Giáo Trình Quy Hoạch Đô Thị - Tài Liệu Học Tập Chuyên Sâu

"Giáo trình quy hoạch đô thị cung cấp kiến thức chuyên sâu về lý thuyết và thực tiễn trong lĩnh vực quy hoạch, phục vụ sinh viên và chuyên gia."

Trường đại học

Đại học Hải Phòng

Chuyên ngành

Kiến trúc

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

giáo trình

2019

161
10
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm về đô thị và quy hoạch đô thị

Nội dung đầu tiên của giáo trình "Quy hoạch đô thị" tập trung vào việc định nghĩa và phân tích khái niệm đô thị và quy hoạch đô thị. Đô thị được hiểu là khu vực tập trung dân cư với mật độ cao, chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp. Quy hoạch đô thị không chỉ là việc tổ chức không gian mà còn là một công cụ quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội. Theo Luật Quy hoạch Đô thị, đô thị là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế và văn hóa, có vai trò thúc đẩy sự phát triển của một vùng lãnh thổ. Giáo trình cũng đề cập đến các loại hình đô thị tại Việt Nam, từ đô thị đặc biệt đến các loại đô thị khác, cùng với các tiêu chí phân loại cụ thể. Điều này giúp người học hiểu rõ hơn về sự đa dạng và phức tạp của đô thị trong bối cảnh hiện đại.

1.1. Đô thị và điểm dân cư đô thị

Đô thị và điểm dân cư đô thị đã xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử. Điểm dân cư đô thị là nơi tập trung chủ yếu những người dân phi nông nghiệp, có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Mỗi điểm dân cư đô thị không chỉ là trung tâm hành chính mà còn là nơi giao lưu sản xuất, thương mại. Theo các chuyên gia, đô thị là nơi tích lũy của cải và văn hóa, là trung tâm của sự phát triển. Định nghĩa đô thị theo các quy chuẩn xây dựng Việt Nam cũng nhấn mạnh vai trò của đô thị trong việc phát triển kinh tế và xã hội của quốc gia.

1.2. Phân loại đô thị ở Việt Nam

Việt Nam phân loại đô thị thành nhiều loại khác nhau, từ đô thị đặc biệt đến các loại đô thị khác. Các tiêu chí phân loại bao gồm vị trí, chức năng, vai trò, cơ cấu và trình độ phát triển kinh tế - xã hội. Đô thị đặc biệt có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của cả nước. Các tiêu chí này không chỉ giúp xác định loại đô thị mà còn phản ánh sự phát triển của từng khu vực. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc lập kế hoạch và quản lý đô thị, đảm bảo sự phát triển bền vững.

II. Các cấp đồ án quy hoạch đô thị cơ bản

Chương này trình bày các cấp đồ án quy hoạch đô thị cơ bản, bao gồm quy hoạch chung đô thị, quy hoạch phân khu và quy hoạch chi tiết. Quy hoạch chung đô thị là bước đầu tiên trong quá trình quy hoạch, xác định các mục tiêu và nhiệm vụ cơ bản. Nội dung quy hoạch chung bao gồm việc xây dựng các tiền đề phát triển đô thị, định hướng phát triển không gian và cơ cấu chức năng đất đai. Quy hoạch phân khu đô thị tập trung vào việc xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quy hoạch khu đất, phân tích và đánh giá về khu đất. Quy hoạch chi tiết đô thị là bước cuối cùng, đảm bảo rằng các yếu tố quy hoạch được thực hiện một cách đồng bộ và hiệu quả.

2.1. Quy hoạch chung đô thị

Quy hoạch chung đô thị là một trong những bước quan trọng trong quy trình quy hoạch đô thị. Nó không chỉ xác định các mục tiêu phát triển mà còn đưa ra các nhiệm vụ cụ thể để thực hiện. Nội dung quy hoạch chung bao gồm việc xây dựng các tiền đề phát triển đô thị, định hướng phát triển không gian và cơ cấu chức năng đất đai. Điều này giúp đảm bảo rằng quy hoạch đô thị được thực hiện một cách đồng bộ và hiệu quả, đáp ứng nhu cầu phát triển của cộng đồng.

2.2. Quy hoạch phân khu đô thị

Quy hoạch phân khu đô thị là bước tiếp theo trong quy trình quy hoạch, tập trung vào việc xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quy hoạch khu đất. Nội dung của quy hoạch phân khu bao gồm việc phân tích, đánh giá về khu đất và xác định nhiệm vụ quy hoạch. Điều này giúp đảm bảo rằng các yếu tố quy hoạch được thực hiện một cách đồng bộ và hiệu quả, đáp ứng nhu cầu phát triển của cộng đồng. Quy hoạch phân khu cũng đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý và phát triển đô thị bền vững.

