mở đầu, diễn biến và kết thúc. Đó là quá trình nhận thức, đó là quá trình cảm xúc, đó là quá trình ý chí, đó là quá trình giao tiếp, bắt chƣớc và lây lan tâm lý. Các quá trình tâm lý nguồn gốc của tất cả đời sống tâm lý cá nhân và tâm lý của tập thể. -Các trạng thái tâm lý: là những hiện tƣợng tâm lý diễn ra trong thời gian tƣơng đối dài, thƣờng đi kèm với các quá trình tâm lý và chi phối chúng.
Ví dụ: trạng thái chú ý, tâm trạng, trạng thái do dự, trạng thái nghi hoặc, tâm trạng tập thể, bầu không khí tâm lý tập thể. -Các thuộc tính tâm lý: là những hiện tƣơng tâm lý đã trở nên ổn định và bền vững tạo nên nét riêng biệt của chủ thể mang hiện tƣợng tâm lý đó và chi phối tới các quá trình tâm lý và trạng thái tâm lý. -Các thuộc tính tâm lý hình thành lâu dài và kéo dài rất lâu Ví dụ: tính cách, tình cảm, quan điểm, lý tƣởng, phong tục tập quán, truyền thống. *Căn cứ vào sự tham gia của ý thức, ta có thể chia các hiện tƣợng tâm lý ra làm 2 loại lớn sau đây: -Những hiện tƣợng tâm lý có ý thức: là những hiện tƣợng tâm lý có sự tham gia, điều chỉnh của ý thức.
Đó những hiện tƣợng tâm lý đƣợc nhận thức, tức là chúng ta có thể nhận biết đƣợc sự diễn biến của chúng, đó là những hiện tƣợng tâm lý có chủ định, chủ tâm, có dự tính trƣớc. Ở con ngƣời trƣởng thành và bình thƣờng, hầu hết các hiện tƣợng tâm lý ít nhiều đều có ý thức. Ở họ, các hành vi, cử chỉ, lời ăn tiếng nói v.đều có sự tham gia của ý thức và kết quả của sự chi phối của ý thức. Vì thế mà hoạt động của con ngƣời khác về chất so với loài vật.
-Những hiện tƣợng tâm lý không ý thức (vô thức): là những hiện tƣợng tâm lý xảy ra không có sự tham gia của ý thức và con ngƣời không nhận thức đƣợc, ví dụ. + Những hiện tƣợng tâm lý có tính chất bệnh lý nhƣ hiện tƣợng hoang tƣởng, ảo giác, bệnh tâm thần, những hành vi trong lúc say rƣợu. + Những hiện tƣợng tâm lý xảy ra trong trạng thái ức chế của hệ thần kinh nhƣ: mơ, mộng du, thôi miên. + Những hiện tƣợng xuất phát từ bản năng, nhƣng ở con ngƣời loại này đã đƣợc ý thức hóa một phần nhƣ.
Chớp mắt, ngủ gật, ngáp. + Tiềm thức: là những hiện tƣơng ban đầu là có ý thức, nhƣng sau đó không đƣợc lặp đi, lặp lại và ý thức “ẩn” đi, “lặn sâu” vào bên trong, không còn bộc lộ rõ nữa, chẳng hạn các thói quen, kỷ xảo. + Hiện tƣợng vụt sáng: là sự xuất hiện những ý tƣởng bất ngờ, khi chúng ta không hề nghĩ tới. Chúng có ý nghĩa rất lớn trong lĩnh vực sáng tạo.
Chẳng hạn sự vụt sáng của Acsimete về qui luật sức đẩy của nƣớc, vụt sáng của Mendelep về bảng hệ thống tuần hoàn. Trong đời sống tâm lý con ngƣời thì lĩnh vực tâm lý có ý thức đóng vai trò chủ đạo, tuy nhiên các hiện tƣợng vô thức cũng có ý nghĩa nhất định, chúng cũng tham gia vào điều khiển các hành vi của con ngƣời. Mối quan hệ giữa ý thức và vô thức là mối quan hệ biện chứng, chuyển hóa cho nhau, bổ sung cho nhau, giúp cho tâm lý không phải căng thẳng quá tải mà vẫn đảm bảo hoạt động một cách tối ƣu. TÂM LÝ HỌC VÀ TÂM LÝ HỌC TRONG KD Tâm lý học là một khoa học nghiên cứu về tâm lý.
