MỞ ĐẦU TS.BS Trần Ngọc Quảng Phi MỤC TIÊU 1. Trình bày lƣợc sử ngành nha khoa thời kỳ hiện đại trên thế giới và Việt Nam. Trình bày đƣợc phạm vi điều trị các chuyên ngành trong ngành Răng hàm mặt 3. Nêu vai trò kiến thức răng hàm mặt với bác sĩ y khoa Chuyên khoa Răng hàm mặt là một chuyên khoa trong Y khoa với nhiệm vụ chính là chẩn đoán và điều trị bệnh lý các cơ quan, cấu trúc vùng miệng hàm mặt.
Đối tƣợng của chuyên khoa răng hàm mặt bao gồm ba lĩnh vực Nha khoa cơ sở, Nha khoa lâm sàng và Nha khoa công cộng, trong đó mỗi lĩnh vực có nhiều chuyên ngành chuyên sâu khác nhau. Lĩnh vực Nha khoa cơ sở bên cạnh các môn học tƣơng đồng với y khoa nhƣ Giải phẫu răng – miệng, Mô phôi răng – miệng, Sinh lý răng – miệng, Sinh hoá răng – miệng, Vi sinh răng – miệng… đặc thù vùng miệng hàm mặt, còn có môn chuyên biệt là Vật liệu nha khoa, nghiên cứu về vật liệu, dụng cụ và thiết bị chuyên dụng của ngành nha. Lĩnh vực Nha khoa lâm sàng với nhiều chuyên ngành khác nhau phục vụ cho việc chẩn đoán và điều trị các bệnh lý răng miệng, gồm các chuyên ngành chuyên sâu khác nhau: Bệnh lý miệng – hàm mặt, Phẫu thuật miệng – hàm mặt, Chữa răng, Nội nha, Phục hình, Nha chu, Chỉnh hình răng mặt…Lĩnh vực Nha khoa công cộng nghiên cứu về dịch tể học các bệnh lý răng miệng, các biện pháp phát hiện sớm, phòng ngừa các bệnh lý rang miệng hàm mặt phổ biến nhƣ sâu răng, nha chu, ung thƣ niêm mạc miệng. Mặc dù là chuyên khoa chăm sóc sức khoẻ con ngƣời, nhƣng do tính đặc thù về hành nghề, chuyên khoa răng hàm mặt đƣợc đào tạo nhƣ một chuyên ngành độc lập tƣơng đối so với các chuyên khoa Y khoa.
LƢỢC SỬ CHUYÊN KHOA RĂNG HÀM MẶT 1. Thời kỳ cổ đại đến cận đại Vấn đề răng miệng đầu tiên đƣợc đề cập đến từ 5000 năm trƣớc công nguyên, trong tài liệu ngƣời Sumer (Nền văn minh Lƣỡng Hà, tƣơng ứng Iraq ngày nay), sử dụng thuật từ “Sâu răng” là để chỉ một loại sâu gây phá huỷ răng (tooth worm). Thuật từ “Sâu răng” với ý nghĩa là một loài sâu gây ra còn là quan điểm của nhiều quốc gia khác nhau nhƣ Trung Quốc, Nhật Bản, Ai Cập… và kể cả Việt Nam. Những chiếc răng ngà với hình ảnh các chú “sâu” bên trong là minh học rõ nét cho quan điểm này (hình 1).
Thuật từ này tồn tại cho đến tận năm 1300 sau công nguyên mới đƣợc Guy de Chauliac, một phẫu thuật viên ngƣời Pháp giải thích rõ nguyên nhân không phải là do sâu (worm), và thuật từ này đƣợc thay thế bởi thuật từ “tooth decay” hay “dental caries”. Tại Việt Nam, Hình 1: Minh hoạ quan niệm thuật từ “Sâu răng” vẫn đƣợc sử dụng, nhƣng định nghĩa “sâu răng” thời cổ đại là một bệnh gây phá huỷ mô răng do vi khuẩn. (Nguồn: Tài liệu tham khảo số 5) Tại Trung Hoa, từ năm 2700 trƣớc công nguyên đã có bằng chứng sử dụng châm cứu để điều trị đau do răng. Đến năm 2600 trƣớc công nguyên là mốc lịch sử nha khoa khi ngƣời “bác sĩ nha khoa đầu tiên” (the first dentist), một ngƣời Ai Cập là Hesy-Re, đã ra đi để lại sự tiếc thƣơng vô hạn, với những dòng chữ còn khắc trên bia mộ của ông “The 1 greatest who deal with teeth”.
