CHƯƠNG 1. KHÁI NIỆM VỀ ĐÔ THỊ VÀ QUY HOẠCH ĐÔ THỊ 1. Khái niệm về đô thị và công tác quy hoạch 1. Đô thị và điểm dân cư đô thị Điểm dân cư đô thị Đô thị và khái niệm đô thị đã xuất hiện từ trong lịch sử xa xưa, có lẽ từ khi bắt đầu hình thành nếp sinh hoạt, khác biệt với nếp sinh hoạt đồng quê (urban life-rural life), xã hội thuần nông nghiệp.(Hán – Việt) “Đô” (都): Trung tâm, thủ phủ, mang tính cố định về địa điểm;“Thị” (市) :Chợ, nơi giao thương, buôn bán, trao đổi hàng hóa,.
Điểm dân cư đô thị là điểm dân cư tập trung phần lớn những người dân phi nông nghiệp, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một vùng lãnh thổ, có cơ sở hạ tầng thích hợp. Mỗi điểm dân cư đô thị là trung tâm tổng hợp hay trung tâm chuyên ngành của một vùng lãnh thổ nào đó, có thể là trung tâm của một quốc gia. Điểm dân cư đô thị là nơi tập trung hành chính của địa phương và là nơi tập trung giao lưu các bộ phận của sản xuất như đầu mối giao thông, đầu mối buôn bán, sản xuất công nghiệp tập trung… Thực thể đô thị và khái niệm đô thị đã xuất hiện từ trong lịch sử xa xưa, có lẽ từ khi bắt đầu hình thành nếp sinh hoạt, khác biệt với nếp sinh hoạt đồng quê (urban life- rural life). Loài người đã từng biết các thị quốc, các đô thị cổ đại như Troy, Roma, Constantinople (Istanbul ngày nay)…Những đô thị chỉ xuất hiện sau một quá trình chuyển động tiền đô thị với những điều kiện như sự định cư, sự xuất hiện kỹ thuật tiến bộ, công nghiệp phát triển đáng kể và việc tăng dân số.
Dần dần, trạng thái định cư biến đổi về chất, từ cộng đồng tập trung ở địa phương, cô lập, tự cung tự cấp và với nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp trở thành một hình thái tập trung dân cư mang sắc thái khác hẳn, đó là sắc thái của đô thị. Đô thị ra đời khi hình thức sản xuất không phải nông nghiệp, tách khỏi nông nghiệp, không còn nằm trong khung cảnh nông thôn. Theo Terry Mc. Gee, một chuyên gia người Canada về đô thị học và thành phố hiện đại, thì: Thành phố là nơi tích lũy của cải và truyền thống, và là nguồn phát triển chính những khuôn mẫu văn hóa - là trung tâm của văn minh.
Đô thị là trung tâm thần kinh của quốc gia và là đối tượng tấn công chính của kẻ xâm lược. Trong The America Encyclopeadia (Bách khoa toàn thư Hoa Kỳ), đô thị được trình bày với một quan niệm như sau: “… thành phố (city) chỉ là một tập hợp dân cư có một quy mô đáng kể, ở đó điều kiện sống được xem là theo kiểu đô thị, trái ngược với đời sông nông thôn ở miền thôn dã. Theo nghĩa đó, thành phố là một hiện tượng chung của xã hội văn minh”. Như vậy thành phố phải là nơi có điều kiện tốt nhất để tổ chức xây dựng một xã hội văn minh, cũng có nghĩa nó phải là đầu tàu của sự phát triển của vùng, của quốc gia và thậm chí của khu vực.
Điều này cũng được trình bày trong Encyclopaedia of the Social Sciences như sau:“Trong tất cả các thời đại và các khu vực, từ Ai Cập cổ đại đến nước Mỹ hiện đại, sự phát triển cao nhất của trí lực, sáng kiến và thành tựu là ở trong các cộng đồng đô thị. Chừng nào mà con người còn ở trong giai đoạn chăn nuôi và nông nghiệp thì vẫn còn có ít chất kích thích để phân chia chức năng kinh tế; toàn 8 bộ năng lực của con người bị thu hút vào công việc lo cung cấp lương thực, nhưng với thành phố thì có sự phân công lao động và những khả năng tạo ra thặng dư kinh tế. Điều này đã Đưa đến sự tiến bộ về của cải, thời gian rảnh rỗi, giáo dục trí óc và sự phát triển của nghệ thuật và khoa học”.Vậy “Đô thị là sản phẩm của văn minh nhân loại phát triển đến một trình độ nhất định, là hình thức quần cư phức tạp xuất hiện trong quá trình đô thị hóa, nó phản ánh một cách tổng hợp quá trình và trình độ phát triển của xã hội”.1: Cảnh quan một điểm dân cư đô thị điển hình miễn viễn tây nước Mỹ ở thế kỷ 19 – Nguồn: Tác phẩm Lucky Luke Điểm dân cư đô thị là điểm dân cư tập trung phần lớn những người dân phi nông nghiệp, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một vùng lãnh thổ, có cơ sở hạ tầng thích hợp.Mỗi điểm dân cư đô thị là trung tâm tổng hợp hay trung tâm chuyên ngành của một vùng lãnh thổ nào đó, có thể là trung tâm của một quốc gia. Điểm dân cư đô thị là nơi tập trung hành chính của địa phương và là nơi tập trung giao lưu các bộ phận của sản xuất như đầu mối giao thông, đầu mối buôn bán, sản xuất công nghiệp tập trung…Quy mô điểm dân cư đô thị được xác định dựa vào đặc điểm kinh tế của từng nước và tỉ lệ phần trăm dân cư nông nghiệp của một đô thị.