Nó nghiên cứu các sự kiện của đời sống tâm lý, các qui luật nảy sinh, diễn biến và phát triển của các sự kiện đó, cũng nhƣ cơ chế hình thành của những hiện tƣợng tâm lý. Đối tƣợng của tâm lý học đó là: - Tất cả các hiện tƣợng tâm lý ngƣời các quá trình, các trạng thái các thuộc tính, cả những hiện tƣợng tâm lý có ý thức cả những hiện tƣợng tâm lý vô thức, cả những hiện tƣợng tâm lý cá nhân cả những hiện tƣợng tâm lý xã hội. - Các qui luật nảy sinh, biểu hiện và phát triển của các hiện tƣợng đó. Cơ sở sinh lý thần kinh và cơ chế hình thành các hiện tƣợng tâm lý.
Với nội dung nghiên cứu trên, tâm lý học đặt ra cho mình những hiện nhiệm vụ cơ bản nhƣ: - Làm rõ những yếu tố khách quan và chủ quan ảnh hƣởng đến sự hình thành đời sống tâm lý con ngƣời. - Mô tả và nhận diện các hiện tƣợng tâm lý. - Làm rõ mối quan hệ, liên hệ qua lại giữa các hiện tƣợng tâm lý. - Tham gia vào giải quyết các vấn đề thực tiễn mà xã hội đặt ra (trong đó có cả lĩnh vực sản xuất kinh doanh, giáo dục, chăm lo sức khỏe con ngƣời v.) Ngày nay tâm lý học đã tách ra rất nhiều chuyên ngành đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của thực tiễn xã hội, đó là: Tâm lý học đại cƣơng, tâm lý xã hội, tâm lý học y học, tâm lý học sƣ phạm, tâm lý học kỹ sƣ, tâm lý học lao động, tâm lý học quân sự, tâm lý học tội phạm, tâm lý học vũ trụ, tâm lý học thể thao, tâm lý học quản trị và kinh doanh v.
Tâm lý học quản trị kinh doanh là một trong hơn bao chục chuyên ngành của tâm lý học. Đối tƣợng của nó là nghiên cứu ứng dụng các qui luật tâm lý vào hoạt động quản trị và kinh doanh, mà cụ thể là: - Nghiên cứu sự thích ứng của công việc SXKD với con ngƣời. Theo hƣớng này TLH QTKD chú ý tới các khía cạnh tâm lý của việc tổ chức quá trình sản xuất, kinh doanh: Đặc biệt là các vấn đề phân công lao động, tổ chức chế độ làm việc và nghỉ ngơi hợp lý, đƣa yếu tố thẩm mỹ vào SXKD. - Nghiên cứu mối quan hệ con ngƣời với nghề nghiệp.
Theo hƣớng này các nhà TLH đã nghiên cứu cơ sở tâm lý và các phƣơng pháp tâm lý học của việc phát hiện, sử dụng và bồi dƣỡng nhân tài góp phần đắc lực cho công tác quản trị nhân sự. Ứng dụng các dạng trắc nghiệm tâm lý để đo năng lực trí tuệ phẩm chất nhân cách, ý chí. của con ngƣời, giúp cho các nhà quản trị trong việc tuyển chọn, đánh giá, đề bạt cán bộ, nhân viên của mình. - Nghiên cứu sự thích ứng của con ngƣời với con ngƣời trong SXKD.
Theo hƣớng này TLH QTKD nghiên cứu mối quan hệ giữa con ngƣời với con ngƣời trong tập thể, cụ thể là bầu không khí tâm lý tập thể, sự hòa hợp hay không hòa hợp giữa các thành viên; quan hệ giữa nhà quản trị với nhân viên (vấn đề tìm hiểu, đánh giá, đối xử với nhân viên, vấn đề kích thích lao động. Tâm lý học QTKD cũng giải quyết nhiều vấn đề khác nhƣ: vấn đề về mối tƣơng quan giữa phóng các luận lý và hiệu quả hoạt động của tập thể, vấn đề uy tín của nhà quản trị. - Nghiên cứu những vấn đề tâm lý trong việc tiêu thụ sản phẩm. Theo hƣớng này TLH QTKD tìm hiểu những qui luật tâm lý ngƣời trong các vấn đề nhƣ: tìm hiểu nhu cầu, thị hiếu của khách hàng; phong tục tập quán của thị trƣờng để nhà kinh doanh lập kế hoạch sản xuất, thiết kế kiểu dáng, mẫu mã.; nghiên cứu những qui luật tâm lý áp dụng trong nghệ thuật quảng cáo để giới thiệu, hƣớng dẫn và kích thích hành vi mua hang của khách hàng.
