực uốn phôi nhỏ, chiều dài tham gia cắt gọt ít, nhiệt tập trung ở mũi dao, tuổi thọ của dao kém hơn dao có góc  = 60o. - Để gia công thô, mũi dao mài bán kính R = 0,5 - 1 mm Gia công bán tinh R = 1,5 - 2 mm Gia công tinh R = 3 - 5 mm R càng lớn, độ bóng càng cao, dao hợp kim cứng để gia công gang, lưỡi cắt được mài sắc, còn gia công thép được mài vát 1 giải hẹp. Tiện tinh người ta có thể dùng dao có lưỡi rộng (chiều rộng lưỡi cắt lớn hơn bước tiến của dao).5 n n  = 15° =8° S r =3 S Hình dáng hình học của dao Dao đầu tròn Dao lưỡi rộng lưỡi rộng Hình 2.4: Dao tiện tinh 1. Phương pháp tiện. - Tuỳ thuộc vào lượng dư gia công và chất lượng bề mặt gai công mà chia ra làm các giai đoạn : Tiện thô, tiện bán tinh và tiện tinh. - Nếu chi tiết có yêu cầu độ chính xác và độ bóng cao, ta chia làm 3 lần, yêu cầu độ chính xác và độ nhẵn bóng không cao ta có thể chia làm 2 lần. - Tiện thô : Bóc đi phần lớn lượng dư gia công. Tuỳ theo trị số lượng dư có thể cắt một hay nhiều lần cắt. - Tiện tinh : Bóc đi phần còn lại của lượng dư để đạt kính thước, độ nhẵn, độ bóng theo yêu cầu bản vẽ. - Để đảm bảo yêu cầu về năng suất, độ chính xác, độ bóng thì việc điều chỉnh chiều sâu cắt đóng vai trò quan trọng. Vì vậy, trước khi gia công phải xác định chiều sâu cắt và số lát cắt cần thiết. - Để điều chỉnh được chiều sâu cắt phải dựa vào du xích bàn trượt ngang. Muốn tiện được nhanh mf chính xác ta phải dùng phương pháp tiện cắt thử và đo. Cho vật gia công quay, dùng tay quay bàn trượt dọc và ngang đưa dao tiếp xúc với bề mặt gia công, vạch lên bề mặt gia công một đường mờ, sau đó quay vô lăng bàn trượt dọc đưa dao ra ngoài mặt đầu của chi tiết. Lấy chiều sâu cắt sao cho lượng ăn vào phôi nhỏ hơn lượng dư gia công, tiếp theo tiến dao bằng tay vào cắt phôi một khoảng 3 - 5 mm, đưa dao ra mặt đầu và đo kích thước vừa tiện. - Sau khi đo xong, tính toán lượng dư còn lại để điều chỉnh du xích bàn trượt ngang để cắt hết lượng dư đó. Nếu chi tiết gia công bằng phương pháp cắt thử và đo đạt đúng kích thước và vị trí trên ổ dao không thay đổi thì các chi tiết khác trong loạt không phải cắt thử nữa. - Giữa vị trí vít và đai ốc bàn trượt ngang bo giờ cũng có độ rơ, để độ rơ đó khộng gây ra sai số khoảng dịch chuyển của dao khi điều chỉnh bằng du xích, thì khi ta điều chỉnh chiều sâu cắt, chỉ điều chỉnh vòng chia độ theo chiều kim đồng hồ sau khi đã quay trước một vòng ngược chiều kim đồng hồ. Khử độ rơ của bàn dao ngang Hình 2. Chế độ cắt khi tiện Quá trình cắt gọt đặc trưng bởi một chế độ cắt xác định gồm : Chiều sâu cắt, bước tiến và tốc độ cắt.Chiều sâu cắt t (mm) : Là chiều dày lớp kim loại được bóc đi sau một lần chạy dao. Chiều sâu cắt được đo theo phương vuông góc với bề mặt gia công. - Tiện trụ ngoài, chiều sâu cắt bằng một nửa hiệu đường kính của mặt chưa gia công và đường kính của mặt đã gia công. D d t 2 - Khi tiện lỗ, chiều sâu cắt bằng một nửa hiệu giữa đường kính lỗ sau khi gia công và đường kính lỗ trước khi gia công. - Khi tiện mặt đầu, chiều sâu cắt là chiều dày lớp kim loại bị bóc đi sau một lần chạy dao. Trong trường hợp này, chiều sâu cắt được đo theo phương vuông góc với mặt đầu đã gia công. - Khi cắt đứt và cắt rãnh, chiều sâu cắt bằng chiều rộng của rãnh cắt do lưỡi cắt của dao tạo nên khi không mở mạch. t n D d n D d S t S a, Tiện ngoài b, Tiện lỗ t n S t n S c, Tiện mặt đầu d, Tiện cắt đứt Hình 2.6: Chế độ cắt khi tiện ngoài 1.Bước tiến S (mm/vòng) : Là khoảng dịch chuyển của dao theo phương chuyển động tiến sau một vòng quay của vật gia công.7: Bước tiến khi tiện 1.Tốc độ cắt V (m/phút) : Là quãng đường đi được của điểm thuộc mặt cắt và nằm cách xa tâm nhất so với lưỡi cắt của dao trong một đơn vị thời gian. Nếu lấy quãng đường đi được của một điểm trên mặt cắt là D nhân với tần số quay của trục chính (số vòng quay trong một phút là n) thì sẽ được chiều dài quãng đường đi được đến một điểm đó trong một phút là t = Dn (mm/phút). Còn quãng đường đi được trong một đơn vị thời gian chính là tốc độ. Trong cắt gọt kim loại, tốc độ thường được tính bằng đơn vị m/phút (m/ph). Vì 1 mm = 0,001 m nên ta có công thức sau πDn πDn πDn t theo hÖSI: V  (m/giay) V  (m/ph) 1000 60.1000 1000 Từ công thức trên ta thấy đường kính D của phôi càng lớn thì tốc độ cắt V càng lớn nếu tần số quay không đổi, vì sau một vòng quay của vật gia công (sau một phút), quãng đường đi được của điểm A nào đó có đường kính D sẽ lớn hơn quãng đường đi được trên điểm B trên mặt có đường kính d (D > d). - Nếu đã biết tốc độ cắt V mà các tính chất cắt gọt của dụng cụ cho phép và đường kính D của phôi sẽ xác định được tần số quay cần thiết của phôi và dùng hộp tốc độ của máy để điều chỉnh tần số quay của trục chính đúng bằng tần số xác định được : n = 1000V/D (vòng/phút). Thể tích mà dao cắt được trong một đơn vị thời gian gọi là năng suất của dao.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