III. Quy hoạch cải tạo đô thị

Quy hoạch cải tạo đô thị là một phần quan trọng trong quy trình quy hoạch đô thị, nhằm nâng cao chất lượng sống cho cư dân và phát triển bền vững. Mục đích của quy hoạch cải tạo đô thị không chỉ là cải thiện cơ sở hạ tầng mà còn là bảo tồn các giá trị văn hóa và lịch sử của đô thị. Nội dung quy hoạch cải tạo đô thị bao gồm việc xác định các khu chức năng cần cải tạo, phân đợt trong quy hoạch và cải tạo theo quy hoạch phát triển đô thị. Điều này giúp đảm bảo rằng các khu vực đô thị được cải tạo một cách hợp lý và hiệu quả.

3.1. Mục đích và ý nghĩa

Mục đích của quy hoạch cải tạo đô thị là nâng cao chất lượng sống cho cư dân, bảo tồn các giá trị văn hóa và lịch sử của đô thị. Quy hoạch cải tạo đô thị không chỉ tập trung vào việc cải thiện cơ sở hạ tầng mà còn đảm bảo rằng các giá trị văn hóa và lịch sử được bảo tồn. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển bền vững và tạo ra một môi trường sống tốt hơn cho cư dân.

3.2. Nội dung của quy hoạch cải tạo đô thị

Nội dung quy hoạch cải tạo đô thị bao gồm việc xác định các khu chức năng cần cải tạo, phân đợt trong quy hoạch và cải tạo theo quy hoạch phát triển đô thị. Điều này giúp đảm bảo rằng các khu vực đô thị được cải tạo một cách hợp lý và hiệu quả, đáp ứng nhu cầu phát triển của cộng đồng. Quy hoạch cải tạo đô thị cũng đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý và phát triển đô thị bền vững.

21/02/2025
Giáo trình quy hoạch đô thị

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. KHÁI NIỆM VỀ ĐÔ THỊ VÀ QUY HOẠCH ĐÔ THỊ 1. Khái niệm về đô thị và công tác quy hoạch 1. Đô thị và điểm dân cư đô thị Điểm dân cư đô thị Đô thị và khái niệm đô thị đã xuất hiện từ trong lịch sử xa xưa, có lẽ từ khi bắt đầu hình thành nếp sinh hoạt, khác biệt với nếp sinh hoạt đồng quê (urban life-rural life), xã hội thuần nông nghiệp.(Hán – Việt) “Đô” (都): Trung tâm, thủ phủ, mang tính cố định về địa điểm;“Thị” (市) :Chợ, nơi giao thương, buôn bán, trao đổi hàng hóa,.

Điểm dân cư đô thị là điểm dân cư tập trung phần lớn những người dân phi nông nghiệp, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một vùng lãnh thổ, có cơ sở hạ tầng thích hợp. Mỗi điểm dân cư đô thị là trung tâm tổng hợp hay trung tâm chuyên ngành của một vùng lãnh thổ nào đó, có thể là trung tâm của một quốc gia. Điểm dân cư đô thị là nơi tập trung hành chính của địa phương và là nơi tập trung giao lưu các bộ phận của sản xuất như đầu mối giao thông, đầu mối buôn bán, sản xuất công nghiệp tập trung… Thực thể đô thị và khái niệm đô thị đã xuất hiện từ trong lịch sử xa xưa, có lẽ từ khi bắt đầu hình thành nếp sinh hoạt, khác biệt với nếp sinh hoạt đồng quê (urban life- rural life). Loài người đã từng biết các thị quốc, các đô thị cổ đại như Troy, Roma, Constantinople (Istanbul ngày nay)…Những đô thị chỉ xuất hiện sau một quá trình chuyển động tiền đô thị với những điều kiện như sự định cư, sự xuất hiện kỹ thuật tiến bộ, công nghiệp phát triển đáng kể và việc tăng dân số.

Dần dần, trạng thái định cư biến đổi về chất, từ cộng đồng tập trung ở địa phương, cô lập, tự cung tự cấp và với nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp trở thành một hình thái tập trung dân cư mang sắc thái khác hẳn, đó là sắc thái của đô thị. Đô thị ra đời khi hình thức sản xuất không phải nông nghiệp, tách khỏi nông nghiệp, không còn nằm trong khung cảnh nông thôn. Theo Terry Mc. Gee, một chuyên gia người Canada về đô thị học và thành phố hiện đại, thì: Thành phố là nơi tích lũy của cải và truyền thống, và là nguồn phát triển chính những khuôn mẫu văn hóa - là trung tâm của văn minh.