Định nghĩa đô thị Theo khoản 1 Điều 3 của Luật Quy hoạch Đô thị: “Đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hoá hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã; thị trấn.”; Theo Quy chuẩn xây dựng Việt Nam QCXDVN 01:2008: “Đô thị là điểm dân cư tập trung, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội của một vùng lãnh thổ, có cơ sở hạ tầng đô thị thích hợp và có quy mô dân số thành thị tối thiểu là 4.000 người (đối với miền núi tối thiểu là 2.800 người) với tỷ lệ lao động phi nông nghiệp tối thiểu 9 là 65%. Đô thị gồm các loại: thành phố, thị xã và thị trấn. Đô thị bao gồm các khu chức năng đô thị.” Thành phố được chia thành nội thành và vùng ngoại thành. Đối với thnh phố trực thuộc Trung ương, khu vực nội thành được chia thnh quận và quận được chia thành phường; khu vực ngoại thành được chia thành huyện và huyện được chia thành xã, thị trấn.
Ngoài ra, trong thành phố trực thuộc Trung ương còn có thị xã. Đối với thành phố trực thuộc tỉnh, nội thành được chia thành phường và vùng ngoại thành được chia thành xã. + Thị xã được chia thnh nội thị và vùng ngoại thị. Nội thị được chia thành phường và vùng ngoại thị được chia thnh xã.
+Thị trấn không có vùng ngoại thị trấn. Phân loại đô thị ở Việt Nam Theo Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, đô thị tại Việt Nam là những đô thị bao gồm thành phố trực thuộc Trung ương, thành phố trực thuộc tỉnh, thị xã, thị trấn và khu vực dự kiến hình thành đô thị trong tương lai được phân loại theo tiêu chí loại đô thị tương ứng. Do đó, các đô thị Việt Nam được chia thành 6 loại, dùng số La Mã để phân ra các đô thị đặc biệt, loại I và loại II phải do Thủ tướng Chính phủ ra quyết định công nhận; các kiểu đô thị loại III và IV do Bộ trưởng Bộ Xây dựng ra quyết định công nhận; và loại V do Chủ tịch Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh công nhận. Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội đưa ra 5 tiêu chí cơ bản để đánh giá phân loại đô thị gồm: Vị trí, chức năng, vai trò, cơ cấu và trình độ phát triển kinh tế – xã hội; Cơ cấu và trình độ phát triển kinh tế – xã hội; Quy mô dân số; Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp; Trình độ phát triển cơ sở hạ tầng và kiến trúc, cảnh quan đô thị.
Phân loại đô thị áp dụng cho một số đô thị có tính chất đặc thù: + Đô thị là trung tâm du lịch, khoa học và công nghệ, giáo dục, đào tạo thì tiêu chí quy mô dân số và mật độ dân số có thể thấp hơn nhưng tối thiểu đạt 70% mức quy định; các tiêu chí khác phải bảo đảm mức quy định của loại đô thị tương ứng. + Đô thị loại III, loại IV và loại V ở miền núi, vùng cao, có đường biên giới quốc gia thì tiêu chí quy mô dân số có thể thấp hơn nhưng tối thiểu đạt 50% mức quy định; các tiêu chí khác tối thiểu đạt 70% mức quy định của loại đô thị tương ứng. + Đô thị ở hải đảo thì tiêu chí trình độ phát triển cơ sở hạ tầng và kiến trúc cảnh quan đô thị tối thiểu đạt 50% mức quy định; các tiêu chí về quy mô dân số, mật độ dân số, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp và tiêu chuẩn về kinh tế - xã hội tối thiểu đạt 30% mức quy định của loại đô thị tương ứng. Đô thị loại đặc biệt Vị trí, chức năng, vai trò, cơ cấu và trình độ phát triển kinh tế - xã hội: + Vị trí, chức năng, vai trò là Thủ đô hoặc trung tâm tổng hợp cấp quốc gia, quốc tế về kinh tế, tài chính, văn hóa, giáo dục, đào tạo, du lịch, y tế, khoa học và công nghệ, đầu mối giao thông, giao lưu trong nước và quốc tế, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước; 10 + Cơ cấu và trình độ phát triển kinh tế - xã hội đạt các tiêu chuẩn quy định tại Phụ lục 1 ban hành kèm theo Nghị quyết số 1210/2016/UBTVQH13.
Quy mô dân số toàn đô thị đạt từ 5.000 người trở lên; khu vực nội thành đạt từ 3.000 người trở lên. Mật độ dân số toàn đô thị đạt từ 3.000 người/km2 trở lên; khu vực nội thành tính trên diện tích đất xây dựng đô thị đạt từ 12.000 người/km2 trở lên. Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp toàn đô thị đạt từ 70% trở lên; khu vực nội thành đạt từ 90% trở lên. Trình độ phát triển cơ sở hạ tầng và kiến trúc, cảnh quan đô thị đạt các tiêu chuẩn quy định tại Phụ lục 1 ban hành kèm theo Nghị quyết số 1210/2016/UBTVQH13.