SƠ LƢỢC VỀ SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TÂM LÝ HỌC KD 1. Vài nét về lịch sử hình thành của khoa học tâm lý Từ khi ra đời, lịch sử phát triển những tƣ tƣởng tâm lý học cùng với những tƣ tƣởng triết học là lịch sử đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm. Thời cổ đại, Đemocrite (460-370 TCN) đại diện cho dòng phái duy vật, Platon (428-318 TCN) đại diện cho dòng phái duy tâm. về thế giới tâm lý, các nhà duy vật cổ đại đi tìm cơ sở ban đầu của chúng trong lửa, khí và nƣớc.
Họ đƣa ra quan niệm rằng các hiện tƣợng tâm lý cũng tuân theo những quy luật của thế giới tự nhiên. Các nhà duy tâm cho rằng tƣ tƣởng, tâm lý là cái có trƣớc, thực tại là cái có sau. Tâm lý tồn tại phụ thuộc vào Thƣợng đế chứ không phụ thuộc vào con ngƣời và thế giới xung quanh. Những tƣ tƣởng duy tâm phản khoa học đã bị Arixtote (384-322 TCN), học trò của Platon, phê phán.
Arixtote là tác giả của tác phẩm lớn đầu tiên về thế giới tâm hồn con ngƣời- “Bàn về tâm hồn”. Trong cuốn sách này ông đã trình bày một luận điểm hết sức tiến bộ so với thời bấy giờ. Đó là tồn tại mối quan hệ giữa tâm lý và cơ thể với thế giới xung quanh, tâm lý phụ thuộc vào con ngƣời và tự nhiên, xã hội. Đến nửa đầu thế kỷ XVII tâm lý học khoa học lại có thêm một phát kiến mới cực kỳ quan trọng- đó là phát kiến ra phản xạ của Decac (1596-1650).
Tuy nhiên ông lại đi theo thuyết nhị nguyên luận đáng phê phán. Cũng trong khoảng thời gian này nhiều học thuyết mới xuất hiện nhƣ: “Tâm lý học kinh nghiệm” của J. Mặc dù đến năm 1732 tên gọi “Tâm lý học” đã ra đời trong cuốn sách “Tâm lý học kinh nghiệm” của Volf (Đức), nhƣng tâm lý học vẫn chỉ là một bộ phận của triết học mà thôi. Chỉ đến năm 1879, khi nhà tâm lý học Vung (Đức) sáng lập ra phòng thí nghiệm tâm lý đầu tiên trên thế giới (sau này là Viện tâm lý học của Đức) thì tâm lý học mới thực sự trở thành một môn khoa học độc lập.
Trong vòng 10 năm đầu thế kỷ XX xuất hiện ba trƣờng phái tâm lý học khách quan, đó là “Tâm lý học hành vi” của Watson (1878-1958), “Tâm lý học cấu trúc” của các nhà tâm lý học Đức - Wertheimer (1880-1943), Kohler (1887-1967) và Kofka (1886- 1947), và “Phân tâm học” do Z.Freud (1856-1936) sáng lập. Tâm lý học hành vi không mô tả hay giải thích các trạng thái của ý thức bỏ qua các mối quan hệ bản chất của con trong xã hội lịch sử nhất định. Mục đích chính là nghiên cứu hành vi của con ngƣời. Hành vi có nghĩa là những cử chỉ, động tác đáp lại của ngƣời ta khi có một kích thích từ bên ngoài nào đó theo công thức S (Stimul)-R (Response), hễ có kích thích thì có phản ứng và kích thích nào thì phản ứng đó.
Do đó chỉ cần nghiên cứu tính chất của kích thích thì sẽ dự đoán đƣợc tâm lý của một ngƣời.