Trong y văn Ai Cập cổ đại từ năm 1700 – 1550 trƣớc công nguyên cũng đề cập đến các bệnh lý răng miệng và các phƣơng pháp điều trị giảm đau. Đặc biệt, trong giai đoạn năm 500 – 300 trƣớc công nguyên, Hippocrates (460 – 375 trƣớc công nguyên), “cha đẻ của ngành y”, đã có nhiều đóng góp có giá trị trong lĩnh vực nha khoa. Hippocrates đã viết về vấn đề mọc răng, điều trị sâu răng, điều trị các bệnh nƣớu, nhổ răng bằng kềm, đề xuất phƣơng pháp dùng chỉ cố định răng lung lay, nêu phƣơng pháp nắn chỉnh và cố định xƣơng hàm thông qua cố định răng bằng cách dùng chỉ vàng hay chỉ vải để cố định răng hai bên đƣờng gãy cho đến khi lành thƣơng. Hippocrates cũng nêu những chỉ định của phƣơng pháp dùng băng cằm đầu và cũng phê bình những hạn chế của phƣơng pháp này khi dùng sai chỉ định trong điều trị gãy xƣơng hàm dƣới đã sử dụng từ những thời kỳ trƣớc.
Nguyên tắc điều trị mà Hippocrates đề nghị vẫn còn giá trị đến ngày nay, trong những trƣờng hợp gãy xƣơng hàm dƣới ít di lệch và có thể nắn chỉnh bằng tay. Trong kỹ thuật nắn khớp thái dƣơng hàm, Hippocrates mô tả chi tiết kỹ thuật nắn khớp và quan sát của ng thật tinh tế, phù hợp với đặc điểm giải phẫu và sinh lý các cơ nhai trong quá trình nắn khớp. Yếu tố “thƣ giãn cơ và bất ngờ” là chìa khóa trong nắn khớp thái dƣơng hàm đã đƣợc Hippocrates phát hiện từ trƣớc công nguyên, lúc chƣa có những kiến thức về giải phẫu học, đã bị nhiều thầy thuốc cho đến hiện nay bỏ quên: “ …ngƣời thực hiện thao tác nắn khớp giữ hàm dƣới bằng cách đặt các ngón tay trong và ngoài miệng gần vùng cằm. Yêu cầu bệnh nhân giữ miệng há trong trạng thái thoải m i v gi n cơ sau đó ất ngờ đẩ h m ƣới ra sau và yêu cầu bệnh nhân ngậm miệng…”.
Dấu ấn cuối cùng của lịch sử nha khoa thời cổ đại là ngƣời Etruscan (166 – 201 sau công nguyên) đã thực hiện chiếc cầu răng đầu tiên bằng cách dùng chỉ vàng để buộc các răng mất với các răng còn lại (hình 2). Trong suốt thời kỳ trung đại và cận đại, thực hành nha khoa do các bác sĩ y khoa hoặc thợ hớt tóc (barber) đảm trách. Trong thời kỳ này, hầu nhƣ không có bƣớc tiến gì đáng kể trong chuyên ngành nha khoa. Tại u châu, trƣờng y khoa đầu tiên đƣợc thành lập vào thế kỷ XI ở Salermo, nƣớc.
Bộ sách giáo khoa phẫu thuật đƣợc biên soạn vào năm 1180 tại Salerno, trong đó có đề cập đến phƣơng pháp điều trị gãy xƣơng hàm. Vấn đề khớp cắn bắt đầu đƣợc quan tâm: “Trong gãy xƣơng hàm dƣới, các răng dƣới không tiếp khớp đƣợc với răng hàm trên và nhƣ vậy, bệnh nhân không thể nhai đƣợc. Bệnh nhân phải đƣợc cố định các răng dƣới vào các răng hàm trên sao cho tất cả các răng dƣới tiếp xúc với tất cả các răng trên”. Tuy nhiên ngƣời thực sự đề cập đến phƣơng pháp cố định liên hàm là nhà phẫu thuật nổi tiếng ngƣời , Guglielmo Salicetti (1210 – 1280).
Guglielmo Salicetti còn là ngƣời đầu tiên đề cập đến trƣờng hợp trật khớp thái dƣơng hàm lên trên, một trƣờng hợp rất hiếm. Lanfranchi, học trò của Guglielmo Salicetti, cũng có nhiều đóng góp trong lĩnh vực điều trị chấn thƣơng hàm mặt. ng đã đề nghị một phƣơng pháp mới để nắn khớp thái dƣơng hàm trong trƣờng hợp trật khớp: “Ngƣời phụ tá đứng phía sau, dùng một võng bao quanh cằm kéo về phía sau. Trong khi đó, phẫu thuật viên sẽ dùng chêm gỗ chêm vào vùng răng cối nhƣ một đòn bẩy để nắn khớp” Ambroise Paré (1510 – 1590), một nhà phẫu thuật hàng đầu của Pháp thời bấy giờ, mệnh Hình 2: Chiếc cầu răng đầu tiên của danh là cha đẻ ngành phẫu thuật, đã đúc kết rất loài người (166 – 201 sau CN) nhiều phƣơng pháp điều trị trong nha khoa bao (Nguồn: Tài liệu tham khảo số 5) gồm nhổ răng, điều trị sâu răng, điều trị gãy 2 xƣơng hàm trong các tác phẩm của mình.