Đô thị là trung tâm thần kinh của quốc gia và là đối tượng tấn công chính của kẻ xâm lược. Trong The America Encyclopeadia (Bách khoa toàn thư Hoa Kỳ), đô thị được trình bày với một quan niệm như sau: “… thành phố (city) chỉ là một tập hợp dân cư có một quy mô đáng kể, ở đó điều kiện sống được xem là theo kiểu đô thị, trái ngược với đời sông nông thôn ở miền thôn dã. Theo nghĩa đó, thành phố là một hiện tượng chung của xã hội văn minh”. Như vậy thành phố phải là nơi có điều kiện tốt nhất để tổ chức xây dựng một xã hội văn minh, cũng có nghĩa nó phải là đầu tàu của sự phát triển của vùng, của quốc gia và thậm chí của khu vực.

Điều này cũng được trình bày trong Encyclopaedia of the Social Sciences như sau:“Trong tất cả các thời đại và các khu vực, từ Ai Cập cổ đại đến nước Mỹ hiện đại, sự phát triển cao nhất của trí lực, sáng kiến và thành tựu là ở trong các cộng đồng đô thị. Chừng nào mà con người còn ở trong giai đoạn chăn nuôi và nông nghiệp thì vẫn còn có ít chất kích thích để phân chia chức năng kinh tế; toàn 8 bộ năng lực của con người bị thu hút vào công việc lo cung cấp lương thực, nhưng với thành phố thì có sự phân công lao động và những khả năng tạo ra thặng dư kinh tế. Điều này đã Đưa đến sự tiến bộ về của cải, thời gian rảnh rỗi, giáo dục trí óc và sự phát triển của nghệ thuật và khoa học”.Vậy “Đô thị là sản phẩm của văn minh nhân loại phát triển đến một trình độ nhất định, là hình thức quần cư phức tạp xuất hiện trong quá trình đô thị hóa, nó phản ánh một cách tổng hợp quá trình và trình độ phát triển của xã hội”.1: Cảnh quan một điểm dân cư đô thị điển hình miễn viễn tây nước Mỹ ở thế kỷ 19 – Nguồn: Tác phẩm Lucky Luke Điểm dân cư đô thị là điểm dân cư tập trung phần lớn những người dân phi nông nghiệp, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một vùng lãnh thổ, có cơ sở hạ tầng thích hợp.Mỗi điểm dân cư đô thị là trung tâm tổng hợp hay trung tâm chuyên ngành của một vùng lãnh thổ nào đó, có thể là trung tâm của một quốc gia. Điểm dân cư đô thị là nơi tập trung hành chính của địa phương và là nơi tập trung giao lưu các bộ phận của sản xuất như đầu mối giao thông, đầu mối buôn bán, sản xuất công nghiệp tập trung…Quy mô điểm dân cư đô thị được xác định dựa vào đặc điểm kinh tế của từng nước và tỉ lệ phần trăm dân cư nông nghiệp của một đô thị.

Định nghĩa đô thị Theo khoản 1 Điều 3 của Luật Quy hoạch Đô thị: “Đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hoá hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã; thị trấn.”; Theo Quy chuẩn xây dựng Việt Nam QCXDVN 01:2008: “Đô thị là điểm dân cư tập trung, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội của một vùng lãnh thổ, có cơ sở hạ tầng đô thị thích hợp và có quy mô dân số thành thị tối thiểu là 4.000 người (đối với miền núi tối thiểu là 2.800 người) với tỷ lệ lao động phi nông nghiệp tối thiểu 9 là 65%. Đô thị gồm các loại: thành phố, thị xã và thị trấn. Đô thị bao gồm các khu chức năng đô thị.” Thành phố được chia thành nội thành và vùng ngoại thành. Đối với thnh phố trực thuộc Trung ương, khu vực nội thành được chia thnh quận và quận được chia thành phường; khu vực ngoại thành được chia thành huyện và huyện được chia thành xã, thị trấn.

Ngoài ra, trong thành phố trực thuộc Trung ương còn có thị xã. Đối với thành phố trực thuộc tỉnh, nội thành được chia thành phường và vùng ngoại thành được chia thành xã. + Thị xã được chia thnh nội thị và vùng ngoại thị. Nội thị được chia thành phường và vùng ngoại thị được chia thnh xã.