Những phƣơng pháp điều trị chấn thƣơng hàm mặt của Hyppocrate, Guglielmo Salicetti, Lanfranchi… đều đƣợc ghi nhận với những bàn luận và đánh giá một cách khoa học. Thời kỳ hiện đại Pierre Fauchard (hình 3) đã xuất bản cuốn sách đầu tiên về nha khoa “Le Chirurgien Dentiste” vào năm 1723, trong đó ông đã mô tả một cách hệ thống kiến thức nha khoa, từ giải phẫu và chức năng vùng miệng cho đến các kỹ thuật chữa răng, phục hình răng. Mặc dù là một bác sĩ phẫu thuật, nhƣng với tác phẩm này, ông đƣợc xem là cha đẻ của nha khoa hiện đại. Năm 1790 đánh dấu một cột mốc trong ngành nha khoa với hệ thống dụng cụ khoan đầu tiên do John Greenwood thiết kế (hình 4).
ng là bác sĩ nha khoa riêng của Washington (Tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ), đồng Hình 3: Pierre Fauchaud, cha thời với chiếc ghế điều trị nha khoa đầu tiên do Josiah Flagg đẻ nha khoa hiện đại (Nguồn: sáng chế trong cùng năm 1790. Tài liệu tham khảo số 5) Hình 4A&B: Thiết bị khoan và ghế điều trị nha khoa đầu tiên vào năm 1790 do Greenwood và Flagg thiết kế (Nguồn: Tài liệu tham khảo số 5) A Thế kỷ XIX khởi đầu với sự thành lập trƣờng Nha khoa đầu tiên vào năm 1840 tại Baltimore B (Hoa Kỳ) do Chapin Harris và Horace Hayden đồng sánh lập, sau đó với sự kiện thành lập Hiệp hội nha khoa Hoa Kỳ (1859), trƣờng Nha khoa Harvard (1867). Vào cuối thế kỷ XIX, Angle (1899) đề xuất khái niệm lệch lạc khớp cắn và phân loại lệch lạc khớp cắn thành 3 nhóm với đặc điểm đặc thù. Trên cơ sở phân loại lệch lạc khớp cắn đó, ông tiếp tục xây dựng những quan điểm và kỹ thuật điều trị các hình thái lệch lạc khớp cắn rồi thành lập trƣờng dạy chỉnh nha đầu tiên vào năm 1900.
Đầu thế kỷ XX, Hiệp hội bác sĩ chỉnh nha đầu tiên ra đời (1901), là hiệp hội chuyên ngành đầu tiên trong nha khoa, mở đƣờng cho sự phát triển các chuyên ngành khác trong lĩnh vực nha khoa. Với những công lao to lớn đó, Angle đƣợc tôn vinh là cha đẻ của 3 chuyên ngành chỉnh nha. Tiếp theo chuyên ngành chỉnh nha, Hiệp hội bác sĩ nha chu ra đời vào năm 1914, rồi Hiệp hội bác sĩ nhổ răng đƣợc thành lập vào năm 1919, đến năm 1921 thì đổi tên thành Hiệp hội bác sĩ phẫu thuật miệng và nhổ răng, tiền thân của Hiệp hội bác sĩ phẫu thuật miệng – hàm mặt hiện nay. Những hiệp hội chuyên ngành khác trong nha khoa tiếp tục đƣợc thành lập sau đó nhƣ Hiệp hội bác sĩ phục hình (1928), hiệp hội bác sĩ nội nha (1943)… Thế kỷ XX đã chứng kiến những tiến bộ vƣợt bậc trong ngành nha khoa với hàng loạt những phát kiến.
Vai trò của fluor trong phòng ngừa sâu răng là một cuộc cách mạng trong nha khoa góp phần giảm tỉ lệ sâu răng. Chƣơng trình fluor hoá nƣớc uống đƣợc tiến hành đầu tiên ở New York và Michigan vào năm 1945 và sau đó fluor đƣợc đƣa vào kem đánh răng nhằm sử dụng rộng rãi hơn trong cộng đồng vào năm 1950. Tay khoan siêu tốc đầu tiên đƣợc sáng chế với tốc độ 300.