+Thị trấn không có vùng ngoại thị trấn. Phân loại đô thị ở Việt Nam Theo Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, đô thị tại Việt Nam là những đô thị bao gồm thành phố trực thuộc Trung ương, thành phố trực thuộc tỉnh, thị xã, thị trấn và khu vực dự kiến hình thành đô thị trong tương lai được phân loại theo tiêu chí loại đô thị tương ứng. Do đó, các đô thị Việt Nam được chia thành 6 loại, dùng số La Mã để phân ra các đô thị đặc biệt, loại I và loại II phải do Thủ tướng Chính phủ ra quyết định công nhận; các kiểu đô thị loại III và IV do Bộ trưởng Bộ Xây dựng ra quyết định công nhận; và loại V do Chủ tịch Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh công nhận. Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội đưa ra 5 tiêu chí cơ bản để đánh giá phân loại đô thị gồm: Vị trí, chức năng, vai trò, cơ cấu và trình độ phát triển kinh tế – xã hội; Cơ cấu và trình độ phát triển kinh tế – xã hội; Quy mô dân số; Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp; Trình độ phát triển cơ sở hạ tầng và kiến trúc, cảnh quan đô thị.

Phân loại đô thị áp dụng cho một số đô thị có tính chất đặc thù: + Đô thị là trung tâm du lịch, khoa học và công nghệ, giáo dục, đào tạo thì tiêu chí quy mô dân số và mật độ dân số có thể thấp hơn nhưng tối thiểu đạt 70% mức quy định; các tiêu chí khác phải bảo đảm mức quy định của loại đô thị tương ứng. + Đô thị loại III, loại IV và loại V ở miền núi, vùng cao, có đường biên giới quốc gia thì tiêu chí quy mô dân số có thể thấp hơn nhưng tối thiểu đạt 50% mức quy định; các tiêu chí khác tối thiểu đạt 70% mức quy định của loại đô thị tương ứng. + Đô thị ở hải đảo thì tiêu chí trình độ phát triển cơ sở hạ tầng và kiến trúc cảnh quan đô thị tối thiểu đạt 50% mức quy định; các tiêu chí về quy mô dân số, mật độ dân số, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp và tiêu chuẩn về kinh tế - xã hội tối thiểu đạt 30% mức quy định của loại đô thị tương ứng. Đô thị loại đặc biệt Vị trí, chức năng, vai trò, cơ cấu và trình độ phát triển kinh tế - xã hội: + Vị trí, chức năng, vai trò là Thủ đô hoặc trung tâm tổng hợp cấp quốc gia, quốc tế về kinh tế, tài chính, văn hóa, giáo dục, đào tạo, du lịch, y tế, khoa học và công nghệ, đầu mối giao thông, giao lưu trong nước và quốc tế, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước; 10 + Cơ cấu và trình độ phát triển kinh tế - xã hội đạt các tiêu chuẩn quy định tại Phụ lục 1 ban hành kèm theo Nghị quyết số 1210/2016/UBTVQH13.

Quy mô dân số toàn đô thị đạt từ 5.000 người trở lên; khu vực nội thành đạt từ 3.000 người trở lên. Mật độ dân số toàn đô thị đạt từ 3.000 người/km2 trở lên; khu vực nội thành tính trên diện tích đất xây dựng đô thị đạt từ 12.000 người/km2 trở lên. Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp toàn đô thị đạt từ 70% trở lên; khu vực nội thành đạt từ 90% trở lên. Trình độ phát triển cơ sở hạ tầng và kiến trúc, cảnh quan đô thị đạt các tiêu chuẩn quy định tại Phụ lục 1 ban hành kèm theo Nghị quyết số 1210/2016/UBTVQH13.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Giáo Trình Quy Hoạch Đô Thị: Hướng Dẫn Toàn Diện Cho Người Học là một tài liệu quý giá dành cho những ai muốn tìm hiểu sâu về quy hoạch đô thị. Tài liệu này không chỉ cung cấp kiến thức cơ bản về quy hoạch mà còn hướng dẫn chi tiết các phương pháp và kỹ thuật cần thiết để thực hiện quy hoạch hiệu quả. Độc giả sẽ được trang bị những hiểu biết về các yếu tố ảnh hưởng đến quy hoạch đô thị, từ đó có thể áp dụng vào thực tiễn để phát triển các khu vực đô thị bền vững.

Ngoài ra, tài liệu còn mở ra cơ hội cho người đọc khám phá thêm các khía cạnh liên quan đến quản lý phát triển đô thị. Một ví dụ điển hình là Luận án tiến sĩ quản lý phát triển đô thị gắn với tăng trưởng xanh tại tỉnh Quảng Ninh, nơi cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự kết hợp giữa phát triển đô thị và bảo vệ môi trường. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và nâng cao khả năng áp dụng trong lĩnh vực quy hoạch đô thị.